.ĐẠI HỌC QUỐC GIẠ HÀ NỘỊ
V IỆ N V IỆ T N A M H Ộ C V A K H O A H Ộ C P H A T T R IÊ N
ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu c ơ BẢN
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
NGHIÊN c ứ ư ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC VÀ NGỮ NGHĨA
CỦA CÁC KIỂU CÂU ĐIỂU KIỆN
TRONG TIẾNG VIỆT
(Bản tóm tắt)
M Ã SỐ : CB . 03.11
Chủ trì đề tài: ThS. Nguyễn Khánh Hà
Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
H à N ội - 20 0 5
TÓM TẮT ĐỂ TÀI NGHIÊN c ứ u c ơ BẢN CẤP ĐẠI HOC Q l ó c GIA
" NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIEM h ìn h t h ứ c v à n g ữ n g h ĩa
CỦA CÁC KIỂU CÂU ĐIỀU KIỆN TRONG TIẾNG VIỆT"
Chủ trì để tài: ThS. Nguyễn Khánh Hà
Viện Việt Nam học và Khoa học phát trièn - ĐHQGHN
* Chuyên luận đặt vấn đề " Nghiên cứu đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa cúa các kiểu
câu điều kiện tiếng Việt". Đây là một Cỏn2 trình ngôn ngữ hoc lý thuyết, ngôn ngữ chính
được nghiên cứu là tiếng Việt. Chuyên luận này ứng dụng một cách quy mô và xuyên suổt
các quan điểm ngôn ngữ học theo trường phái Ngữ pháp tri nhãn, cháng hạn như quan
điểm về trường hựp Điến mẫu (typological model) cúa Ronald Langacker (1987). quan
điếm Không gian tinh thần (mental spaces) của Fauconnier (1985) dê phàn tích các đặc
trưng ngữ nghĩa, hình thức và ngữ dụng cua các càu điều kiện tiếng Việt. Lần đầu tién toàn
bộ các kiêu càu và các liên từ được coi là có tính điều kiện trong tiếng Việt, vốn chi được dé
cập rải rác trong các công trình nghiên cứu trước đày, sẽ dược tập hợp lai, khảo sát và phân
loại một cách kỹ lường. Hướno triển khai của chuyên luân sẽ là: (1) lấy việc phân tích ngữ
nghĩa câu làm nền tảng; (2) tìm hiểu quan hệ tương hỗ giữa ngữ nghĩa câu với hình thức câu,
giữa ngữ nghĩa với các yếu tố naữ duns, tức là tìm hiểu xem các yếu tố hình thức và ngữ
dụng tham gia vào việc biểu đạt ý nghĩa điều kiện như thế nào. Cu thế hon. chuyên luân sẽ
cố gắng giải đáp những câu hỏi sau:
Có thể thấy là hai khuvnh hướng trẽn dây có hai hướng tiếp cận khác nhau: một quan
tàm nhiéu dến ngữ nahĩa logic, một lại chú ý tới các hình thức động từ. Điếm giống nhau
của hai hướns tiếp cận nàv là chúng đều man2 tính chuyên biệt cao, do đó có những nhược
điểm khó tránh khỏi: hoặc là chúng không bao quát được hết các dữ liệu, va sự đánh giá
thường chỉ nhằm vào các trường hợp “trung tâm” hay “điển hình”, hoặc là chúng đưa ra
những phân tích võ đoán, thiếu chính xác đối với những dữ liệu “xa trung tàm”. Tórr. lại, các
công trình này chưa đưa ra được một sự phân tích thồns nhất và toàn diện vé hình thức và ý
nơhĩa của câu điều kiện, cũng như sự tương hỗ giữa hai khía cạnh nàv.
