BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ VUI
ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA
NHÓM TỪ CHỈ CÁC BỘ PHẬN CƠ THỂ
TRONG TIẾNG HÁN
(Có so sánh với tiếng Việt).
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 50408 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
PGS-TS. TRẦN TRÍ DÕI.
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS-TS. Trần Trí Dõi.
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Văn Khang.
Phản biện 2: TS. Nguyễn Hữu Đạt HÀ NỘI - NĂM 2002 4
MỤC LỤC
Mở đầu
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Giới thiệu đôi nét về tiếng Hán
1.1. Lịch sử phát triển của tiếng Hán
1.2. Đặc điểm cấu trúc tiếng Hán
1.3. Đặc điểm loại hình của tiếng Hán
2. Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ-văn hoá Hán-Việt và sự hình thành lớp
5
2.2. Phân loại theo cấu trúc thành tố các tên gọi
2.2.1. Cơ sở phân loại.
2.2.2. Kết quả phân loại.
2.3. Nhận xét về kết quả phân loại các bộ phận cơ thể người trong
tiếng Hán CHƢƠNG III: SO SÁNH CÁC TỪ CHỈ CÁC BỘ PHẬN CƠ THỂ TRONG
TIẾNG HÁN VỚI CÁC TỪ HÁN - VIỆT TƢƠNG ĐƢƠNG.
1. Khảo sát và miêu tả
1.1. Các đơn vị tương ứng nghĩa 1: 1
1.2. Các đơn vị không tương ứng nghĩa 1: 1
2. Một vài nhận xét
2.1. Về mặt cấu tạo từ.
2.2. Về mặt nội dung hay ý nghĩa của từ.
2.3. Về chức năng ngữ pháp.
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Trong luận văn chúng tôi thực hiện những chữ viết tắt như sau:
BPCTN : bộ phận cơ thể người.
kng : khẩu ngữ
tgthg : tên gọi thông thường
thgt : thông tục
slý : thuật ngữ sinh vật học, giải phẫu học
TH : từ điển tiếng Hán.
TV2000 : từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nxb
Đà Nẵng, 2000. 7 MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề:
đã trình bày trên trong đời sống tiếng Việt (tức là ở chính bản thân tiếng Hán - Việt
chẳng hạn) mà chưa có sự so sánh đối chiếu với tiếng Hán hiện nay ở Trung Quốc.
Sự thiếu vắng những nghiên cứu đối chiếu từ gốc Hán làm cho những người dạy và
học tiếng Hán hiện nay cũng như những người Trung Quốc học tiếng Việt gặp nhiều
khó khăn trong công việc của mình. Do vậy việc nghiên cứu có so sánh với tiếng
Hán rất quan trọng đối với chúng tôi, những người giảng dạy tiếng Trung Quốc. Đó
cũng chính là lí do quan trọng nhất để chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu này.
2. Mục đích nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
2.1. Mục đích của luận văn này là miêu tả trường tự vựng-ngữ nghĩa tên gọi các
bộ phận cơ thể người trong tiếng Hán để thấy được ý nghĩa, đặc trưng cấu tạo từ
phức của tiếng Hán. Trên cơ sở đối chiếu với những đơn vị Hán - Việt tương đương
trong tiếng Việt từ đó chỉ ra các đặc thù riêng của từng ngôn ngữ.
2.2. Để đạt được mục đích trên, luận văn cần phải lập được một danh sách các
đơn vị từ vựng chỉ các bộ phận cơ thể người trong tiếng Hán, sau đó miêu tả, đối
chiếu với những đơn vị Hán - Việt tương đương để chỉ ra sự khác biệt giữa chúng.
2.3. Đối tượng nghiên cứu ở đây là bình diện từ vựng - ngữ nghĩa của các đơn
vị từ vựng chỉ các bộ phận cơ thể người trong tiếng Hán hiện đại và trên cơ sở đối
chiếu với tiếng Hán - Việt.
