Đặc điểm ngữ nghĩa của những từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin của người Việt (So sánh với người Anh - Pdf 26


ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA
CỦA NHỮNG TỪ NGỮ BIỂU THỊ PHONG TỤC
CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI VIỆT
(SO SÁNH VỚI NGƯỜI ANH) LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI – 2010

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài 3
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3. Phương pháp nghiên cứu 4
4. Ý nghĩa 6
NỘI DUNG
Chương 1: Một số vấn đề lí luận cơ bản về đặc trưng văn hoá
– dân tộc của ngôn ngữ
1.1. Khái niệm văn hoá và ngôn ngữ 8
1.2. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy 9
1.3. Sự phản ánh đặc trưng văn hoá – dân tộc trong ngôn ngữ 12
1.3.1. Đặc trưng văn hoá-dân tộc trong ý nghĩa của từ 12
1.3.2. Đặc trưng văn hoá-dân tộc qua “bức tranh ngôn ngữ về thế giới” 13
1.3.3. Đặc trưng văn hoá-dân tộc qua định danh ngôn ngữ 16
1.3.4. Đặc trưng văn hoá-dân tộc trong cách biểu trưng 19
1.4. Tiểu kết 20
Chương 2: Đặc điểm định danh các hiện tượng thuộc phong tục
cưới xin của người Việt (trong sự so sánh với người Anh)
2.1. Định nghĩa về phong tục 21
2.2. Lịch sử hôn lễ của người Việt 21
2.3. Đặc điểm định danh của nhóm từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin 24
2.3.1. Đặc điểm định danh xét từ góc độ nguồn gốc 24

2.3.2. Đặc điểm định danh xét từ góc độ cách thức biểu thị 33

lĩnh hội được hết những kiến thức ngôn ngữ, một phần nữa là do sự thiếu hiểu
biết về "phông" văn hoá xã hội của hành vi giao tiếp. Chính vì vậy, hiện nay,
trong lĩnh vực tâm lí ngôn ngữ học và lí thuyết giao tiếp, vấn đề đặc trưng văn
hoá dân tộc của tư duy và giao tiếp ngôn ngữ ngày càng được nhiều người
quan tâm nghiên cứu.
Tuy nhiên, những vấn đề này ở Việt Nam còn khá mới mẻ và lần đầu
tiên được bàn đến tại Hội thảo “Việt Nam - những vấn đề ngôn ngữ và văn
hoá” được tổ chức vào năm 1992 tại Hà Nội. Phần lớn các báo cáo của Hội
thảo này đã tập trung nghiên cứu về mặt lí luận. Có thể kể tên một số tác giả
tiêu biểu như: Trần Ngọc Thêm, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Trịnh
Thị Kim Ngọc, Ngoài ra, còn có một số tác giả khảo sát chuyên sâu về mối
quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá như Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn Quang,
Vấn đề đặc trưng văn hoá dân tộc của tư duy và giao tiếp ngôn ngữ là
một lĩnh vực tuy còn khá mới nhưng có rất nhiều bổ ích và thiết thực nên
chúng tôi đã chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nói tới đặc trưng văn hoá - dân tộc, chúng ta không thể không nhắc tới
các thành tố văn hoá mà qua đó sắc thái đặc trưng dân tộc được thể hiện rõ nét
như phong tục, truyền thống, nghi lễ, nghệ thuật
Phong tục cưới xin là một hiện tượng khá lí thú. Trong phong tục cưới
xin tồn tại nhiều hành vi thực tế mà chưa được định danh, chưa được ngôn từ
hoá. Ví dụ như: tục giã cối đón dâu của người Việt. Khi đám rước dâu về tới
đầu ngõ, một người lấy chày giã vào cối đá, đôi khi giã mạnh đến vỡ cả cối.

