nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị của cộng hưởng từ 1.5t trong chẩn đoán và phát hiện nguyên nhân chảy máu dưới nhện - Pdf 22


1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Tai biến mạch máu não là một vấn đề cổ điển, nhưng lại luôn mang tính
thời sự. Theo tổ chức Y tế thế giới (1990) tỷ lệ tử vong và tàn phế cao đứng
thứ ba sau các bệnh lý tim mạch và ung thư. Chảy máu dưới nhện là một thể
của tai biến mạch máu não. Máu từ các mạch vỡ chảy vào các khoang dưới
nhện và hòa lẫn vào dịch não tủy. Theo nghiên cứu của các nước cho thấy,
nguyên nhân chảy máu dưới nhện khoảng 60-70% là do vỡ phình động mạch
não. Có khoảng 15% các trường hợp chảy máu dưới nhện tử vong trước khi
đến viện. Đối với phình động mạch đã vỡ, điều trị sớm trong vòng 24-72 giờ
được đề cập tới vì nguy cơ vỡ trở lại cao với xấp xỉ 20% trong vòng hai tuần
đầu sau khi có chảy máu dưới nhện [17], [18], [28].
Chảy máu dưới nhện xảy ra ở mọi lứa tuổi, từ trẻ sơ sinh cho đến người
cao tuổi. Tuy tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn chảy máu não và nhồi máu, nhưng
bệnh diễn biến lại rất phức tạp, việc tiên lượng và điều trị còn gặp nhiều khó
khăn, phụ thuộc rất nhiều vào chẩn đoán sớm và nguyên nhân gây bệnh.
Ngày nay với sự tiến bộ vượt bậc của chuyên ngành chẩn đoán hình ảnh,
không chỉ dừng lại ở chẩn đoán xác định chảy máu dưới nhện, tìm ra được
nguyên nhân gây chảy máu mà còn điều trị nút phình mạch não bằng can
thiệp nội mạch.
Cộng hưởng từ và chụp cắt lớp vi tính rất có giá trị chẩn đoán chảy máu
dưới nhện. Chụp CLVT trong vòng 24h đầu sau khi đột quỵ có thể phát hiện
ra chảy máu dưới nhện tới 95% [34]. Giai đoạn bán cấp và muộn xung T2* có
viền giảm tín hiệu do thoái hóa hemosiderin bề mặt khoang dưới nhện và tồn
tại lâu dài, khẳng định di chứng của xuất huyết dưới nhện[18],[28].
Mặt khác, cộng hưởng từ là phương tiện chẩn đoán phình mạch nội sọ
không xâm nhập, rất chính xác và không có nguy cơ tai biến như chụp mạch
số hóa xóa nền [5],[14],[17],[18].


và trung tâm cơ thể. Phương pháp này đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều
chuyên khoa Tim- mạch, Thần kinh, Hô hấp, Tiêu hóa.
Năm 1971, Hounsfield và Ambrose cho ra đời chiếc máy chụp cắt lớp vi tính
đầu tiên, đã tạo bước ngoặt lớn trong nền y học, có giá trị đặc biệt trong chẩn đoán
bệnh tai biến mạch máu não nói chung và chảy máu dưới nhện nói riêng [14].
Năm 1983, trong lĩnh vực chụp mạch máu có tiến bộ mới là chụp mạch
máu số hóa xóa nền cho phép nhìn thấy rõ các mạch máu với lượng thuốc cản
quang rất ít. Cộng hưởng từ não – mạch não có thể phát hiện được các dị dạng
mạch máu và các phình mạch lớn ở các động mạch chính của não, đặc biệt là
đa giác Willis [14], [18].
Gần đây chụp cắt lớp vi tính sọ não 64 dãy cho phép xác định sớm các dị
dạng mạch [19]. Đây là phương pháp chụp mạch không xâm nhập nên được
áp dụng ở tất cả các bệnh nhân có tăng huyết áp và rối loạn đông máu.