Đây là một đề tài khá lớn, với phạm vi khá rộng cần phải đầu tư nhiều công
sức. Trong khi đó nhiệm vụ của chúng tôi chỉ là tầm của một luận văn thạc sĩ nên
khả năng của chúng tôi là rất hạn chế. Vì vậy, trong luận văn này chúng tôi chỉ tập 9
hợp, phân loại, miêu tả các đơn vị tự vựng chỉ các bộ phận cơ thể trong tiếng Hán
hiện đại rồi so sánh chúng với những từ Hán - Việt tương đương (nếu có). Ở đây,
chúng tôi cũng chỉ dừng lại ở việc miêu tả theo bình diện từ vựng ngữ nghĩa, chứ
không có điều kiện đi sâu phân tích qui luật phát triển nghĩa cũng như việc sử dụng
chúng trong giao tiếp hàng ngày. Mỗi đơn vị từ vựng Hán sẽ được miêu tả về đặc
điểm từ vựng - ngữ nghĩa và đối chiếu với từ Hán - Việt tương đương để thực hiện
Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Chương 2:
Trường tên gọi các bộ phận cơ thể người trong tiếng Hán: Thống kê - Phân
loại - Miêu tả.
Chương 3:
So sánh đối chiếu các đơn vị từ vựng chỉ các bộ phận cơ thể trong tiếng Hán
với những đơn vị Hán - Việt tương đương.
KẾT LUẬN.
TÀI LIỆU THAM KHẢO. * Những đơn vị Hán - Việt này sẽ được lập danh sách ở những chương sau. 11
Chƣơng I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Giới thiệu đôi nét về tiếng Hán.
1.1. Lịch sử phát triển của tiếng Hán.
Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn nhiều dân tộc trong đó dân tộc Hán chiếm
đại đa số (khoảng 92%). Ngôn ngữ mà người Hán ở các vùng khác nhau sử dụng
cũng khác nhau. Nhìn vào hình thức chúng ta hoàn toàn có thể lý giải rằng tiếng
Hán là của dân tộc Hán, song thực tế không chỉ đơn giản như vậy. Nói đến tiếng
Hán, người ta có thể nghĩ tới hình thức văn giáp cốt thời cổ đại, đó là thứ ngôn ngữ
sách vở của các nhà hiền triết cổ, còn có thể nói đến ngôn ngữ trong Đường thi,
thời Minh Thanh, ngôn ngữ viết vẫn là hình thức văn ngôn, ngôn ngữ nói là tiếng
Quan thoại (tiếng Bắc Kinh mang nhiều khẩu âm khác nhau). Cho đến đầu thế kỷ
XX, trước xu thế hoà nhập vào thế giới văn minh, nhiều người Trung Quốc thấy
được tầm quan trọng của việc dùng một ngôn ngữ thống nhất, đã coi tiếng quan
thoại là ngôn ngữ chuẩn để đưa vào dạy trong nhà trường và sử dụng phổ biến trong
các lĩnh vực hành chính quốc gia.
Việc xác lập một ngôn ngữ thống nhất của toàn dân tộc bao gồm hai phương
diện: xác lập một hình thức ngôn ngữ viết mới trên cơ sở hình thức văn ngôn truyền
thống, sáng tạo thêm những yếu tố hiện đại; thay thế hình thức khẩu ngữ chưa có
tính qui tắc là tiếng Quan thoại bằng một hình thức khẩu ngữ mới toàn dân cùng sử
dụng. Qua quá trình cải cách, đổi mới dẫn tới kết quả là văn bạch thoại đã được
công nhận là hình thức ngôn ngữ viết chính thức của Trung Quốc. Đến năm 1924
Uỷ ban trù bị thống nhất ngôn ngữ toàn Trung Quốc mới đưa ra quyết định coi ngữ
âm Bắc Kinh là ngữ âm chuẩn để thống nhất cách phát âm.
Tiếng Hán phổ thông hiện đại với tư cách là thứ ngôn ngữ chung của dân tộc
Hán được hình thành trong điều kiện lịch sử như vậy. 13
Tiếng Hán phổ thông hiện đại mà chúng ta nghiên cứu hiện nay chính là tiếng
phổ thông lấy ngữ âm Bắc Kinh làm ngữ âm chuẩn, lấy tiếng miền Bắc làm phương
ngữ gốc và lấy ngữ pháp của các tác phẩm kinh điển bằng văn bạch thoại làm ngữ
pháp chuẩn.
Về chữ viết, chữ Hán là loại chữ tượng hình, tức là dùng đường nét, hình vẽ để
mô tả sự vật, sự việc, hiện tượng mà các từ ngữ thể hiện. Về mặt cấu tạo một chữ
Hán bao giờ cũng có ba mặt là âm, hình và nghĩa. Âm đọc là yếu tố có trước. Hình
là hình thể, hình dáng cấu tạo của chữ Hán được tạo thành bởi những đường nét nhất
định nằm trong một ô vuông, nên chữ Hán cũng gọi là chữ vuông. Nghĩa của chữ
Hán là nội dung mà âm và hình thể hiện. Nghĩa có thể được thể hiện thông qua hình
dáng cấu tạo của chữ Hán hoặc qua âm đọc. Do vậy, nhìn vào mặt chữ người ta có
1. (Bây giờ chúng ta làm bài tập).