4
Chày cối, theo quan niệm dân gian, là hình giống của nam và nữ. Giã cối có ý
nghĩa tượng trưng cho hành vi giao phối và là tượng trưng cho sự sinh sôi nảy
nở. Hay như tục mẹ chú rể cầm chiếc bình vôi lánh mặt trước khi cô dâu bước
vào nhà. Có quan niệm cho rằng bình vôi tượng trưng cho của cải trong nhà.
Nhưng có quan niệm cho rằng bình vôi là vật tượng trưng cho bà chúa trong

ưu điểm là có thể phát hiện ra được những mặt căn bản của ý nghĩa của từ và
có thể sử dụng một cách hiệu quả để nghiên cứu hệ thống ngữ nghĩa của ngôn
ngữ, giải quyết những vấn đề của ngữ nghĩa từ vựng như vấn đề đa nghĩa,
đồng nghĩa; và sự phân tích thành tố nghĩa có thể được sử dụng vào phân tích
đối chiếu một loạt ngôn ngữ. Điều này giúp cho không những vạch ra được
tính bất đẳng cấu ngữ nghĩa giữa các ngôn ngữ khác nhau, mà còn cho phép
thâm nhập sâu hơn vào những quy luật ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ để từ đó
có thể nhận ra những đặc trưng văn hoá dân tộc của một trường từ vựng - ngữ
nghĩa cụ thể.
Bên cạnh phương pháp phân tích thành tố vừa nêu ở trên, một phương
pháp nữa thường được sử dụng trong nghiên cứu ngôn ngữ học đó là phương
pháp thống kê. Chúng ta biết rằng, các hiện tượng ngôn ngữ không chỉ có
những đặc trưng về chất mà còn có cả đặc trưng về lượng. Do đó, những đánh
giá về lượng đã nhiều lần được sử dụng khi nghiên cứu các hiện tượng ngôn
ngữ khác nhau. Trong nhiều trường hợp, những sự khác biệt về chất của các
cấu trúc ngôn ngữ chỉ có thể giải thích bằng những sự khác biệt về lượng.
Thêm vào đó “cần áp dụng thường xuyên hơn tư duy toán học, định lượng
trong ngôn ngữ học và bằng cách đó, sẽ ngày càng làm xích gần hơn ngôn
ngữ học với các khoa học chính xác”- I.A.Boduen de Curtenê (dẫn theo [59,
90]).
Phương pháp thứ ba mà chúng tôi áp dụng trong luận văn này là
phương pháp đối chiếu. Phương pháp này nhằm làm sáng tỏ những nét tương

6
đồng và khác biệt giữa các ngôn ngữ Việt và Anh để từ đó giúp cho việc dạy
và học ngoại ngữ tốt hơn.
4. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
Như đã nêu ở trên, phong tục cùng với truyền thống, nghi lễ, nghệ
thuật, là những thành tố văn hoá mang đậm nhất sắc thái đặc trưng dân tộc.
Có những phong tục chỉ có ở một dân tộc nhất định nào đó nhưng có những

niệm văn hoá và ngôn ngữ; mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy; sự
phản ánh đặc trưng văn hoá - dân tộc trong ngôn ngữ.
Chương 2: Đặc điểm định danh các hiện tượng thuộc phong tục
cưới xin của người Việt (trong sự so sánh với người Anh)
Chương này đề cập tới những vấn đề như: định nghĩa về phong tục; lịch
sử hôn lễ của người Việt; đặc điểm định danh của nhóm từ ngữ biểu thị phong
tục cưới xin.
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của trường từ vựng biểu thị
phong tục cưới xin của người Việt và người Anh.
Chương này được dành cho các vấn đề: cấu trúc ngữ nghĩa
của trường từ vựng biểu thị phong tục cưới xin; ý nghĩa biểu trưng
của các hiện tượng cưới xin trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao của người Việt.
8
NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ
ĐẶC TRƯNG VĂN HOA - DÂN TỘC CỦA NGÔN NGỮ
1.1. Khái niệm văn hoá và ngôn ngữ
Khi nghiên cứu về vấn đề đặc trưng văn hoá-dân tộc của tư duy và giao
tiếp ngôn ngữ, câu hỏi đầu tiên được đặt ra cho các nhà nghiên cứu đó là: văn
hoá là gì? nó có chức năng gì?

