1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG HOA HIẾN
(Huang Huaxian)
KHẢO SÁT NGỮ VỊ TỪ CÓ NHÓM VỊ TỪ + DI
CHUYỂN + MỤC TIÊU LÀM TRUNG TÂM TRONG
TIẾNG HÁN (CÓ SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT) Ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI 2012
5
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích của luận văn 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Ngữ liệu nghiên cứu. 3
6. Bố cục luận văn 4
Chƣơng 1:Những vấn đề lý luận có liên quan đến khái niệm ngữ
vị từ và việc nhận diện nhóm vị từ +hành động +di chuyển trong
tiếng Hán 5
1.1. Vị từ và ngữ vị từ trong tiếng Hán và tiếng Việt 5
1.1.1. Quan điểm của các học giả Trung Quốc 5
1.1.2. Quan điểm của các học giả Việt Nam 9
1.2. Vị từ hành động (+di chuyển) (+ mục tiêu) 13
1.2.1 Khái niệm và phân loại “vị từ di chuyển có mục tiêu” trong
tiếng Hán 13
1.2.2 Tiêu chí nhận diện vị từ di chuyển có mục tiêu trong tiếng Hán 22
1.3 Mô hình “Ngữ vị từ với vị từ di chuyển có mục tiêu làm trung tâm”
trong tiếng Hán và mối quan hệ giữa các thành tố trong mô hình 24
1.4 Tiểu kết 26
3.2.3 Liên từ 56
3.2.4 Trợ từ 56
3.2.5 Thán từ , từ ngữ khí và từ tượng thanh 57
3.3 Khảo sát các thành tố phụ là hư từ trong ngữ vị từ tiếng Hán 59
3.3.1 Bảng kết hợp thành tố phụ hư từ với vị từ di chuyển có mục
tiêu trong tiếng Hán 59
7
3.3.2 Khảo sát một số thành tố phụ là hư từ trong ngữ vị từ tiếng Hán 61
3.4 Tiểu kết 68
PHẦN KẾT LUẬN 69
Tài liệu tham khảo 73
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thuật ngữ “vị từ”, “ngữ vị từ” gần đây không còn là khái niệm xa lạ
đối với các nhà ngôn ngữ học. Những nghiên cứu về “vị từ” và “ngữ vị từ”
trong các ngôn ngữ khu vực, cụ thể như trong tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại
không còn là vấn đề mới mẻ. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề
này ở trong tiếng Việt như tiêu biểu: Cao Xuân Hạo (1980), Diệp Quang Ban
(1992), Nguyễn Thị Quy (2002)… tiếng Hán có: Lưu Nguyệt Hóa (2004),
Hình Phúc Nghĩa (2003), Lục Kiệm Minh (2011)… Điều này chứng tỏ “vị từ”
và “ngữ vị từ” trong tiếng Hán và tiếng Việt đang là một đối tượng nghiên
cứu hấp dẫn.
Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là chủ đề này đã được đào xới
Luận văn chọn đối tượng nghiên cứu là “ngữ vị từ với vị từ di chuyển
có mục tiêu” trong tiếng Hán, trên cơ sở tìm hiểu phân tích và tổng kết quan
điểm của các nhà Hán học về ngữ vị từ và vị từ di chuyển có mục tiêu, từ đó
rút ra mô hình khái quát của cấu trúc ngữ vị từ này, rồi tiến hành phân tích
tìm hiểu quan hệ ngữ nghĩa ngữ pháp giữa vị từ trung tâm – vị từ di chuyển có
mục tiêu với các thành tố trong cấu trúc, và đồng thời tiến hành so sánh làm
rõ sự giống và khác nhau của cấu trúc ngữ vị từ này trong tiếng Hán và tiếng
Việt.
Việc tìm hiểu loại cấu trúc ngữ vị từ này sẽ giúp cho sinh viên Việt
Nam học tiếng Hán và sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt có cái nhìn toàn
diện hơn về ngữ vị từ, vị từ cũng như ngữ vị từ có vị từ di chuyển có mục tiêu
của hai ngôn ngữ này. Mặt khác so sánh đối chiếu điểm giống và khác nhau
giữa hai ngôn ngữ sẽ giúp kích thích khả năng nghiên cứu, sáng tạo, vận dụng
ngôn ngữ của các em vào trong cuộc sống, tránh những lỗi sai lầm không
đáng có trong giao tiếp.