2. (Bây giờ chúng ta luyện tập viết
chữ Hán).
Từ " " trong câu 1 là danh từ, còn trong câu 2 là một động từ.
Việc phân định ranh giới giữa từ đơn với từ ghép và đặc biệt là từ ghép với từ
tổ rất khó khăn vì mỗi âm tiết đều có nghĩa. Có những tổ hợp vừa có đặc điểm của
từ ghép vừa có đặc điểm của từ tổ nên không biết qui chúng thành đơn vị từ ghép
hay từ tổ. Chẳng hạn như: tổ hợp " " dà yi (áo khoác ngoài) có thể coi là một
danh từ chỉ một loại áo khá dài mặc ở bên ngoài nhưng cũng có thể coi nó là từ tổ vì
tách riêng thì và đều là hai từ có nghĩa mà từ + từ = từ tổ.
c. Ý nghĩa ngữ pháp được biểu hiện bằng các phương tiện ngoài từ. Do đặc
điểm của tiếng Hán không có ý nghĩa ngữ pháp trong hình thức từ. Do vậy, muốn
biểu thị ý nghĩa ngữ pháp phải dùng các phương tiện ngoài từ như: trật tự từ, hư từ.
+ Phương thức dùng trật tự từ: Trật tự từ trong tiếng Hán rất chặt chẽ nó biểu
thị ý nghĩa ngữ pháp của từ, vì vậy, nói chung không được phép tuỳ tiện đảo lộn trật
tự từ.
Ví dụ: (Tôi là học sinh). Câu này gồm 3 từ .
Nếu sắp xếp theo thứ tự trên thì là chủ ngữ, là động từ vị ngữ và 15
là tân ngữ (trong tiếng Việt gọi là bổ ngữ). Nếu ta đảo trật tự các từ trong câu trên
thành: thì hoặc không có nghĩa,
hoặc nghĩa sẽ thay đổi vì lúc đó ý nghĩa ngữ pháp của các từ thay đổi.
+ Phương thức dùng hư từ: Bên cạnh phương pháp dùng trật tự từ, tiếng Hán
còn dùng hư từ để biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp như các liên từ, trợ từ, phó từ.v.v
Các hư từ khác nhau nối các từ tạo nên các cấu trúc cú pháp khác nhau. Ví dụ: trong
hai tổ hợp học sinh của tôi) và (tôi và
học sinh) hai thực từ và nếu nối bằng trợ từ
" " thì nó là một kết cấu chính phụ, còn nếu nối bằng liên từ thì nó lại trở
trên
dà ren : người lớn
Ngoài ra, một số khinh thanh trong một số tổ hợp còn có chức năng phân biệt
từ loại hay tính chất của tổ hợp. Ví dụ:
gàn shì : Làm việc, giải quyết công việc (đoản ngữ)
gàn shi : cán sự (danh từ)
Như vậy, tiếng Hán cũng như nhiều ngôn ngữ phân tiết tính khác đã sử dụng
thanh điệu như một yếu tố âm vị học. Các thanh điệu xuất hiện trong từng âm tiết và
mang lại tính phân biệt rõ rệt cho các vỏ từ.
e. Các yếu tố chắp dính.
Trong tiếng Hán, ở các trường hợp âm tiết khinh thanh xuất hiện ở cuối các từ,
có một số lượng không nhiều các âm tiết thường không có ý nghĩa từ vựng cụ thể
mà chỉ có giá trị cấu tạo từ như những phụ tố trong các ngôn ngữ thuộc loại hình
chắp dính gọi là từ vĩ ( ). Nghĩa của từ chủ yếu nằm ở âm tiết đầu (gọi là từ
căn), nơi xuất hiện một trong 4 thanh cơ bản.
