Đặc điêm tri nhận của người Việt qua trường từ vựng chỉ trang
sức trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Bộ ba tư duy – ngôn ngữ - văn hoá có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Trong khoa học ngôn ngữ, việc lựa chọn cách thức nghiên cứu ngôn
ngữ trong mối quan hệ với văn hoá, tư duy là một hướng đi đúng đắn trong
giai đoạn hiện nay.
1.2. Thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong vốn ngôn ngữ văn hoá chớnh
những yếu tố phản ánh tư duy và ý thức văn hoá dõn tộc. Thông qua ý
nghĩa của những sự vật trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao ta có thể hình
dung được “lối nghĩ” riêng của mỗi con người trên từng vùng lónh thổ. Vì
vậy, thành ngữ, tục ngữ, ca dao không chỉ được coi là một đơn vị ngôn ngữ
mà hơn thế, nó cũn là một đơn vị ngôn ngữ văn hoá.
1.3. Trang sức (nhẫn, vòng tai, xuyến, trõm…) được coi là một di
sản văn hoá phi vật thể đã lưu giữ những phong tục, tập quán, tín ngưỡng
của mỗi vùng, miền, mỗi quốc gia, lónh thổ. Thông qua trang sức mà con
người sử dụng, ta sẽ thấy được những khớa cạnh khác nhau trong đời sống
của họ. Với chất liệu, chức năng …khác nhau của trang sức được sử dụng ở
những giới tớnh, đẳng cấp…khác nhau của con người sẽ tạo ra ý nghĩa biểu
trưng khác nhau.
Nghiên cứu ý nghĩa của những trang sức được nhắc đến trong thành
ngữ, tục ngữ, ca dao, đề tài sẽ cung cấp một cái nhìn đầy đủ hơn về vị trí
của biểu tượng này trong đời sống tinh thần người Việt, sự tiếp nhận và
sáng tạo chúng trong ngôn ngữ nghệ thuật.
2. Lịch sử vấn đề
1
2.1. Tổng quan về sự ra đời và phát triển của ngôn ngữ học tri nhận.
2.1.1. Trên thế giới
Ngôn ngữ học tri nhận ra đời vào những năm đầu của thập niên 60
của thế kỉ XX, song song với một khuynh hướng mới có tên gọi là ngữ
(5) Conceptual metaphor theory (Lí thuyết ẩn dụ ý niệm)
(6) Conceptual mentonymy (Hoán dụ ý niệm)
(7) Mental spaces theory (Lí thuyết không gian tinh thần)
(8) Conceptual blending theory (Lí thuyết hỗn dung ẩn dụ)
Hướng đi thứ hai: Ngữ pháp học tri nhận, với các tên tuổi: Talmy,
Langacker, Goldberg… bao gồm các nhánh:
(1) Talmy’s grammartical vs. lexical sub-systems approach (Hướng
tiếp cận hệ thống ngữ pháp trong quan hệ với từ vựng của Talmy)
(2) Cognitive grammar (Ngữ pháp tri nhận)
(3) Constructional approaches to grammar (Các hướng tiếp cận ngữ
pháp từ cấu trúc), gồm:
. Fillmore’s Construction Grammar (Ngữ pháp cấu trúc của
Fillmore)
. Goldberg’s Construction Grammar (Ngữ pháp cấu trúc của
Goldberg)
. Radical Construction Grammar (Ngữ pháp cấu trúc gốc)
. Enbodied Construction Grammar (Ngữ pháp cấu trúc nghiệm thõn)
(4) Cognitive approaches to grammarticalization (Các hướng tiếp cận
tri nhận về ngữ pháp hoá)
Về các quan điểm và nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận, có
các vấn đề sau:
(1) Ngôn ngữ không phải là một khả năng tri nhận tự tri (autonomos)
3
(2) Ngữ nghĩa và ngữ pháp là sự ý niệm hoá (conceptualisation)
(3) Tri thức ngôn ngữ nảy sinh ra từ sự sử dụng ngôn ngữ.
(4) Ý nghĩa của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn
ngữ mà có nguồn gốc sõu xa từ kinh nghiệm được hình thành trong quá
trình con người và thế giới tương tác với nhau, từ tri thức và hệ thống niềm
tin của con người; ngữ nghĩa là một bộ phận của hệ thống ý niệm tổng thể
chứ không phải là một “module” tự trị độc lập.
ngữ số 10, 11/2007.