4
1.1.2. Việt Nam.
Ở Việt Nam nghiên cứu về chảy máu dưới nhện đã được tiến hành từ
năm 1960 có thể điểm lại một số công trình như sau:
Năm 1962, Nguyễn Thường Xuân, Nguyễn Văn Đăng và Nguyễn Văn
Diễn đã nêu một số nhận xét về lâm sàng, tiên lượng và điều trị phẫu thuật
phồng động mạch não [6].
Năm 1988, Lê Xuân Trung đã nghiên cứu sâu về phình động mạch và
các dị dạng mạch não [31].
Trong luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Văn Đăng (1990) “ Góp phần
nghiên cứu lâm sàng, chẩn đoán và xử trí xuất huyết nội sọ ở người trẻ dưới
50 tuổi” mới đề cập một phần chảy máu dưới nhện [8].
Năm 1993, Phạm Thị Hiền trong luận văn tốt nghiệp chuyên khoa cấp II đã
đưa ra nhận xét lâm sàng chẩn đoán xử trí chảy máu dưới nhện mà nguyên nhân là
do vỡ phình mạch não và thông động tĩnh mạch, lứa tuổi hay gặp 20-40 [11].
Năm 1994, Hoàng Đức Kiệt nhận thấy trên phim chụp cắt lớp vi tính một

+ Màng cứng
+ Màng nhện
+ Màng mềm hay màng nuôi
Giữa xương và các màng cũng như giữa các màng với nhau có các khoang
để làm giảm nhẹ va chạm. Đặc biệt ở khoang dưới nhện và các não thất còn chứa
dịch não tủy có tác dụng bảo vệ và nuôi dưỡng cho não và tủy sống.
1.2.2. Màng cứng:
Gồm hai lớp: Lớp ngoài dính chặt vào xương sọ giống như màng xương,
lớp trong hay màng não cứng dày 1-2mm, rất dai do đó hiếm thấy bị rách
trong chấn thương sọ não. Màng cứng dính vào xương sọ nhưng không đều.

6
Ở vùng vòm sọ đặc biệt là vùng thái dương màng cứng dính ít do đó dễ có tụ
máu dưới màng cứng hay khi có chấn thương.
1.2.3.Màng nhện:
Là một màng có hai lá bọc não và tủy sống, nằm giữa màng cứng và
màng mềm.
Giữa hai lá của màng nhện có khoang nhện đó là khoang ảo. Khoang giữa
màng cứng và màng nhện là khoang dưới cứng, giữa màng nhện và màng mềm
là khoang dưới nhện. Trong khoang dưới nhện có chứa dịch não tủy.
Phần màng nhện ở não có đặc điểm đi bắt ngang qua các khe các rãnh bề
mặt của não mà không đi sâu vào rãnh như màng mềm (trừ rãnh liên bán cầu).
1.2.4. Màng mềm:
Là lớp màng rất mỏng bao bọc não và tủy sống. Nó là màng mạch vì có
nhiều đám rối mạch máu nhỏ.
Màng mềm hay màng nuôi ở não bao bọc toàn bộ bền mặt não. Nó đi sâu
vào các khe, các rãnh ở bán cầu đại não cũng như tiểu não, cùng với các mạch
máu màng mềm tạo ra các đám rối màng mạch não thất bên, não thất III và
đám rối màng mạch não thất IV.
Khoang dưới nhện nằm giữa màng nhện và màng nuôi, trong khoang

dịch não tủy đi qua hạt nhện được hấp thu vào các xoang tĩnh mạch sọ.
1.2.7. Các mạch máu của màng não:
- Động mạch nuôi màng cứng được tách ra từ nhiều nguồn.
+ Hố sọ trước: Được nuôi dưỡng bởi các nhánh màng não trước, tách từ
nhánh sàng trước và sàng sau, động mạch mắt và một nhánh tách từ động
mạch não giữa.
+ Hố sọ giữa: Được nuôi dưỡng bởi nhánh màng não giữa và nhánh
màng não phụ (nhánh của động mạch hàm trên).