3. Khuynh hướng nghiên cứu cãu điều kièn theo ngữ đung hoc
Sự phát triến mạnh mẽ cua IIgừ dụng học trons vài thập ký gần đày dã aợi V cho
nhiểu nhà níiữ pháp hưứno sự chú ý tới một khía cạnh khác trons việc phàn tích câu dièu
kiện, dó là việc h uiai các phát Iieon diêu kiện dựa tròn n
2Ữ cánh mà tronu dó phái ngôn
được sứ dụng. Tiêu biếu là quan diêm quan điếm Tươns hợp (Relevance) cúa Sperber và
Wilson (1985). Theo íý thuyết Tương hợp. các cách ngôn cúa Grice dược rút 2ỌI1 chí còn
một nguyên tắc- nguyên tắc tương hợp - đó là: bất ky phát ngôn nào cũng có một sự báo đám
vể tính tương hợp tối ưu đối với người nghe. Lý thuyết tương hợp là một cơ sở lý thuyết quan
trọng về ngữ dụng mà chúng tôi dự định áp dụng vào việc phân tích câu điểu kiện tiếng Việt.
4. Khuynh hướng nghiên cứu càu điều kiện theo lý thuyết Ngữ pháp tri nhận
Các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng này quan niệm “ngữ pháp” khôna chí là sự
miêu tả có tính hình thức về ngôn ngữ, mà quan trọng hơn. “‘ngữ pháp" là sự trình bày sự tri
nhận của người nói về các qui ước ngôn ngữ. Theo quan điếm tri nhặn, “không thế không
nói đến ngữ pháp mà không nói dến ngữ nghĩa, nói cách khác, ngữ pháp có chứa nghĩa và có
tính biếu trưng trong bản chất cùa nó”. (Dancygier 1998:1). Như vậy bát kỳ khía cạnh nào
của cấu trúc và sự diễn đạt một câu đều nhằm góp phần vào sự thuyêt giai tổng thế vé câu đó
theo những cách thức mà các qui ước n2Ôn ngữ chỉ đạo. Những ý tưởng sâu sác về sự tươnơ
hỗ giữa hình thức và ý nghĩa trong các kết cấu điều kiện của trưưng phái ngữ pháp tri nhặn
được chúng tôi xem như một nền tảng lý luận quan trọng, để từ đó có được những sự phân
tích mới mẻ và kỹ lưởna hơn về câu điểu kiện tiếng Việt.
II. Các nhà ngữ pháp Việt Nam nghiên cứu về cáu điều kiện tiêng Việt: có 3 khuynh
hơn nữa, bởi các dấu hiệu hình thức trong cấu trúc câu tiếng Việt nói chung khòng rõ ràng
và hđu như không có qui tãc hoạt dộng chật chẽ. Vấn đé đạt ra lù trong tiếng Việt có bao
nhiêu liên từ (cặp liên từ) điều kiện? Tra lời dược câu hỏi này, cũng có nghĩa là chúng ta biết
dược trong tiếng Việt có bao nhiêu kiểu cấu trúc điều kiện. Sẽ là võ đoán nếu chúng tôi tự
đưa ra danh sách riên2 cùa mình vé các kiểu cấu trúc điéu kiện, do đó phương thức thích hợp
nhất có lẽ là thống kè các kiểu cấu trúc điểu kiện đã được đưa ra tron” các công trinh nahiên
cứu trước đó.