VD: " " zi trong " " zhuozi : cái bàn
" " tou trong " " shétou : cái lưỡi
" " ba trong " " zui ba : cái mồm
Tiếng Hán cũng có một số yếu tố xuất hiện ở đầu cấu trúc từ gọi là từ đầu (
). Các yếu tố này gần giống với các tiền tố trong ngôn ngữ biến tố. Chúng 17
không có ý nghĩa từ vựng và chỉ xuất hiện trước danh từ hoặc số từ. Ví dụ:
" " trong " " lao wáng " " lao shì
" " trong " " a ma " " a yí
" " trong " " di yi " " di er " " di san
" " trong " " xiao jie " " xiao li
Các âm tiết " ", " " , " " trong các trường hợp trên, bản thân
chúng khi đứng độc lập đều có nghĩa nhưng khi tham gia vào tổ hợp tạo từ mới
Vay mượn là hiện tượng tất yếu xảy ra ở tất cả các ngôn ngữ khi có sự tiếp xúc
giao lưu văn hóa. Tiếp xúc và vay mượn từ vựng để làm giàu thêm vốn từ vựng của
ngôn ngữ mình. Sự tiếp xúc và vay mượn giữa tiếng Việt và tiếng Hán cũng không
ngoại lệ. Đó là một quá trình lâu dài, phức tạp, nhiều chiều, đòi hỏi những nghiên
cứu công phu. Tiếng Hán, thứ ngôn ngữ của một quốc gia đông dân trên thế giới, đã
từ lâu được thừa nhận là một ngôn ngữ có ảnh hưởng sâu rộng ở Châu Á nói chung
và nhất là ở Đông Nam Á như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản, Lào, Thái Lan,
Mông Cổ, Singapore, Malaixia. Sự tiếp xúc này luôn xảy ra theo cả hai chiều trong
sự tương hỗ lẫn nhau.
2.2 Các điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Hán.
Khi nói đến tiếp xúc ngôn ngữ, thì có thể kể đến rất nhiều nhân tố ngoài ngôn
ngữ. Đối với tiếp xúc Hán - Việt, có thể thấy một số nhân tố chính như sau:
a. Về địa lý.
Việt Nam - Trung Quốc là hai quốc gia "núi liền núi, sông liền sông". Từ xưa
nhân dân hai nước (nhân dân vùng biên) đã thường xuyên qua lại, buôn bán, trao đổi
làm ăn. Đó là nhân tố đầu tiên cho quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt.
b. Về mặt chính trị.
Do nước ta bị thực dân phong kiến Trung Quốc đô hộ hơn 1000 năm. Trong
suốt thời gian dài đó, để duy trì quyền lực và sự cai trị của mình, chúng đã thiết lập
ra bộ máy cai trị của người Hán ở Việt Nam. Đây là một bộ máy cai trị kiểu Hán
được thiết kế chặt chẽ từ trung ương đến địa phương. Việc thắt chặt bộ máy chính
quyền kiểu Hán là bước đi quan trọng của người Hán trong việc đô hộ nước ta và 19
cũng là nhân tố quan trọng cho quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt. Kể cả sau
này, khi nước nhà giành được độc lập thì cơ cấu bộ máy hành chính của nhà nước
phong kiến Việt Nam vẫn theo mô hình của nhà nước phong kiến Hán ở Trung
Quốc.
c. Về văn hóa.
tố quan trọng cho sự tiếp xúc chặt chẽ, sâu sắc và lâu dài giữa hai ngôn ngữ Việt -
Hán.