8
+ Hố sọ sau: Được nuôi dưỡng bởi các nhánh tách ra từ động mạch đốt
sống và động mạch hầu trên.
- Động mạch nuôi dưỡng cho màng nhện và màng mềm là các nhánh tách
ra từ động mạch não.
- Các tĩnh mạch đổ về các xoang tĩnh mạch sọ.

Atlas giải phẫu hình 94.
Hình 1.1. Sơ đồ màng nhện.
1.2.8. Hệ thống não thất:
Do sự phát triển của não phần tiếp tục của ống nội tủy (ống trung tâm)
ở não biến đổi thành các não thất.
- Não thất IV: thuộc trám não có hình cái lều gồm hai phần là phần nền
và phần mái, não thất IV thông với khoang dưới nhện bởi ba lỗ ở màng mái,
lỗ giữa hay lỗ Magendie và hai lỗ bên hay lỗ Luschka.
Não thất IV thông với ống nội tủy ở góc dưới với cuống não qua cống
Sylvius ở góc trên của nền não thất IV.
- Não thất III: là một khe đứng dọc thuộc gian não, ở dưới thông với não
thất IV qua cống Sylvius, hai bên thong với não thất bên qua các lỗ Monro.

9

Động mạch này đi qua tam giác khứu uốn quanh thùy đảo và chạy ra
phía sau vào rãnh Sylvius. Các nhánh sâu từ chỗ xuất phát mạch chính đi qua
khoảng rách trước vào tưới máu bao trong, thể vân và phía trước đồi thị. Một
trong số các nhánh này to hơn các nhánh khác được gọi là động mạch Charcot
hay “động mạch chảy máu não” vì hay vỡ do huyết áp tăng cao hoặc xơ cứng
mạch, gây chảy máu dữ dội.
1.2.9.5. Động mạch não trước:
Động mạch này thoát ra từ động mạch cảnh đi ra phía trước và giữa trên
của dây thị giác đến chỗ bắt đầu của đường nứt dọc nối với động mạch não
trước có một nhánh là động mạch Heuber bắt nguồn ngay trên hoặc dưới động
mạch thông trước, tưới máu cho phần trước của bao trong, phần đầu nhân
đuôi và nhân bèo xám.
1.2.9.6. Động mạch sống:
Động mạch này xuất phát từ khúc đầu của động mạch dưới đòn đi lên
trong các lỗ mỏm ngang của sáu đốt sống cổ. Khi lên trên, động mạch uốn
quanh sau khối bên của đốt đội để chui vào lỗ chẩm đến bờ thấp của cầu não
nhập với động mạch cùng tên bên đối diện tạo thành động mạch thân nền.

11
1.2.9.7. Động mạch thân nền:
Động mạch này được tạo nên bởi sự nối liền của hai động mạch sống và
nằm ở rãnh giữa phía trước của cầu não, nó nằm giữa hai dây thần kinh VI ở
dưới và hai dây thần kinh số III ở trên.
1.2.9.8 Động mạch tiểu não trên:
Động mạch này xuất phát từ gần chỗ tận của động mạch thân nền và đi
ngang ra phía bên dưới dây III rồi vòng quanh cuống não và tưới máu cho phần
trên tiểu não. Nó cũng có một nhánh quan trọng cho tiểu não và tuyến tùng.
1.2.9.9. Động mạch não sau:
Động mạch này bắt nguồn từ đỉnh của động mạch nền, có vai trò quan
trọng và nối với hệ cảnh qua động mạch thông sau. Động mạch não sau đi

Theo Alper, Berry và Paddison (1959) các thay đổi giải phẫu có thể gặp:
+ Đoạn A1 của động mạch não trước một bên nhỏ hoặc thiểu sản gặp 2%.
+ Động mạch thông sau nhỏ hoặc thiểu sản gặp 22%.
+ Thiểu sản động mạch thông trước gặp 3%.
+ Thiểu sản một động mạch não (ít gặp).