- Nguyễn Đức Tồn, Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm từ biểu thị cảm
giác trong tiếng Việt.
- Nguyễn Đức Tồn, Đặc trưng tư duy người Việt qua ẩn dụ tri nhận
trong thành ngữ, Tạp chí ngôn ngữ, 12/2008 và 1/2009.
- Nguyễn Ngọc Vũ, Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có
yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận, 2008.
- Phan Thế Hưng, Ẩn dưới góc độ tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việt
và tiếng Anh), 2009.
- Nguyễn Thị Thanh Huyền, Ẩn dụ tri nhận, mô hình cấu trúc trên
ngữ liệu ca từ Trịnh Công Sơn, 2009.
- Bựi Thị Dung, Ẩn dụ tri nhận trong ca dao, 2008.…
Nghiên cứu theo hướng ngữ pháp học tri nhận, tiêu biểu là các công trình:
- Đỗ Hồng Dương, Bước đầu áp dụng lí thuyết điển mẫu vào nghiên
cứu thành phần chủ ngữ trong câu tiếng Việt, Tạp chí ngôn ngữ, 11/2008.
- Nguyễn Khánh Hà, Lí thuyết điển mẫu và câu điều kiện điển mẫu
trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, 8/2008.
5
- Ly Lan, Ý niệm biểu đạt trong biểu thức có từ “mặt”, từ “anger”
của tiếng Việt và tiếng Ạnh: một khảo sát ẩn dụ tri nhận, Tạp chí ngôn ngữ,
10/2009.……
Có những công trình không đích danh đặt nghiên cứu của mình dưới
góc độ lí thuyết tri nhận nhưng cách thưc và kết quả lại là một hướng tiếp
cận tri nhận. Có thể kể đến các công trình sau:
- Nguyễn Thị Ngõn Hoa, Sự phát triển ý nghĩa hệ biểu tượng trang
phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam, LA TS KHNV, 2005.
- Nguyễn Đức Tồn, Tìm hiểu đặc trưng văn hoá – dân tộc của ngôn
ngữ và tư duy người Việt, NXB ĐHQGHN, H.2009.
2.2. Lịch sử nghiên cứu trường từ vựng trang sức
Ở một số công trình, theo cách này hay cách khác cũng đã nhắc đến
trang sức. Với tình hình nghiên cứu như vậy, chúng tôi mong muốn tiếp cận
thành ngữ, tục ngữ, ca dao liên quan đến trang sức một cách hợp lí từ góc độ
lí thuyết tri nhận để tìm ra đặc trưng văn hoá và tư duy của người Việt.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu nội dung tri nhận và cơ chế tri nhận
trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao liên quan đến trang sức. Để từ đó tỡm ra
đặc điểm tư duy người Việt về trang sức và mối quan hệ giữa chúng với đời
sống cư dõn Việt
Để đạt những mục đích đó, chúng tôi tiến hành:
- Thống kê tất cả những từ gọi tên trang sức trong từ điển và nguồn
tự nhiên.
- Thống kê tất cả những thành ngữ, tục ngữ, ca dao liên quan đến
trang sức.
7
- Đặt ra và trả lời câu hỏi: quá trình phạm trù hoá trang sức đã
được người Việt thực hiện như thế nào thông qua cách thức phân loại
dân dã trang sức, mô hình thuộc tính phạm trù trang sức và điển dạng
của trang sức.
- Tỡm hiểu ẩn dụ tri nhận trong trường từ vựng chỉ trang sức
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Các từ ngữ thuộc trường từ vựng liên
quan đến trang sức.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Chúng tôi tiến hành khảo sát thống kê, nghiên cứu thông qua một số
cuốn từ điển sau:
- Từ điển thành ngữ tiếng Việt - Nguyễn Lực, Lương Văn Đang.
NXB KHXH.H, 1993.
- Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nguyễn Lõn, NXB Văn
hoá, H.1989.
- Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt - Nguyễn Như Ý, Hoàng
trang sức trong tiếng Anh để so sánh đối chiếu, nhằm chỉ ra một số điểm
tương đồng và dị biệt, từ đó bước đầu nhận định về đặc điểm tri nhận trang
sức giữa người Anh và người Việt.