hoá luôn tồn tại và phát triển”.[39, 66]
“Văn hóa là một tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần được con
người tạo ra và được phát triển theo lịch sử, khác với các đối tượng của tự
nhiên”. (Từ điển bách khoa Xô Viết) (dẫn theo [59,16])
Qua một vài định nghĩa về văn hoá như đã nêu ở trên, có thể rút ra một
nhận xét về văn hoá như sau: văn hoá với tư cách là một hiện tượng xã hội -
bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần đã và đang được một cộng đồng
người tích luỹ. Văn hoá bao gồm những đặc trưng sau: tính hệ thống, tính giá
trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Trong đó tính lịch sử thể hiện truyền thống
văn hoá là những giá trị tương đối ổn định (kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới
những khuôn mẫu xã hội, được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người theo
không gian và thời gian và được cố định hoá dưới dạng ngôn ngữ, phong tục,
tập quán, nghi lễ
Còn về khái niệm “ngôn ngữ” cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau.
Nhưng quan niệm được nhiều nhà nghiên cứu đồng ý nhất là coi “ ngôn ngữ
là một hiện tượng xã hội ( không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là hiện
tượng xã hội đặc biệt) và ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp quan trọng
nhất, là công cụ của tư duy”.
1.2. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy

10
Giữa ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ chặt chẽ trong sự phát triển,
tác động qua lại lẫn nhau. Ngôn ngữ vừa là một bộ phận của nền văn hoá dân
tộc, vừa là thành tố cấu tạo nên văn hóa, đồng thời cũng là phương tiện lưu
giữ giá trị văn hoá một cách bền chắc và khá đầy đủ. Mặc dù chúng ta không
thể có được nội dung trọn vẹn của một nền văn hoá nhờ ngôn ngữ, vì không
phải lúc nào ngôn ngữ cũng truyền tải một cách đầy đủ nền văn hoá mà nó
đang hành chức nhưng ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ khăng khít, cùng
hình thành từ hoạt động giao tiếp, gắn liền với hoạt động nhận thức của con
người. Và nếu như ngôn ngữ là hình thức, là công cụ của hoạt động giao tiếp

thể tìm thấy ở đâu? Có thể thấy rằng không tìm ở đâu dễ dàng, nhanh chóng
và thực tế hơn là nghiên cứu và khảo sát ngôn ngữ của nền văn hoá đó. Vì
ngôn ngữ là phương tiện phản ánh tư duy con người. Chẳng hạn, khi so sánh
đại từ nhân xưng giữa tiếng Anh và tiếng Việt, chúng ta thấy có sự khác biệt
rất lớn.
Ví dụ:
Tiếng Việt Tiếng Anh
Ngôi thứ nhất:
+ Tôi, tớ, tao, mình, người ta, + I
+ Chúng / bọn tôi, chúng / bọn tớ, + We
chúng / bọn tao,
Ngôi thứ hai:
+ Mày, ấy, cậu, bạn, + You
Chúng/bọn mày, bọn ấy, bọn cậu, + You
Ngôi thứ ba:
+ Nó, hắn, y, thị, anh ấy, cô ấy + He, she
+ Chúng/bọn nó, họ, bọn họ, + They
Có thể thấy rằng để biểu thị ngôi thứ nhất, số ít, trong tiếng Anh chỉ sử
dụng một đại từ hoàn toàn trung tính về sắc thái biểu cảm – “I”; nhưng trong