1.2.10. Hệ tĩnh mạch não:
Hệ tĩnh mạch não gồm các xoang tĩnh mạch màng cứng và tĩnh mạch
não. Tĩnh mạch não bao gồm tĩnh mạch não và tĩnh mạch trong sâu. Các
nhánh tĩnh mạch gồm: xoang tĩnh mạch dọc trên, dọc dưới, xoang thẳng,
xoang ngang, xoang chẩm, xoang sigma và xoang hang. Các xoang tĩnh mạch
này dẫn lưu máu não đổ vào tĩnh mạch cảnh trong.
1.3. Nguyên nhân và cơ chế chảy máu dưới màng nhện.
1.3.1. Nguyên nhân chảy máu dưới nhện.
1.3.1.1.Vỡ phình mạch não.
Đây là nguyên nhân chủ yếu gây chảy máu dưới nhện, chiếm khoảng
60-70% [ 17], [18], [28].

13
Phình mạch được hình thành và phát triển dần trên cơ sở những chỗ
thành mạch bị suy yếu bẩm sinh hoặc do bệnh lý. Phình mạch hay gặp ở đa
giác Willis và các động mạch não lớn nằm ở nền sọ 80- 90% thuộc động
mạch cảnh trong, 10-20% thuộc động mạch hệ sống nền [17],[18], [56].
Phình động mạch não chia làm 3 loại: dạng hình túi, hình thoi và phình tách.
1.3.1.1.1. Phình dạng hình túi.
+ Dạng hay gặp nhất: Động mạch giãn khu trú hình túi gồm cổ- đáy túi
và thành túi, thường nhô ra từ điểm chia đôi của động mạch nơi có thay đổi
huyết động dẫn đến sang chấn thoái hóa mạch.
+ Vị trí: 90% gặp trong đa giác Willis, trong đó 85% túi phình ở vòng
tuần hoàn phía trước. Thông thường ở động mạch thông trước gặp 30-35%,

Thông
sau
Đỉnh thân
nền
1.3.1.1.2. Phình động mạch dạng hình thoi.
+ Là giãn khu trú một đoạn mạch, có một đầu vào và một đầu ra là mạch
mang, không có cổ túi. Khi kích thước lớn gây chèn ép tổ chức não lân cận
hoặc gây liệt thần kinh sọ. Cục máu đông thường có trong lòng mạch và ảnh
hưởng tới nhánh sinh ra từ đoạn mạch đó gây nhồi máu não.
+ Vị trí hay gặp phình hình thoi thuộc hệ thống động mạch đốt sống thân
nền, nhất là đoạn V4 [19].
1.3.1.1.3. Phình dạng bóc tách.
Trong động mạch bị bóc tách, máu tụ lại trong thành mạch qua điểm rách
nội mạc. Nếu khối máu tụ này đẩy vào trong lòng mạch sẽ gây hẹp hoặc tắc
lòng mạch, nếu khối máu tụ tiến tới sát lớp áo ngoài sẽ đẩy lồi ra dạng túi khi
đó được gọi là phình tách.
1.3.1.2. Chảy máu dưới nhện do dị dạng động mạch- tĩnh mạch não.
Dị dạng động mạch – tĩnh mạch não đa số là do bẩm sinh, hay gặp ở bề
mặt bán cầu đại não và trong nhu mô. Do có sự thông động mạch – tĩnh mạch
làm lưu lượng máu khu vực này tăng lên, máu động mạch chảy vào trong tĩnh
mạch gây chảy máu tĩnh mạch vào khoang dưới nhện ở bán cầu đại não.