3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “ngữ vị từ với vị từ hành động
(+di chuyển) (+mục tiêu) làm trung tâm” trong tiếng Hán có so sánh với tiếng
Việt. Vị từ di chuyển có mục tiêu trong tiếng Hán là do 位移动词 (động từ di
chuyển) đảm nhiệm, mặt khác bản thân “vị từ (+di chuyển) (+mục tiêu)” đã là
kết cấu gồm Vị từ di chuyển và Danh từ chỉ mục tiêu sự di chuyển – Từ chỉ
nơi chốn kết hợp lại, nên nói cách khác đối tượng nghiên cứu của luận văn là
ngữ động tân tiếng Hán có mô hình cơ bản như sau:
Phần phụ trƣớc+Vị từ di chuyển +Bổ tố chỉ nơi chốn (mục tiêu)+Phần
phụ sau
“Động từ di chuyển” trong tiếng Hán số lượng rất nhiều, trong phạm vi
việc nhận diện nhóm vị từ +hành động +di chuyển trong tiếng Hán.
Chương 2: Mối quan hệ ngữ pháp ngữ nghĩa giữa thành tố trung tâm với
thành tố phụ là các bổ tố, trạng tố trong ngữ vị từ tiếng Hán (có liên hệ với
tiếng Việt).
Chương 3: Mối quan hệ ngữ pháp ngữ nghĩa giữa thành tố trung tâm với
thành tố phụ là hư từ trong ngữ vị từ tiếng Hán (có liên hệ với tiếng Việt). 5
Chƣơng 1:
Những vấn đề lý luận có liên quan đến khái niệm ngữ
vị từ và việc nhận diện nhóm vị từ +hành động +di
chuyển trong tiếng Hán
1.1. Vị từ và ngữ vị từ trong tiếng Hán và tiếng Việt
1.1.1. Quan điểm của các học giả Trung Quốc
*Về khái niệm vị từ
Đại đa số các học giả Trung Quốc đều thống nhất cho rằng vị từ bao
đơn vị ngữ pháp trong câu do hai hoặc hơn hai đơn vị cấu tạo câu trở lên có
liên hệ về ý nghĩa, được tổ hợp theo quan hệ ngữ pháp hoặc kết cấu ngữ pháp
nhất định mà thành. Lục Kiệm Minh [34, 37] cho rằng: “cụm từ” tức “đoản
ngữ” hoặc “kết cấu”, là đơn vị ngữ pháp lớn hơn từ, do từ với từ kết hợp với
nhau theo một quy tắc cú pháp nhất định tạo nên.
Từ và từ tổ hợp theo quan hệ cú pháp khác nhau sẽ hình thành những
kiểu cụm từ khác nhau. Về phân loại đoản ngữ, các nhà Hán học đưa ra rất
nhiều quan điểm về phân loại đoản ngữ (tức ngữ, cụm từ), nhưng phổ biến
nhất vẫn là phân loại theo quan hệ kết cấu nội bộ đoản ngữ và theo chức năng
đoản ngữ. Căn cứ theo quan hệ kết cấu cú pháp nội bộ, có thể chia cụm từ
thành: cụm chính phụ, cụm thuật tân, cụm thuật bổ, cụm chủ vị, cụm liên hợp,
cụm phương vị, cụm số lượng, cụm giới từ, cụm từ chữ “的” (của)…. Ngược
lại, căn cứ theo chức năng ngữ pháp của cụm từ, ta chia cụm từ thành cụm thể
từ (tức cụm danh từ) và cụm vị từ (gồm cụm động từ và cụm tính từ).
Hình Phúc Nghĩa trong [39, 452] và [40, 197] cho rằng có nhiều cách
phân loại đoản ngữ, phổ biến nhất là 2 kiểu phân loại dưới đây:
1. Căn cứ vào quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần nội bộ đoản ngữ
có thể chia đoản ngữ thành 8 loại: đoản ngữ chủ vị, đoản ngữ động tân, đoản 7
ngữ chính phụ, đoản ngữ chính bổ, đoản ngữ liên hợp, đoản ngữ đồng vị,
đoản ngữ liên động và đoản ngữ khiêm ngữ.
2. Căn cứ vào chức năng của đoản ngữ ta có đoản ngữ danh từ (tức
đoản ngữ thể từ), đoản ngữ động từ và đoản ngữ tính từ (tức đoản ngữ vị từ).