1.2. Cáu trúc càu điều kiện cản bản trong tiêng Việt:
Qua thông kê ở phần 1.1. có thê thấy số lượna các cấu trúc câu điều kiên trong tiếns
Việt dựa trên tiêu chí là các liên từ điểu kiện rất phona phú và không thống nhất giữa các
nhà nghiên cứu. Tuy nhiên theo chúng tôi, không thế dàn đểu các cấu trúc này và phân tích
như nhau; diéu này không hợp lý và không đúng với tinh thần cùa Ngữ pháp tri nhận. Một
trong những ý tưởng có thể coi là nền tảng lý luận của học thuyết này là quan điểm điên
mẫu (prototype model) (Langacker 1987). Nhận thấy những hạn chế của tư tưởng hình mẫu
thuộc tính tiêu chuẩn (criteria-atribute model) thường được các nhà n2ôn n2Ữ học áp dụna
dể phạm trù hoá ngôn ngữ. Langacker đé nghị sử đụn2 hình mẫu có tên là điên mảu. Đày là
những trường hợp mà mọi người chấp nhàn chúng như là những thanh viõn thường xu\ên và
bình thường, không có 21 đána kê của phạm trù. Nhìn chuns. chúns xuất hiên thươns xu\ên
nhất trong kinh nahiệm cúa con người, thườn2 dược tiếp thu sớm nhái, và có thế dược nhan
diện thông qua thực nghiêm theo nhiéu cách khác nhau. Các irườno hop khổng phái diên
4
mẫu vẫn có thể được đồng hoá vào nhóm (hay phạm trù) theo hướng là chúng có thê được lý
giải là phù hợp hay khớp với nguyên mẫu. Như vậy, tư cách thành viên là vấn đề thuộc mức
độ: những trường hợp nguyên mẫu là những thành viên trung tâm và đầy đủ của phạm trù,
còn những trường hợp khác tạo ra một sự biến đổi tinh tế từ trung tâm ra ngoại biên, tuỳ
thuộc vào việc chúng lệch chuẩn so với nguyên mẫu bao xa và bằng cách nào. Các thành
viên cũng không cần phải ở trong một tập hợp duy nhất, \ì khôna có một ranh giới cứng
nhác áp đặt sự phân Iv ra khỏi điên mẫu. í hg dụns Iv thuyết điên mẫu cua Laníiacker \ào
nghiên cứu câu điều kiện tiếng Việt, chúng tỏi cho răng trons số các câu trúc càu dieu kiên
tiếng Việt cũng có một cấu trúc câu có tính chất điến mẫu. Đó là mô hình được sứ dụng
dược tạo dựng trong bất kv diễn ngôn nào, tuỳ vào những chi dẫn (guidelines; dược cuna cap
bới các biểu thức ngôn ngữ. Các biểu thức ngôn ngữ có vai trò tạo lập các không 2Ían mới,
các yếu tố bèn trong không gian ấy, \à các quan hệ giữa các yếu tô. "Tác tứ xây dưng
khòng gian" (Space Builder - gọi tắt là SB.j) là tên 2ỌÍ cho các biếu thức hgôn naữ có khá
nang tạo lập một không gian mới hoặc qui chiếu trở lại một khõna gian đã được giới thiệu
trước đó trong diễn ngôn. SBM có thể là ngữ đoạn giới từ (trong tranh của Len, trong V nghĩ
của John, vào năm 1929. phó từ {thực sự , có thể /à ); liên từ {nếu A thì ,
hoặc hoặc )', cụm chủ vị (Max tin , Mary hv vọng ). Cắc SBm đi cùng với các mệnh đề
(clause), chúng khầng định những mối quan hệ tồn tại giữa các yếu tố của khống gian. Tác
tử xây dựng không gian SBM tạo lập không gian M sẽ luôn luôn tạo làp M như là bao gồm
một không gian khác nữa là M' (không sian bố me cúa nó). M' có thê hiển n2ôn. có thế hàm
Iisỏn( dược SUY ra theo kiêu naĩr dung lừ diễn naón trước dó). Khi một khónsi gian Ki dược
giói thiệu tronti diễn nsỉỏn harm một tác tử xãv dựna không aian SBM. nỏ chãc chăn liên kết
một cách ngữ duns với khòns eian bỏ mẹ cua nó thons qua một mấu nối nsỉữ đụn
2, và
khung gian bổ me có vai trò là diêm xuất phát, còn khôna man con la mục tiêu.