2.3. Sự hình thành lớp từ Hán - Việt.
Do những điều kiện thuận lợi kể trên đã dẫn đến sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán -
Việt. Song sự tiếp xúc đó không chỉ xảy ra trong thời kỳ Bắc thuộc mà nó vẫn còn
tiếp tục kéo dài đến tận bây giờ. Khi nói đến sự tiếp xúc tiếng Hán, các nhà ngôn
ngữ học phân thành hai giai đoạn. Giai đoạn đầu là giai đoạn tiếp xúc một cách tự
nhiên giữa tiếng Việt với tiếng Hán của đạo quân xâm lược, với tư cách là công cụ
đồng hóa nhân dân ta. Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, chữ Hán được dùng trong hành
chính của nhà nước quan liêu, trong nhà chùa, trong việc thờ cúng, sáng tác văn
chương, ghi chép hàng ngày. Giai đoạn hai là giai đoạn tiếp xúc có ý thức của người
Việt đối với tiếng Hán, một ngôn ngữ của những tri thức về các kiểu mẫu tổ chức
nhà nước và chính quyền, những tri thức về kinh tế văn hóa và tư tưởng phong kiến
điển hình. Sự tiếp xúc ngôn ngữ lúc này không bị ràng buộc bởi yêu cầu chính trị
theo quan hệ chinh phục mà nó đi sâu vào ngôn ngữ. Vay mượn lúc này đã đóng vai
trò của chính ngôn ngữ đi vay chứ không phải là sự cưỡng ép. Đó chính là lí do
tiếng Hán ở Việt Nam thời kỳ này đã tách ra khỏi tiếng Hán ở Trung Quốc và phát
triển theo con đường riêng của mình, theo qui luật riêng của tiếng Việt và cách sử
dụng riêng của người Việt. Thời kỳ này, Việt Nam tuy đã giành được độc lập nhưng
ưu thế và chức năng của tiếng Hán vẫn còn khá quan trọng. Chữ Hán vẫn được dùng
làm ngôn ngữ chính thức của nhà nước phong kiến, trong giáo dục, hành chính,
khoa cử, sáng tác văn học, văn hóa, tế lễ. Nó vẫn là thứ ngôn ngữ bác học bên cạnh
tiếng Việt, tiếng Nôm; là ngôn ngữ bình dân được dùng trong giao tiếp đời thường.
2.4. Về cách đọc Hán - Việt, yếu tố gốc Hán và yếu tố Hán - Việt. 21
Nói đến từ Hán - Việt không thể không nói đến cách đọc Hán - Việt, yếu tố gốc
Hán và yếu tố Hán - Việt.
Cách đọc Hán - Việt là sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Hán,
trong tiếng Việt
III 22
buồng, buồm v.v
- Những chữ vào từ đời Đường cùng với cách đọc Hán - Việt nhưng sau có
cách đọc khác Hán - Việt mà người ta thường gọi là Hán - Việt Việt hóa như; gan,
gần, vốn, ván v.v
- Những chữ vào tiếng Việt thông qua một phương ngữ Hán như: mì chính, ca
la thầu, vằn thắn, xá xíu v.v
c. Khu vực III là những chữ mượn từ tiếng Hán thông qua cách đọc Hán - Việt
được gọi là các yếu tố Hán - Việt. Các yếu tố Hán - Việt này có thể chia làm hai
loại: loại là từ, có thể dùng độc lập như: tuyết, học, dân, số, đoàn v.v… và loại
không phải là từ, không thể dùng độc lập, chỉ là các yếu tố cấu tạo từ như: quốc, gia,
sơn, thủy, giang v.v
Sơ đồ trên có thể cho ta hình dung toàn cảnh những gì có liên quan đến từ ngữ
Hán - Việt trong vốn từ tiếng Việt hiện nay nói chung và vấn đề mà luận đang quan
tâm nghiên cứu nói riêng.
3. Lớp từ vựng chỉ các bộ phận cơ thể.
3.1. Sự phân tích cơ cấu của toàn bộ hệ thống thường phải bắt đầu từ những bộ
phận không lớn lắm (có tư cách là các tiểu hệ thống). Việc giải thích vốn từ của một
ngôn ngữ cũng vậy, chúng phải được bắt đầu từ sự phân tích các nhóm từ hay lớp từ
hoặc các trường từ vựng - ngữ nghĩa với tư cách là các phạm vi từ vựng cơ sở. Và
chính việc phân lập vốn từ của một ngôn ngữ thành các trường từ vựng - ngữ nghĩa
đã tạo điều kiện dễ dàng phát hiện ra tính hệ thống cũng như các cơ chế thuộc về kết
cấu và ngữ nghĩa của bản thân ngôn ngữ ấy.
3.2. Trong mỗi ngôn ngữ đều có khoảng trên dưới 300 tên gọi các bộ phận cơ
thể con người, chúng lập thành một trường từ vựng - ngữ nghĩa riêng gọi là trường
"food" (bàn chân).
c. Tất cả các ngôn ngữ đều có từ chỉ "mắt", "mũi", "miệng".
d. Tất cả các ngôn ngữ đều có tên riêng chỉ chi trên tức là không được gọi cùng
với "chân" chung một tên. 24
e. Các phạm trù ngón [tiếng Anh là "finger" (ngón tay) và "toe" (ngón chân)]
nói chung thường được gọi tên.