12
tiếng Việt, ngoài yếu tố trung tính tương đương- “tôi”, người Việt còn sử
dụng một loạt các yếu tố hàm chỉ thái độ, tình cảm tích cực- “tớ, mình” hay
tiêu cực – “tao”. Đối với các đại từ thuộc ngôi thứ nhất, số nhiều, ngôi thứ hai
và ngôi thứ ba, trường hợp cũng tương tự. Điều này chứng tỏ người Anh thể
hiện tính khách quan trong xưng hô còn người Việt biểu hiện tính chủ quan.
Bênfu cạnh đó, người Việt thường dùng danh từ thân tộc để xưng hô như
anh, chị, em, ông, bà, bác, chú, cô, dì, cháu, Như vậy có thể nhận thấy từ
xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú. Qua cách xưng hô có thể nhận thấy
tư duy của người Việt rất coi trọng tôn ti trật tự, có trên có dưới. Trong khi đó

Dùng cây tre để biểu thị sự cứng cỏi, kiên cường, Còn đối với người Nga,
cây sồi là biểu trưng của sức mạnh, cây bạch dương thể hiện cho sự trong
sạch, thanh thoát, cây liễu được dùng để biểu thị cho sự mảnh dẻ, yếu đuối,
cây dương xỉ biểu trưng cho sự chết chóc
Từ đó chúng ta có thể đi tới một kết luận: việc nghiên cứu phương diện
ngữ nghĩa của một ngôn ngữ cho phép tìm hiểu được nét độc đáo về văn hoá-
dân tộc của chủ thể ngôn ngữ ấy.
1.3.2. Đặc trưng văn hoá - dân tộc qua “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”
Khi nghiên cứu về đặc trưng văn hoá - dân tộc, một vấn đề mà các nhà
nghiên cứu thường đề cập tới đó là “bức tranh thế giới”. Trong triết học và
ngôn ngữ học hiện nay, hiện tượng “bức tranh thế giới” được hiểu theo những
cách khác nhau. Đó là “bức tranh ý niệm về thế giới ” hoặc “bức tranh ngôn
ngữ về thế giới”. Thậm chí nhiều học giả còn đối lập hai loại bức tranh này.
Chúng ta biết rằng con người nhận thức các sự vật, hiện tượng trong thế
giới khách quan rồi phản ánh vào trong trí óc của mình. Khi được phản ánh
vào trong trí óc, các sự vật, hiện tượng này trở thành thế giới tinh thần - thế
giới của các hình ảnh, biểu tượng, khái niệm và bức tranh thế giới tinh thần đó
được biểu đạt trong ngôn ngữ thông qua ý nghĩa của các từ ngữ.

14
Như vậy, muốn nghiên cứu “bức tranh ý niệm về thế giới” trong ý thức
của con người cần phải khảo sát “bức tranh ngôn ngữ về thế giới” và khi làm
công việc đó chúng ta sẽ nhận thấy là giữa các ngôn ngữ không có sự trùng
khít với nhau. “Bức tranh ngôn ngữ về thế giới” không trùng nhau ở các dân
tộc, có nghĩa là mỗi dân tộc có “bức tranh” riêng về thế giới. Quan niệm của
từng dân tộc về thế giới xung quanh được khúc xạ độc đáo trong các bức
tranh dân tộc đó. Theo P.V.Sécba “ khi so sánh ngôn ngữ này với ngôn ngữ
khác, chúng ta thấy rõ ràng tính võ đoán của bức tranh về thế giới bên ngoài
được phản ánh trong ngôn ngữ”(dẫn theo [59,31]). Để chứng minh cho điều
này, chúng ta thử lấy một vài ví dụ: trong tiếng Anh, để chỉ bàn tay và cánh