Như vậy có thể thấy đa số các nhà Hán học đều thống nhất rằng: đoản
ngữ là đơn vị ngữ pháp trong câu do hai hoặc hơn hai đơn vị cấu tạo trở lên (
thực từ kết hợp với thực từ gọi là cụm từ, còn thực từ kết hợp với hư từ thì gọi
là kết cấu) có liên hệ về ý nghĩa, được tổ hợp theo quan hệ ngữ pháp hoặc kết
cấu ngữ pháp nhất định mà thành. Căn cứ vào chức năng của đoản ngữ ta có
động từ trở lên hoặc cụm từ trong đó động từ làm trung tâm cấu thành, có
chức năng ngữ pháp tương đương với động từ, chủ yếu làm vị ngữ. Loại đoản
ngữ này bao gồm: đoản ngữ động tân, đoản ngữ liên động, đoản ngữ kiêm
ngữ, đoản ngữ năng nguyện, đoản ngữ so sánh, đoản ngữ liên hợp do động từ
cấu thành, đoản ngữ chính phụ và đoản ngữ chính bổ do động từ làm trung
tâm…Ngoài ra, ông Hình cho rằng đoản ngữ chủ vị do động từ, tính từ làm vị
ngữ hoặc thành phần chính của vị ngữ đều được coi là ngữ vị từ, ông lý giải
rằng “trong loại đoản ngữ này, vị ngữ biểu đạt ý, là trung tâm của đoản
ngữ”.Trương Đức Tuệ [45, 9] cũng đồng ý với ông Hình về quan điểm này và
bổ sung thêm rằng: “các loại đoản ngữ chủ vị đều thuộc ngữ vị từ, bao gồm cả
đoản ngữ chủ vị với danh từ làm vị ngữ”. Một trong những lý do chính ông
đưa ra là: “về khái niệm, một ngữ vị từ phải thoả mãn hai điều kiện: một là có
thể làm vị ngữ, hai là có chức năng tương đương với vị từ. Ngữ vị từ (đoản
ngữ tính vị từ) là đề cập đến chức năng của đoản ngữ, “vị từ” là chỉ động từ
và tính từ, còn “tính vị từ” không chỉ bao gồm “vị từ” mà bao gồm cả từ loại
khác có chức năng như vị từ. Từ đó, chức năng của vị từ là kể lại, trần thuật;
ngữ vị từ chính là đoản ngữ có chức năng trần thuật, kể lại”.
Dễ dàng nhận thấy, quan điểm của đại đa số các nhà Hán học về vị từ,
ngữ vị từ như sau: 9
Về khái niệm: vị từ tiếng Hán bao gồm hai từ loại động từ và tính từ.
Đoản ngữ tính vị từ tức ngữ vị từ gồm ngữ động từ và ngữ tính từ, trong đó
đoản ngữ động từ do 2 động từ trở lên hoặc cụm từ trong đó động từ làm
trung tâm cấu thành, có chức năng ngữ pháp tương đương với động từ, chủ
yếu làm vị ngữ.
Về phân loại ngữ vị từ (chỉ ngữ động từ): dựa theo kết cấu nội bộ của
ngữ động từ tiếng Hán có thể phân thành những loại sau: (1) ngữ động từ - bổ
tố; (2) ngữ động từ - bổ ngữ; (3) ngữ trạng ngữ - trung tâm ngữ (động từ); (4)
tiếng Việt” (vị từ hành động) [22, 42-43], có đề cập “vị từ có thể độc lập tự
mình làm thành một vị ngữ hoặc làm trung tâm ngữ pháp hay làm hạt nhân
ngữ nghĩa của một vị ngữ biểu hiện nội dung của sự thể” hay “Vị từ là loại từ
được dùng làm vị ngữ một cách vô điều kiện nhất, nghĩa là không cần đến sự
hỗ trợ của bất kì phương tiện đánh dấu nào”.
Nhìn chung, cũng giống vị từ tiếng Hán, vị từ trong tiếng Việt bao gồm
hai từ loại là động từ và tính từ, có thể độc lập làm vị ngữ hoặc làm thành
phần trung tâm của vị ngữ, luôn có ý nghĩa phản ánh thực tại tức nêu đặc
trưng (hoạt động, trạng thái, tính chất của thực thể) trong quan hệ kết hợp với
danh từ để tạo thành câu.