6
Vận dụng quan điểm Không gian tinh thần, chúng tôi cho răng liên từ dieu kiện có ba
chức năng chính: Ở cấp độ chung nhất, liên từ điều kiện là một dơn \ị ngôn ngữ có vai trò
tạo dựng không gian cho các không gian điều kiện (có tính giả định). Với tư cách là một đơn
vị từ vựng, liên từ điều kiện là dấu hiêu cùa sự không xác nhận, và sự hiên diện cúa nó ớ
trước một tiền ước (assumtion) hàm ý rằng người nói có lý do để trình bày tiền ước đó như là
một việc không thể xác nhận (tức là có tính giả định), ơ cấp độ cấu trúc câu. liên từ điều
kiện giới thiệu một trong những mệnh đề của một cấu trúc càu diều kiện, nó khẳng định mối
quan hệ chặt chẽ giữa mệnh đề điều kiện với mệnh dề chính trong mội lĩnh vực nhận ihức
nhất định.
2.2. Quan hệ giữa hai mệnh đề trong câu điều kiện
Quan hệ giữa hai mệnh đề trong các phát nsốn điểu kiên có vai trò hết sức quan trọng
đối với sự biểu dạt điều kiện. Chúna tôi cho rằng chúng liên kết với nhau theo 5 kièu chính:
quan hệ nhân quả, quan hệ suv luận, quan hệ hành độn" n2ôn từ, quan hệ siêu ngôn nsữ, và
8
phép người tham gia hội thoại dự báo các hệ quả có thể xảy ra được biêu đạt trong mệnh dé
chính. Tuy nhiên không gian điều kiện này không có tính khách quan, vì thế thái độ dự báo
của người nói cũng không hoàn toàn khách quan. Khi không gian điều kiện có tính hoà, thái
độ dự báo của người nói cũng có tính trung gian. Khi không gian diéu kiên biếu hiện niểm
tin, sự hy vọng hay mong muốn của người nói, thái độ dự báo có tính tích cực. Ngược lại,
thái độ dự báo sẽ có tính tiêu cực nếu ờ mệnh đề điều kiện, người nói tạo lặp một không gian
tinh thần tiêu cực. Có thế mô hình hoá các câu dự báo như sau:
Sơ đồ 4:
___________
______________
se
click
Iỉ
A
(thì )
có lẽ
hấn
(thái độ tích cực) ^ (dư báo tích cực)
(thái độ trung hoà)
► (dự báo trung hoìi)
(thái độ tiêu cực)
________
(dự báo tiêu cực)
II. Câu điều kiện dự báo phán thực
Theo Fauconnier. phán thực là trưanơ hợp xuất hiện sự khỏns tương họp (một cách
bắt buộc) giữa hai không gian: không gian M, không tương hợp vứi một khônsỉ Sỉian khác la
M2 nếu quan hệ nào nó được xác dinh một cách hiến n2õn trong M, không thoá mãn với các
cơ tun m ạch, tiểu dường cao). (Lê Thuv Tươi, tr 14)
3. Kiểu 3 - mệnh đề chính thể hiện sự dánh giá của người nói về sự tinh dược giới thiệu
trong mệnh đề diều kiện.
Ví dụ: Sinh cảm thấy vén râm vẽ hạnh phúc của mình, "Nếu nó la con trai thì Illicit".
(Nguyễn Thị Ngọc Tú. tr 120)
4. Kiểu 4 - mệnh đề điều kiện dưa ra một giả chiết, mênh dé chính kct luận vé giá thiết dó.
Ví dụ: [Mày nên lìglũ cho kỹ.Ị Tao thấy nếu cứ như những diêu mày viết trong này (tủi dưa
quxểii sô’cho Châu) íìiì mày và Sính là hai người khác Iiliau lắm.
(Nguyẻn Thị Ngọc Tú. tr 74)
5. Kiểu 5 - mệnh đề điều kiện giới thiệu cãn cứ dê tính toán, còn mệnh dề điéu kiên giới
thiệu kết quả tính toán dựa trên cãn cứ ấy.