khác. Song sự miêu tả ngữ nghĩa của chúng chỉ có thể được tiến hành với điều
kiện chi tiết hoá sơ bộ sơ đồ khái niệm làm cơ sở cho khung (dẫn theo
[25,189]).
Như vậy, với cách đặt mình vào các vị trí (các vai) trong bối cảnh giao
tiếp, chúng ta sẽ có những cấu trúc khung cần thiết. Vận dụng vào phạm vi
hôn nhân, có thể nhận thấy các loại vai và các chu tố sau đây:
 Thành phần tham gia/ Con người và quan hệ:
+ Tiếng Việt: cô dâu (dâu), chú rể (rể), phù dâu, phù rể, nhà gái, nhà trai, vợ,
chồng, bố mẹ vợ (ông bà nhạc, ông gia, bà gia), bố mẹ chồng, thông gia, vợ
cả, vợ hai, vợ lẽ, hậu, phi, thê thiếp, nàng hầu, mối lái (bà mối, ông mai), ông
tơ, bà nguyệt (Nguyệt lão), chủ hôn, quan viên
+ Tiếng Anh: bride, bridegroom, bridesmaid, maid of honour, best man, wife,
husband, concubine, fiancé, fiancée, match maker, mother-in-law, father-in-
law, in-laws, consort, spouse, old man, matron of honour, ….
 Lễ vật/ Sính lễ:
+ Tiếng Việt: trầu, cau, chè, rượu, xôi, lợn, gà, bánh cốm, bánh đậu xanh,
bánh phu thê (su sê), thiếp mời, hương, mâm/ quả/ tráp, đèn cầy/ nến, nhẫn,

16
vòng, dây chuyền, kiềng, hoa tai/ bông tai, xuyến, và một số lễ vật khác tuỳ
thuộc vào từng vùng miền.
+ Tiếng Anh: champagne, dowry, engagement ring, wedding cake, wedding
ring, wedding present, wedding invitation,…
 Nghi lễ/ Nghi thức:
+ Tiếng Việt: nạp thái, vấn danh, nạp cát, thỉnh kỳ, nạp tệ, thân nghinh, hôn
lễ, chạm mặt/ngõ, dạm hỏi, ăn hỏi, thách cưới, dẫn cưới, sêu, lễ tơ hồng, xin
dâu, đưa dâu, đón dâu, lễ gia tiên, đóng cửa(cổng), chăng dây, cheo, tân hôn,
thành hôn, vu quy, lễ rót rượu, trao nhẫn, cỗ cưới, lễ hợp cẩn, lễ động phòng,
lại mặt/ tứ hỷ/ nhị hỷ, lại quả, gửi rể, giá thú, tục huyền, tục hôn, song hỉ,
+ Tiếng Anh: banns, betroth, betrothal, propose, proposal, engage, affiance,

trình gọi tên tất yếu gắn với hành vi phân loại. Nếu như cần phải biểu thị một
đối tượng X nào đó mà trong ngôn ngữ chưa có tên gọi, thì trên cơ sở các đặc
trưng đã được tách ra trong đối tượng này, nó được quy vào khái niệm “A”
hoặc “B” mà trong ngôn ngữ đã có cách biểu thị riêng cho chúng và nhận tên
gọi tương ứng. Nhưng đồng thời cũng diễn ra sự “lắp ráp” bản thân các từ vào
hiện thực: khi thì người ta bỏ đi một cái gì đó khỏi sự hiểu biết ban đầu của
mình, khi thì, ngược lại, bổ sung thêm một cái gì đó vào sự hiểu biết đầu tiên
ấy” [59,35]. Ví dụ để gọi tên loài động vật sống dưới nước, thở bằng mang và
bơi bằng vây thì người Việt gọi là “cá” và tuỳ vào hình dáng hay màu sắc
người ta gọi tên cá vàng, cá hồng, cá bạc má, cá ngạnh, cá kiếm, cá kìm, cá
voi, cá chim trắng Hoặc để gọi tên loài cây cảnh cỡ nhỏ, thân có gai, lá kép
có răng, hoa màu hồng, có hương thơm, người ta gọi là “hoa” và chọn đặc
trưng màu sắc nổi bật nên có tên gọi là “hồng”. Khi đó loài cây này có tên gọi
là “hoa hồng”. Nhưng sau đó, người ta thấy màu sắc của loài cây ấy không chỉ
có màu hồng, nó có thể là màu đỏ, trắng, vàng, Như vậy tên gọi đã được bổ
sung thành: hoa hồng nhung, hoa hồng vàng, hoa hồng bạch, [59,35].