*Quan niệm về Ngữ :
Trong tiếng Việt hiện đại, “ngữ” được gọi với tư cách dạng rút gọn của
đoản ngữ hoặc cụm từ, là đơn vị trung gian giữa từ và câu.
Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” [4] cho rằng đoản
ngữ là 1 tổ hợp tự do có 3 đặc điểm:
1. Gồm một thành tố trung tâm và một hay một số thành tố phụ quây
quần xung quanh trung tâm đó để bổ sung thêm một số chi tiết thứ yếu về mặt
nghĩa.
2. Mối quan hệ giữa trung tâm với các thành tố phụ là mối quan hệ
chính phụ. 11
3. Toàn đoản ngữ có tổ chức phức tạp và đầy đủ hơn một mình trung
tâm, nhưng nó vẫn giữ được các đặc trưng ngữ pháp của trung tâm.
Có thể thấy Nguyễn Tài Cẩn cho rằng mối quan hệ giữa trung tâm và
thành tố phụ của đoản ngữ chỉ có 1 loại kết cấu duy nhất: kết cấu chính phụ,
tức nhấn mạnh vào cách tổ chức nội bộ hơn là 1 tổ hợp từ kết hợp với từ nói
chung. Theo đó, ông cho rằng, trong kết cấu đoản ngữ, thành tố trung tâm
không thể lược bỏ, còn thành tố phụ có thể lược bỏ (lúc này ta được đoản ngữ
Ví dụ: cái nhà, màu đỏ, hai người, người nọ…
+ Ngữ động từ có động từ làm thành tố chính, gọi là cụm động từ.
Ví dụ: đã đọc rồi, vừa đọc, đọc được…
+ Ngữ tính từ có tính từ làm thành tố chính, gọi là cụm tính từ.
Ví dụ: vẫn tốt hơn, rất tốt, tốt quá.
+ Ngữ số từ: cụm từ có số từ làm thành tố chính (ba mươi hơn…).
+ Ngữ đại từ: cụm từ có đại từ làm thành tố chính (hai chúng tôi…).
Như vậy, khái niệm cụm từ, đoản ngữ, ngữ trong tiếng Việt hiện đại
nên được hiểu là kết quả quá trình tổ hợp tự do giữa các từ (có thể chỉ gồm
hai thực từ hoặc có thể có một hư từ và một thực từ) bằng một mối quan hệ cú
pháp nhất định (chủ vị, đẳng lập hoặc chính phụ). Về cấu trúc đoản ngữ gồm
thành tố chính (phần trung tâm) và thành tố phụ (phần phụ trước và phần phụ
sau), quan hệ giữa thành tố chính và thành tố phụ là quan hệ chính phụ, các
phần phụ có thể lược bỏ nhưng không thể lược bỏ phần chính.
Cấu trúc đoản ngữ có thể được công thức hóa:
Đoản ngữ = Phần phụ trước + Phần trung tâm + Phần phụ sau
Ví dụ 1: ăn cơm rồi ăn cơm rồi
đã ăn cơm đã ăn cơm
Trong số 5 loại đoản ngữ thường dùng trong tiếng Việt thì ngữ động từ
và ngữ danh từ có cấu tạo đa dạng và tần suất sử dụng phổ biến hơn hẳn.
13
*Quan niệm về Ngữ vị từ:
Ngữ vị từ tiếng Việt được xem là một ngữ đoạn chính phụ có từ loại vị
từ làm trung tâm chi phối toàn bộ tổ chức của ngữ đoạn…, một đơn vị cụm từ
(đoản ngữ) được chia làm 3 bộ phận theo vị trí so với thành tố trung tâm gồm:
phần phụ trước, phần trung tâm và phần phụ sau. Vì vậy, một ngữ vị từ đầy
học giả nghiên cứu vấn đề này từ các góc độ khác nhau nên kết quả nghiên
cứu vẫn tồn tại nhiều điểm bất đồng.