f. Tất cả các ngôn ngữ đều có tên gọi cho "móng" (tay và chân) theo một trong
hai cách: hoặc là dùng một từ cơ sở chung cho cả tay và chân kết hợp với một yếu tố
loại biệt chỉ rõ móng của tay hay của chân như tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Anh
hoặc là dùng một căn tố chung rồi tạo nên các từ phụ gia cho tay và chân.
g. Nếu đã có một từ để gọi "chân" (thường xảy ra trong các ngôn ngữ) thì nhất
thiết phải có một từ riêng biệt cho "tay". Như vậy trong nhiều ngôn ngữ có từ riêng
biệt cho tay và chân, một số khác chỉ có từ riêng biệt cho tay nhưng không một ngôn
ngữ nào chỉ có từ cho chân mà không có từ chỉ tay.
h. Nếu đã có từ riêng biệt cho "bàn chân" [foot] thì nhất thiết phải có từ riêng
biệt cho "bàn tay" [hand].
i. Nếu ngón chân đã có một tên gọi riêng thì nhất thiết phải có tên riêng cho
mỗi ngón tay. Như vậy, có những ngôn ngữ: 1/không có tên riêng cho mỗi ngón tay
và ngón chân. 2/ có tên cho một số ngón tay và ngón chân mà không có tên cho mỗi
ngón chân. 3/ có tên gọi cho mỗi ngón tay và mỗi ngón chân.
Nhìn chung, các nguyên tắc chi phối trường các từ chỉ BPCTN hầu như là các
nguyên tắc chi phối cách thức gọi tên ở các trường biểu vật khác, phản ánh qui luật
tri giác và nhận thức chung của con người về thế giới khách quan từ cụ thể đến trừu
tượng, từ khái quát đến chi tiết. Đó là các nguyên tắc trực tiếp, dễ tri giác và sở dụng
(thường xuyên phải dùng đến hơn trong nhận thức và trong giao tiếp), đồng thời
những bộ phận nào quan trọng hơn cũng thường được chia cắt chi tiết hơn. Những
nguyên tắc nói trên sẽ chi phối cách chia cắt thực tế khách quan và sự phân bố tên
phối sự thống kê đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi sẽ thực hiện ở chương 2 cũng
là các loại đơn vị:
- Từ đơn.
- Từ ghép.
- Danh ngữ.
Chúng tôi sẽ trở lại phân tích kỹ mặt cấu tạo của các đơn vị nói trên sau khi đã
tiến hành thống kê, phân loại chúng.
1.2. Các đơn vị thống kê xét về mặt phạm vi sử dụng:
Tiếng Hán cũng như các ngôn ngữ khác, ở một khu vực hiện thực thường có rất
nhiều tên gọi "phủ" lên trên khu vực đó. Các tên gọi này khác nhau về phong cách 26
chức năng. Cụ thể là trong tiếng Hán, ở khu vực các đơn vị chỉ BPCTN có những từ
thông thường, những từ thuộc thuật ngữ sinh vật học, giải phẫu học, lại có cả những
từ tiếng địa phương. Ngay những từ thông thường lại có những từ dùng trong khẩu
ngữ (văn nói), có những từ chỉ dùng trong bút ngữ (văn viết). Nếu tập hợp tất cả các
đơn vị đó để nghiên cứu thì sẽ có kết quả khác nhau. Bởi vậy chúng tôi phải xác
định xem các đơn vị về mặt sử dụng thuộc loại phong cách chức năng nào và chỉ lựa
chọn thống kê đối với những đơn vị phù hợp với mục đích của luận văn. Do đó,
trong luận văn chúng tôi chỉ tập hợp những đơn vị biểu thị BPCTN trong ngôn ngữ
tự nhiên và trong giao tiếp thông thường hằng ngày của nhân dân Trung Quốc và
những từ thuộc thuật ngữ sinh vật học, giải phẫu học ở khu vực này. Bởi vì giữa
ngôn ngữ tự nhiên và thuật ngữ khoa học luôn có sự chuyển hoá lẫn nhau, đường
ranh giới giữa chúng không phải lúc nào cũng dứt khoát cho nên các thuật ngữ khoa
học vẫn được sử dụng thường xuyên trong đời sống hàng ngày của nhân dân Trung
Quốc (chẳng hạn như: " " jía (má), " " jìng zi (tinh dịch), " "
yin jing (dương vật), " " jing (cổ), " " yao zhui (sống lưng), v.v
1.3. Các đơn vị thống kê xét về mặt nội dung:
Nội dung của các đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu liên quan tới nhiều