15
Cấu tạo của một ổ dị dạng thông động – tĩnh mạch não gồm ba thành
phần cơ bản là động mạch nuôi, ổ dị dạng và tĩnh mạch dẫn lưu.
+ Các động mạch nuôi ổ dị dạng: có thể có một hay nhiều động mạch
nuôi ổ dị dạng. Các động mạch này có kích thước khác nhau, thường có thành
dày, chạy ngoằn ngoèo, với dòng chảy có lưu lượng cao đi vào ổ dị dạng mà
sự nối thông động – tĩnh mạch xảy ra qua một hay nhiều lỗ rò. Các động
mạch nuôi thường được tách ra từ một hay nhiều nhánh của hệ mạch cảnh

0
Nông
0
Hệ tĩnh mạch dẫn lưu
Sâu/ phối hợp
1
1.3.1.3. Do các nguyên nhân khác
-Tăng huyết áp: là yếu tố nguy cơ chảy máu dưới nhện ở những bệnh
nhân có phình mạch, còn tăng huyết áp ở những bệnh nhân không có phình
mạch thì rất ít và thường gây chảy máu não.
- Chảy máu dưới nhện quanh cầu não không rõ nguyên nhân chiếm 10 – 15%.
- Một số nguyên nhân khác: do chấn thương, do rối loạn đông máu, do
viêm mạch…
1.3.2. Cơ chế bệnh sinh chảy máu dưới nhện.
- Chảy máu dưới nhện do vỡ phình mạch não được xác định khi phình
mạch phát triển dần dần, kích thước to ra, thành mỏng hơn và cuối cùng nó
không chịu được áp lực dòng máu nữa sẽ vỡ ra gây chảy máu vào khoang
dưới nhện, có thể kết hợp chảy máu trong nhu mô và não thất [28].
- Chảy máu dưới nhện do dị dạng động – tĩnh mạch.

17
Do tuần hoàn dòng máu ở đây bị rối loạn, lưu lượng máu tăng cao, áp
lực máu từ động mạch sang tĩnh mạch cao làm giãn các tĩnh mạch và gây chảy
máu. Người ta cũng thấy trong khối dị dạng động – tĩnh mạch có rất nhiều phình
mạch hoặc giả phình đi kèm, chúng rất dễ vỡ khi thay đổi huyết áp [3].
1.4. Lâm sàng chảy máu dưới nhện.
Phình mạch não vỡ là nguyên nhân chính gây chảy máu dưới nhện,
chiếm 60-70% các trường hợp chảy máu dưới nhện [18], [28].
Bệnh cảnh điển hình:
Biểu hiện đau đầu đột ngột, cường độ mạnh, đôi khi được mô tả kiểu “sét

V Hôn mê sâu G 3-6

Theo các bài báo được ấn hành ,70% các tác giả sử dụng thang phân loại
Hunt- Hess, khoảng 20% theo WFNS và dưới 10% theo phân loại khác [28].
Đa số các tác giả đều đồng ý rằng, thang phân loại Hunt –Hess đánh giá chính
xác tiên lượng tử vong hơn, trong khi thang phân loại GCS (Glasgow coma
score) và thang phân loại sửa đổi WFNS tiên lượng chức năng tốt hơn và chủ
yếu đánh giá phục hồi.
1.5. Biến chứng chảy máu dưới nhện.
1.5.1.Co thắt mạch não.
Co thắt mạch não là một trong những biến chứng hay gặp và quan trọng
nhất của chảy máu dưới nhện, chiếm 46% và là nguyên nhân chính gây tử
vong và tàn tật trên bệnh nhân chảy máu dưới nhện, thường kèm nhồi máu
muộn theo Solenski 1995.
Co thắt mạch não xuất hiện sớm từ ngày thứ ba sau chảy máu dưới nhện
và đỉnh cao là ngày thứ sáu đến ngày thứ tám, rồi giảm dần từ ngày thứ 12
cho đến ngày 21 của bệnh [21], [28].
Cơ chế gây co mạch khi chảy máu dưới nhện:

19
Do sản phẩn thoái hóa biến hồng cầu trong DNT… từ oxiheamoglobin
→ deoxiheaglobin→ metheamoglobin→ bilirubin, các chất này kích thích
thành mạch gây co thắt mạch.
Khi vỡ phình mạch: nội mạc động mạch tăng sinh, dày lên, hoại tử sợi cơ
và xơ hóa lớp áo giữa, tăng sinh cơ trơn, lắng đọng collagen, tăng kết dính
tiểu cầu, dẫn đến dày thành động mạch, rối loạn các yếu tố vận mạch, mất khả
năng tự điều hòa vận mạch dẫn đến co thắt và gây nhồi máu
1.5.2.Chảy máu tái phát.
Đây là biến chứng nguy hiểm nhất gây tử vong cao và di chứng nặng nề,
hay xảy ra trong chảy máu dưới nhện.