18
Đặc điểm định danh còn được thể hiện cả ở việc quy loại khái niệm của
đối tượng được định danh chứ không chỉ ở việc chọn đặc trưng nào để định
danh. Chẳng hạn, cùng một loại thức ăn làm bằng bột gạo nếp, viên tròn, có
nhân đường, thường làm vào ngày Tết Hàn Thực, người miền Bắc quy vào
loại “bánh” nên gọi là “bánh trôi nước”, còn người miền Nam quy vào loại
“chè” nên gọi là “chè trôi nước” (vì có nước nên gọi là chè).
Quan niệm thứ hai, tiêu biểu là B.A.Sereprennhicốp, lại cho rằng: “việc
tạo ra từ theo đặc trưng nào đó chỉ là biện pháp thuần tuý kĩ thuật ngôn ngữ.
Đặc trưng được chọn chỉ để tạo ra vỏ ngữ âm của từ. Đặc trưng được chọn để
gọi tên hoàn toàn không nói hết toàn bộ bản chất của đối tượng, không bộc lộ
hết tất cả các đặc trưng của nó. Ngoài ra, đặc trưng được chọn để gọi tên thậm
chí có thể là không cơ bản, không quan trọng về mặt thực tiễn” (dẫn theo

chẽ với sự phát triển của khả năng tư duy, khả năng sáng tạo của con người.
Như vậy, tính biểu trưng, ở những mức độ khác nhau, có liên quan đến các
hiện tượng trong đời sống xã hội, trong lịch sử và phong tục tập quán của con
người. Chẳng hạn, với người Việt Nam, màu trắng tượng trưng cho sự tang
tóc, màu vàng chỉ sự cao quý, tượng trưng cho sự bất tử. Nhưng đối với người
Pháp, màu tang tóc là màu đen, còn màu vàng tượng trưng cho bệnh tật. Hay
như, con cò trong thơ ca của người Việt là hình ảnh tượng trưng cho thân
phận người đàn bà chịu thương chịu khó (Cái cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo
đưa chồng tiếng khóc nỉ non; Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ
năm con với một chồng, Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước
buổi đò đông ), còn trong thơ ca của các dân tộc khác, con cò không được
dùng làm hình ảnh tượng trưng như vậy. Chính hình ảnh tượng trưng này làm
thành nghĩa biểu trưng của tên gọi sự vật, hiện tượng tương ứng.
Có thể nhận thấy giá trị biểu trưng được phản ánh không chỉ trong cấu
trúc ý nghĩa của các từ ngữ mà còn nằm trong các ý nghĩa ngoại vi của cấu
trúc nghĩa (đó là các hàm nghĩa) và ở mỗi dân tộc, nghĩa biểu trưng là khác

20
nhau. Tuy nhiên trong các định nghĩa từ điển không phải lúc nào nghĩa biểu
trưng cũng được phản ánh một cách đầy đủ bởi sự hiểu biết về biểu trưng là
một sự hiểu biết có tính chất văn hoá - văn học. Vì vậy, muốn hiểu được
nghĩa biểu trưng để từ đó nắm bắt được đặc trưng văn hoá-dân tộc, chúng ta
có thể dựa vào thành ngữ, tục ngữ, ca dao .
1.4. Tiểu kết
Qua phần trình bày ở trên, có thể nhận thấy rằng giữa văn hoá, ngôn
ngữ và tư duy có mối quan hệ vô cùng chặt chẽ. Chính vì vậy, muốn thấy
được văn hoá và tư duy của một dân tộc, người ta có thể tìm hiểu ngôn ngữ
của dân tộc đó. Nói cách khác, ngôn ngữ của một dân tộc thể hiện văn hoá và
tư duy của dân tộc ấy.
Trong ngôn ngữ, đặc trưng văn hóa – dân tộc được phản ánh rõ nét qua