* Trong tiếng Hán hiện đại:
Về việc phân loại vị từ / động từ trong tiếng Hán hiện đại, các học giả
Trung Quốc đều đứng ở nhiều góc độ khác nhau để phân loại động từ tiếng
Hán, ngoài căn cứ vào sự có/không kết hợp với bổ tố mà phân ra động từ cập
vật/bất cập vật trong ngữ pháp truyền thống, hiện nay các nhà Hán học cũng
đặc biệt quan tâm đến việc phân loại động từ từ góc độ ngữ nghĩa của nó, đa
phần nếu cùng xét từ góc độ ngữ nghĩa thì kết quả phân loại của các nhà Hán
học là giống nhau. Về vị từ di chuyển có mục tiêu tiếng Hán, như đã nói ở
trên loại vị từ này được coi là động từ chỉ sự di chuyển, có đi kèm với bổ tố
chỉ nơi chốn – tức mục tiêu của sự di chuyển, dưới đây xin được liệt kê ý kiến
của các nhà Hán học quan tâm đến loại động từ di chuyển này.
Về khái niệm của vị từ di chuyển, những nghiên cứu của Vương Hoàn
(1957), Lý Lâm Định (1963) đã đề cập đó là những động từ “biểu thị sự di
chuyển”. Sau đó, Triệu Nguyên Nhiệm trong “Văn pháp Trung Quốc thoại”
có nói đến một tiểu loại của động từ bất cập vật là “động từ biểu thị di chuyển
hoặc hành động” (do động từ + bổ ngữ xu hướng cấu thành) và “động từ biểu
thị di chuyển khác” (ví dụ 走(đi), 跑(chạy), 爬(leo), 滚(lăn)…
Phương Tự Quân [27, 205] gọi những vị từ có đặc trưng ngữ nghĩa (+di
chuyển) là vị từ di chuyển, và dùng hai cấu trúc “vị từ + bổ tố nơi chốn” và “
“从 từ+处所名词 danh từ nơi chốn+动词 vị từ” để xác định loại vị từ này. Từ
Tịnh [41, 117] cho rằng “di chuyển” tức là cùng với sự thay đổi của thời gian,
vị trí không gian của vật thể có sự thay đổi, vị từ phản ánh hiện tượng này
trong tiếng Hán được gọi là vị từ di chuyển. 15
Về phân loại vị từ di chuyển, nhà Hán học Cảnh Sơn Thái Lang thì
phân vị từ di chuyển ra làm hai loại: (1) vị từ di chuyển có hướng – động từ
(1) Động từ di chuyển có hướng, tức động từ xu hướng 来(đến), 去(đi), 上
(lên), 下(xuống), 进(vào), 出(ra), 过(qua), 回 (về), 出来(ra – hướng về người
nói), 出去(ra – hướng xa người nói), 过来(qua – hướng về người nói), 过去
(qua – hướng xa người nói), 回来(về - hướng về người nói), 回去(về - hướng
xa người nói), 进来(vào – hướng về người nói), 进去(vào – hướng xa người
nói), 起来(dậy), 上来(lên – hướng về người nói), 上去(lên – hướng xa người
nói),下来(xuống – hướng về người nói), 下去(xuống – hướng xa người nói).
(2) Động từ di chuyển thường (thường phải có giới từ hoặc động từ xu
hướng đi kèm mới có thể biểu thị sự di chuyển): 搬(chuyển), 穿(xuyên), 闯
(xộc), 蹦(nhảy), 冲(xông lên), 登(lên), 滴(rơi, nhỏ), 倒退(lùi), 翻 (trở mình),
滚(lăn), 降(rớt), 开(mở), 漏(rỉ), 落(rớt), 挪(xê dịch), 爬(trèo), 漂(trôi), 飘(lay
động), 前进(tiến lên), 迁移(di chuyển), 升(lên cao), 逃(trốn), 跳(nhảy), 移动
(chuyển động), 游(bơi),钻(chui), 追(đuổi), 飞(bay), 跑(chạy), 走(đi), 奔(chạy
nhanh), 撤(lui), 沉(chìm),倒(ngã), 掉(tụt lại), 跌(ngã), 跟(theo), 降落(đáp
xuống), 流(chảy), 摔(ngã), 退(lùi),转移(dời).