Ví dụ: Nếu tính riêng đất nông nghiệp thì bình quản một nhân khẩu nông nghiệp có 0,1 ha,
một lao động nông nghiệp có 0,34 ha, một hộ nông dán có khoắng 0,5 ha.(Trương Thi Tiến. tr3)
IV. Câu điểu kiện hành động ngòn từ
Trontĩ các phát ngôn điểu kiện có hai kiêu quan hệ hành độníĩ nsòn từ chu yếu. Kiểu
ihứ nhất là những càu diều kiên mà toàn bộ càu là một hành dộno nsòn từ (tức là nhữna
hành độn2 ngôn từ có nội duns là câu diéu kiện), và kiêu thứ hai là những cáu diêu kiện mà
chi có vế chính là hành dộng ngôn từ mà thỏi (loai nàv clưực gọi là những hanh dộng neõn lừ
có điều kiện).
1. Muìntỉ hành đòng níỉòn từ có noi (luny là câu dicu kicn
10
Áp dụng hướng phân loại của Cao Xuân Hạo (1991) vào phạm vi những hành độna ngôn từ
có nội dung điều kiện, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích những câu điều kiện kiểu này theo ba
nhóm: (1) câu nghi vấn, (2) câu trần thuật biểu thị một số giá trị ngôn trung tiêu biểu, và (3)
câu ngôn hành.
1.1. Câu nghi vấn: Đặc diểm chung của loại câu này là mệnh đề chính có hình thức nshi vấn,
còn mênh đề điều kiện không bao giờ có hình thức nshi vấn. Các kieu câu nshi N ấn tiêu biếu
gồm:
1.1.1. Câu hỏi chính danh: Câu hỏi diều kiện chính danh bao 2ồm nhữns loại nhỏ sau:
a. Câu hỏi chuyên biệt: Loại câu này được cấu tạo như một câu trán thuật với một yếu tố
một cách hoàn toàn hiển ngôn:
Ví dụ: Anh ta có th ể di dâu vào giờ này nếu không về n h à ? (Nguvẻn Thị Naọc Tú. tr 177)
1.1.4. Câu hỏi có giá trị phú dịnh: Đâv là nhưng cãu nghi vấn phủ dinh mà trons nhữns văn
cảnh nhất định và với những thành phần từ ngữ nhất định cũns có thê dùng như những cãu
hỏi chính danh, tuy thiên về phú định nhưng người nghe vản có thể trá lời theo hướng khác;
trong kiêu câu này xuất hiện những từ nghi vấn điển hình như ai, gì, may, sao, nào, bao
nhiéu v.v
Ví dụ: o , nếu em không đi till Mill di làm gì.’
(Đắt gì một miếng trau cav. Tuần báo Đan bà. sỏ 127/1041)
1.1.5. Câu hỏi có ý nghĩa phỏng doán hay ngờ vực: Đâv là nhữns câu nshi vấn mơ dầu
bằ/íg phải chăng, hay là, không biết, liệu hoặc kết thúc bans if, chăng, không biết, nhỉ,
đáy, bày giờ biểu thị thái dộ phân vãn. n2Ờ vực, khòna quá quyết dối vơi tính chăn xác
cúa mệnh dề được biếu thị trong cãu.
Ví dụ: Nêu tòi lo cho cô dược một cái %iáx plỉép lập một to hợp Lim nước mắm. cớ liệu cú
kham nổi khô n g9 (Nguvẻn Thị Minh Ngọc, tr 27)
1.1.6. Câu hỏi có giá trị cảm thán: Đày là những câu cảm thán sử dụng một hình thức nshi
vấn nhưng không hề yêu cáu trả lời, và ngữ điệu thì mans một sác thái cảm xúc khác. Hình
thức nghi vấn thể hiện ờ một số từ ngữ nghi vấn hay bất định như biết mấy, biết bao, bao
nhiêu, chừng nào, đàu, v.v
Ví dụ: Nếu tôi lấy một người đàn bà khác, tỏi sẽ hạnh pluĩc bao nhiéu?
I Dươna Thu Hươns. Bẽn kia bờ áo vọng, tr )
1.2. Càu trán thuật biểu thị một so 2 Íá trị naòn trung tiẽu biéu:
Nhóm câu diều kien này bao 2ỏm những loai sau:
1.2.1. Câu tlicu kiên dao Iiiihĩa: Đay là nhữnn cãu diéu kiên dược người nói \ dung dè cố
eáne hướns dẫn ha\ diêu chinh hành vi cua 112ười dõi thoại . Đặc diêm hình thức núi hát cua
12
loại câu này là có sự xuất hiện của các từ tình thái đao nahĩa như nên. cán. phái, có thê ơ
mệnh để chính.