Phong tục cùng với truyền thống, nghi lễ, nghệ thuật, thể hiện rõ nét
nhất những sắc thái đặc trưng cho từng dân tộc. Vì thế, phong tục cưới xin có
thể tồn tại ở tất cả các dân tộc trên thế giới. Nhưng không phải ở đâu chúng
cũng đều giống nhau. Điều này có thể thấy được qua những từ ngữ biểu thị
những hiện tượng thuộc phong tục cưới xin.
Qua việc khảo sát đặc điểm định danh của trường từ vựng biểu thị
phong tục cưới xin của người Việt trong sự so sánh với người Anh, chúng ta
sẽ hiểu được phần nào ý nghĩa những nét văn hoá đặc trưng của mỗi dân tộc
này.
2.2. Lịch sử hôn lễ của người Việt
Trước khi đi vào tìm hiểu đặc điểm định danh các hiện tượng thuộc
phong tục cưới xin của người Việt, chúng ta cần biết phong tục này có từ bao
giờ.

22
Hôn lễ là một từ Hán – Việt. Theo Từ điển yếu tố Hán – Việt thông
dụng của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản tại Hà Nội năm 1991, “lễ” có nghĩa là
những nghi thức được tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỉ niệm một sự kiện có
ý nghĩa nào đó; còn “hôn” có nghĩa là lấy vợ, lấy chồng. Hiện nay, có một
quan niệm nữa cho rằng: theo tục lệ xưa, người ta làm lễ cưới vào buổi chiều
tối (lúc mặt trời vừa mới tối – hôn). Buổi chiều tối là lúc dương qua âm lại,
âm dương giao hoán với nhau được thuần, cho nên tổ chức cưới vào giờ này
là thuận theo lẽ tuần hoàn của trời đất. Vì vậy, gọi là hôn lễ.
Rất nhiều tài liệu về dân tộc học và nghiên cứu phong tục dân gian đã
chứng minh được rằng hôn nhân và gia đình có lịch sử từ rất lâu đời nhưng
hôn lễ thì xuất hiện khá muộn. Những hình thức hôn nhân sớm nhất của loài
người đó là:
Tạp hôn (loạn hôn): đây là hình thức hôn nhân đầu tiên của con người
thời kỳ sơ khai. Ở giai đoạn này, những người trong cùng một quần thể có thể
tự do giao phối, không có một luật lệ, quy tắc nào.

Mục đích tổ chức hôn lễ của người xưa cũng khá tương đồng so với
ngày nay. Đó là thông báo cho mọi người biết hai người đã nên vợ nên chồng
tức là thuộc quyền sở hữu của nhau, và người khác phải tôn trọng, thừa nhận
quan hệ vợ chồng của họ; đồng thời cũng muốn bày tỏ sự khẳng định quyền
và nghĩa vụ của hai vợ chồng đối với gia đình.
Căn cứ vào đặc điểm nói trên, người ta ước đoán rằng hôn lễ ra đời vào
thời kỳ quá độ từ “chế độ mẫu hệ” sang “chế độ phụ hệ”. Và cùng với sự củng
cố bền vững của hình thức hôn nhân một vợ một chồng thì hôn lễ ngày càng
phức tạp hơn.
Trong thời kỳ chế độ mẫu hệ (con trai đến ở rể) thì hôn lễ thường được
tổ chức tại nhà gái. Khi chàng trai mới tới ở rể, để biểu lộ sự vui mừng và
chứng thực cho cuộc hôn nhân của hai người, nhà gái thường tổ chức một số

Trích đoạn Mô hình cấu trúc ngữ nghĩa 61 nghĩa biểu trưng của tên gọi các hiện tượng thuộc phong tục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status