Như vậy, về vị từ hành động di chuyển có thể thấy các nhà Hán học
đều thống nhất rằng “di chuyển” là sự chuyển dời vị trí của vật thể phát sinh
trong quá trình vận động, và đồng nhất gọi những vị từ có đặc trưng ngữ
nghĩa (+di chuyển), khiến tự thân nó hoặc vật khác xảy ra sự thay đổi vị trí, là
động từ di chuyển, tức vị từ hành động (+di chuyển). Còn về phân loại vị từ di
chuyển, mặc dù các ý kiến còn có nhiều bất đồng, song đa phần các nhà Hán
học cho rằng có thể chia vị từ di chuyển tiếng Hán thành hai tiểu loại: vị từ di
chuyển có hướng ( chia làm động từ xu hướng đơn và động từ xu hướng kép)
và vị từ di chuyển thường, như kết quả nghiên cứu của Lưu Hải Cầm ở trên. 17
Dễ dàng thấy rằng, hai tiểu loại này có nhiều điểm khác nhau, động từ xu
hướng có đặc trưng (+ di chuyển) và (+chỉ hướng), nhấn mạnh sự xuất hiện
của sự di chuyển, không tiếp diễn được. Về chức năng cú pháp, trong câu có
của luận văn.
Cụ thể, luận văn khảo sát các vị từ (+di chuyển) (+mục tiêu) dưới đây:
+ Nhóm 1:
来
đến (tới, lại, sang)
,去
đi,
上
lên (ra)
,下
xuống
,进
vào
,出
ra
,回
về
,过
qua(sang).
+ Nhóm 2:
出来、出去、过来、过去、回来、回去、进来、进去、起
来、上来、上去、下来、下去
.
Theo đó, ta có “ngữ vị từ với vị từ di chuyển có mục tiêu làm trung
tâm” trong tiếng Hán ở phạm vi của luận văn này là ngữ động tân, làm vị ngữ
trong đó, động từ chỉ hướng làm trung tâm của động ngữ, bổ tố chỉ địa điểm
trong không gian, có thể là điểm xuất phát, điểm đi qua hoặc điểm kết thúc
của sự di chuyển.
* Vị từ di chuyển có mục tiêu trong tiếng Việt:
chia vị từ hành động ra làm: vị từ chuyển tác và vị từ vô tác, trong đó khi
phân loại vị từ vô tác có đề cập đến “vị từ hành động di chuyển”: vào, ra, lên,
xuống, chạy, đi…
Trong luận án “Ngữ vị từ tiếng Mông”, Nguyễn Văn Hiệu có đưa ra
bảng phụ lục phân loại các nhóm vị từ hành động trạng thái đòi hỏi ít nhất 1
diễn tố trong khung ngữ vị từ, bảng có liệt kê các “vị từ di chuyển có mục
tiêu” tiếng Mông, tương đương với tiếng Việt bao gồm: trốn thoát, vượt, qua,
sang, về, đi theo, đi, lên, trèo, ra, men, rút lui, đến, theo, rẽ, nhoi.
Theo hướng chức năng S.C Dik (1978) đã đưa ra mô hình phân loại sự
tình dựa theo các chiều Động (Dynamism) và Chủ ý (Control). Áp dụng mô
hình phân chia này có Cao Xuân Hạo (1991), Bùi Tất Tươm, Nguyễn Văn
Bằng, Hoàng Xuân Tâm (1997), tuy nhiên ứng dụng thành công mô hình
nghiên cứu nghĩa biểu hiện sự tình của Dik để phân loại vị từ tiếng Việt căn 20
bản trên hai chiều đối lập về tính Động và Tĩnh phải kể đến tác giả Nguyễn
Thị Quy (1995), theo đó tác giả phân chia vị từ tiếng Việt ra làm 4 loại: Hành
động, Trạng Thái, Tư thế, Quá Trình, đồng thời chỉ ra những đặc trưng ngữ
pháp của từng loại, trên cơ sở nghiên cứu sâu hơn về vị từ Hành động với các
tham tố của nó trong tiếng Việt.
Cụ thể, Nguyễn Thị Quy dựa vào cả hai tiêu chí có/không tác động và
tiêu chí diễn trị để phân loại vị từ hành động (+ Động + Chủ ý) tiếng Việt:
Tiêu chí phân loại bằng các nét
nghĩa biểu hiện của vị từ trung tâm
Nhóm vị từ
trung tâm
Tiêu chí
p.loại diễn trị
-Tác
tượng
Sản phẩm
Vị từ tạo tác đối
tượng: đắp, nặn, viết,
vẽ, đào…
Làm cho
đối tượng
biến chuyển
Hủy diệt
Vị từ hủy diệt: giết,
dỡ, phá…
Thay
đổi
trạng
thái
Vật
chất
Vị từ thay đổi trạng
thái vật chất đối
tượng: đập, cắt, bổ,
đẽo, gấp…
Tinh
thần
Vị từ thay đổi tinh
thần đối tượng: dọa,