Xét nghiệm dịch não tủy còn có giá trị để chẩn đoán phân biệt chảy
máu dưới nhện với viêm màng não, chẩn đoán nguyên nhân viêm màng não.
1.6.2. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh.
1.6.1.1. Chụp cắt lớp vi tính sọ não đơn dãy.
Trên phim chụp cắt lớp vi tính không tiêm thuốc:
+ Chảy máu dưới nhện có dạng hình ảnh tăng tỷ trọng tự nhiên trong
khoang dưới nhện: bể não, rãnh cuộn não, các khe liên bán cầu, khe Sylvius,
chảy máu não thất. Vùng tập trung máu khoang dưới nhện gợi ý vị trí phình
mạch. Chảy máu khe liên bán cầu hoặc trong não thất là đặc điểm vỡ phình
mạch thông trước hoặc phần xa động mạch não trước

21

Hình 1.6. Chảy máu dưới nhện thái dương và khe Sylvius phải [19]
+ Chảy máu trong nhu mô não, hay gặp với phình mạch vị trí thông sau
và não giữa hơn là các phình mạch vị trí khác. Chảy máu trong nhu mô não
cũng thường thấy trên bệnh nhân có chảy máu tái phát, vì sau lần chảy máu
trước, có các sợi fibrin gây co kéo dính khoang dưới nhện xung quanh và kéo
túi phình về phía nhu mô não.
+ Chảy máu trong não thất: Nếu lượng máu ít, thấy đọng ở vị trí thấp của
sừng chẩm tạo mức ngang ngăn cách giữa máu và dịch não tủy. Nếu chảy
máu nhiều lượng máu chiếm toàn bộ não thất.
Tuy nhiên, trường hợp chảy máu ít trong khoang dưới nhện thì rất khó
xác định. Vì thế độ nhạy của chụp CLVT phát hiện chảy máu dưới nhện phụ
thuộc vào thể tích máu thoát ra, độ cô đặc máu và khoảng thời gian từ khi vỡ
tới khi chụp CLVT liên quan hoà loãng máu dịch não tủy. Sử dụng máy chụp
CLVT hiện đại và chụp trong vòng 24h sau khi xuất hiện bệnh cảnh đột quỵ,
thì CLVT phát hiện máu trong khoang dưới nhện tới 95% các trường hợp.
Theo Adams và cs 1983, độ nhạy của CLVT giảm xuống còn 80% ngày thứ
3, 70% ngày thứ 5, 50% sau một tuần, 30% sau 2 tuần [34]. Vì vậy sau vài

512x512. Tái tạo đứng ngang và đứng dọc.
* Khái quát các chuỗi xung :
• Chuỗi xung T1 EG:

23
- Sử dụng TR ngắn và TE ngắn, góc lật < 90 độ.
- Trên hình chuỗi xung T1, các mô có T1 ngắn sẽ có tín hiệu mạnh
(màu trắng) còn các mô có T1 dài sẽ có tín hiệu yếu (màu đen).
• Chuỗi xung T2:
- Sử dụng TR dài và TE dài.
- Các mô T2 dài sẽ có tín hiệu mạnh (màu trắng) còn các mô có T2
ngắn sẽ có tín hiệu yếu (màu đen).
• Chuỗi xung FLAIR:
- Đây là chuỗi xung xóa tín hiệu của các dịch đơn giản như dịch não tủy.
- Sử dụng TR thật dài, TE dài, TI dài.
- Ảnh thu được thuộc loại ảnh T2, nhưng các thành phần thuần nước
và dịch không có tín hiệu.
• Chuỗi xung T2*: đây là chuỗi xung rất nhạy để phát hiện chảy máu.
Khi có xuất huyết, tính chất thuận từ của sắt sẽ làm cho từ trường cục
bộ trở nên kém đồng nhất. Vận dụng đặc điểm nhạy với tình trạng không
đồng nhất của từ trường cục bộ của chuỗi xung này, người ta dùng nó để
xác định chẩn đoán. Khi dùng TE đủ dài, trên ảnh T2* vùng mô đó sẽ hầu
như mất tín hiệu.
. Chuỗi xung mạch TOF 3D :
* Nguyên lý chuỗi xung TOF 3D:
Phát hiện hình ảnh đi vào trong mặt phẳng cắt. Thực hiện chuỗi xung
Echo gradient, với thời gian lặp lại xung ngắn để bão hòa các Proton cố định
trong một mặt phẳng cắt. Trên thực tế, thực hiện thời gian lặp lại xung ngắn
hạn chế xuất hiện trở lại từ trường dọc tối đa của các Proton cố định, do đó đo
được từ trường ngang. Nói cách khác, những Proton cố định tạo ra tín hiệu rất

Trên cả 2 phương pháp chụp đều thấy hình ảnh túi phình đoạn xoang
hang của động mạch cảnh trong phải, kích thước 6x12mm, bờ túi phình rõ.
- Hình ảnh xuất huyết dưới nhện trên cộng hưởng từ.

25
+ Giai đoạn bán cấp : dựa chủ yếu trên xung FLAIR và T2 echo gradient.
Trên xung FLAIR thấy hình tăng tín hiệu trong khoang dịch não tủy và quanh
não. Thực tế khi có một lượng nhỏ máu trong khoang dưới nhện đã có thể
phát hiện trên xung FLAIR và Protondensity. Sau vài ngày tiến triển, thì tín
hiệu trên T2 FLAIR mờ nhạt đi. Xung T2* có hình giảm tín hiệu bề mặt trong
khoang dưới nhện do nhiễu từ của Hemosiderin. Sự giảm tín hiệu này tồn tại
suốt đời khi đã có chảy máu. Do đó vai trò quan trọng của cộng hưởng từ là
chẩn đoán chảy máu dưới nhện khi CLVT âm tính.

Hình 1.9. Hình ảnh chảy máu dưới nhện do vỡ phình mạch trên CLVT(A),
CHT(B) và DSA(C)[18].
+ Kết quả dương – âm tính giả trên FLAIR có thể gặp liên quan tới dòng
chảy trong dịch não tủy hay gặp tại hố sau và bể nền sọ, tăng protein trong DNT
(bệnh viêm), tăng áp lực oxy ở bệnh nhân thông khí nhân tạo (tăng tín hiệu ở rãnh
cuộn não và não thất), trên bệnh nhân được gây mê bằng Propofol. Tuy nhiên vấn
đề này được khắc phục trên xung PD (Protondensity) và T2*.
- Chụp mạch não CHT:
Là phương pháp chẩn đoán phình mạch nội sọ không xâm nhập, rất chính
xác và không có nguy cơ tai biến như chụp mạch số hóa xóa nền. Hai kỹ thuật
TOF và chụp mạch CHT có tiêm thuốc đối quang từ là hay được sử dụng nhất
để nghiên cứu mạch não.
+ Chụp mạch không tiêm thuốc xung TOF 3D. Các tín hiệu như dòng
máu đi vào mặt phẳng cắt sẽ tăng tín hiệu. Hướng thể tích cắt để thực hiện

Trích đoạn Phát hiện dị dạng thông động tĩnh mạch não trên CHT Đặc điểm phình mạch não trên CHT và chụp mạch số hóa xóa nền thức bệnh nhân khi vào viện Tín hiệu chảy máu dưới nhện trên CHT Vỡ phình mạch não
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status