Ví dụ: Nếu ông biết rằng lấy ván sĩ ấy cô em ông sẽ phí hoài hạnh phúc thì ủng nén lấ \'
quyên lực làm anh ra mà ngăn cản, dáit phải bạo động.
Trong kiểu câu này, mệnh đề đi trước thường là mệnh đề chính, ví du :
Công việc ở cóng ty van tiế n triển bình thường nếu không muốn nói là kluí trói cháy.
(Hoàng Dạ Thi. Truyên ngản nữ tre. tr 239)
Mệnh đề này thông báo hay bày tỏ ý kiến về một sự tình nào dó theo cách nào đó.
Nhưng người nói không chắc là anh ta có chọn dược cách diễn dạt đúng vẽ sự tình dó khònìỉ.
Do vậv người nói dưa vào phát naôn một mênh dè diéu kiên dê cho na ười Iiíihc biết là anh ta
nghi ngờ về cách diẻn dạt cúa mình. Vai trò cúa mệnh dé dieu kiện là dưa ra một từ (I1SỈŨ)
mà người nói "cảm thấy" là thích hợp hơn, hoặc giái thích lý do tại sao rmưừi nói không chác
về từ ngữ đã dùng.
VI. Cáu điều kiện so sánh đòi xứng
Trong các câu đieu kiện thuộc kiếu nàv, nội dunơ cúa mệnh dê này có chức nãna như
là một mốc đối chiếu nhăm đánh 2Ìá về nội dun2 có tính chất tươns ứng hay trái naược ớ
mệnh ổi kia. Viỏc xem xét nội dun2 cúa mệnh de nàv là cơ sớ dè n Sĩ ười nghe so sánh va tìm
ra sự khác biệt hav tươim đổns trono nội dung của mênh dê kia. và giữa hai mênh đe có sự
dối xứng nhau rõ nét.
Ví dụ: (
1 4 4 ) N ế u m ộ t tr o / lí’ Iiliữ ii” u y n á/u C/IIU, là n h ữ iiii
11
”ưv
ilú n ạ n h ớ . liu n ă m nay .
lụi la nhữnV ngàv mù tu cô quên dì (Phu nữ sơ 4. 9/3/1938. tr 16)
*Kết luận:
Vận dụng cơ sở lý thuvết NT2Ữ pháp tri nhận vào việc phàn tích các tư liệu tiến2 Viêt.
chuyên luận đã aiải quvết được những vấn đé sau:
- Thốns kè các càu trúc càu được các nhà Việt ngữ học coi là có tính điểu kiện.
- Tim ra cáu trúc câu điều kiện căn bản trong tiếng Việt (theo lý thuvết Điên mẫu cúa
Langacker)
- Phàn tích nhữn2 tham số cúa câu điều kiên tiếng Việt (liên từ điéu kiên, quan hẽ 2Ìữa mẽnli
đề điều kiên và mệnh để chính)
- Phân tích và xẽp loai các kiêu càu điéu kiên căn ban. dựa vào cơ sơ chính là quan hệ nsữ
OCT.05.2003
VIETNAM
02 Drops
N0v.05.2003
VIETT
■JAM
JAM
02 Drops
- —
DEC.05.2003
VIETT
DPT
Diphtheria
Tetanus
Pertussis
0,5ml
0,5ml
0,5ml
OCT.05.2003
NO V.05.2003
DEC.05.2003
VIETNAM
VIETNAM
VIETNAM
DT
Diphtheria
Tetanus
NOT IN
TETAVAX
Tetanus
1 ^
W -
MD. NGUYEN LE NGA
Stamp
r m m t ộ can M Ị : ‘ S S ' © S i
ị’ - 1
L i
Dat<
MAI<