5.4. Phương pháp thực nghiệm
Kiểm chứng về điển dạng trong trường từ vựng chỉ trang sức thông
qua khảo sát một số nhúm đối tượng cụ thể. (Nội dung thực nghiệm chúng
tôi xin trình bày cụ thể ở chương 2)
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm ba chương sau:
9
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Khảo sát những biến thể ngôn ngữ trường từ vựng chỉ
trang sức.
Chương 3: Đặc điểm tri nhận về khách thể (trang sức) và chủ thể
(con người) qua trường từ vựng trang sức trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Việt Nam.
10
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ học tri nhận
Ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics) là một khuynh hướng
ngôn ngữ học ra đời vào những năm 80 của thế kỉ XX với nhiệm vụ trung
tâm là nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy của con người,
nghiên cứu cách con người nhận thức thế giới (thế giới thực tại, thế giới phi
thực tại) qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa. Do đó đối tượng nghiên cứu
chính của ngôn ngữ học tri nhận không chỉ là những hiện tượng có thể quan
sát trực tiếp được, mà còn cả những hiện tượng không thể quan sát trực tiếp
được như tri thức, ý thức, tinh thần, ý chí v.v., những cái được gọi là những
biểu tượng tinh thần. Đơn vị tối thiểu của ngôn ngữ học tri nhận không phải
Tư tưởng “dĩ nhân vi trung” đã có lịch sử lâu đời. Ngôn ngữ học tiếp
thu tư tưởng này từ khá sớm (V.Humboldt “sức mạnh tinh thần của con
người”, Benvenise “con người trong ngôn ngữ”) và cuối cùng hình thành
khuynh hướng ngôn ngữ học hiện đại hay còn gọi là ngôn ngữ học tri nhận.
Vận dụng nguyờn lớ này trong việc nghiên cứu mô hình không gian,
tác giả Lí Toàn Thắng [43] đã tìm ra tư thế “chuẩn tắc” (tư thế thẳng đứng)
và “không chuẩn tắc” của con người trong định hướng không gian. Nhân tố
trung tâm con người được thể hiện rất rõ nét trong cách định hướng không
gian, xác định kích cỡ và hình dáng của các bộ phận cơ thể con người. Từ
không gian cơ thể người sẽ đi đến cách tri nhận về không gian cơ thê vật.
Thông qua cách phân tích mô hình tri nhận không gian trên có thể
thấy trong ngôn ngữ phản ánh không chỉ tri thức của con người về thế giới
mà còn cả sự hình dung về thế giới đó. Trong ngôn ngữ tồn tại không phải
12
một thế giới khách quan mà là một thế giới chủ quan, thế giới đã được
“con người húa”. Xuất phát từ con người để nhìn nhận ngôn ngữ, nhìn
nhận thế giới, ngôn ngữ học tri nhận đã nghiên cứu ngôn ngữ trong mối
quan hệ với con người.
Trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt, nguyên lí “dĩ nhân vi
trung” của ngôn ngữ học tri nhận được thể hiện rõ nét. Ở đó, mọi sự vật
đều để chỉ con người, hướng tới con người và lấy con người làm trung tâm.
1.1.1.2. Ý niệm hóa thế giới và “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”
Theo William Croft and D.Alan Cruse, “ngôn ngữ học tri nhận hoạt
động bên ngoài cấu trúc có thể nhìn thấy được của ngôn ngữ và nghiên
cứu những thao tác tri nhận rất phức tạp ở hậu trường, điều đó tạo ra ngữ
pháp, ý niệm hóa, ngụn bản và sự suy nghĩ trực tiếp”. Hơn thế, hiện thực là
một đường liên tục không có đường phân giới rõ ràng, tuyệt đối, dứt khoát.
Trong quá trình nhận thức hiện thực khách quan và biểu hiện nhận thức ấy
bằng ngôn ngữ, con người đã phạm trù hóa hiện thực khách quan, cấu trúc
lại hiện thực hay ý niệm hóa thế giới theo cách nhất định.
ngữ và xã hội. Trung tõm chú ý của ngôn ngữ học tri nhận là hình ảnh con
người trong văn hoá và ngôn ngữ, do đó với nguyên tắc lấy con người làm
trung tõm, chúng tôi tiến hành khảo sát đặc trưng bản sắc dõn tộc của mô
hình “trang sức” và cách nhìn trang sức của con người trên ngữ liệu thành
ngữ, tục ngữ, ca dao.
1.1.1.3. Cơ chế ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận
Trong lý thuyết ngôn ngữ học cổ điển, ẩn dụ được coi là một vấn đề
thuộc ngôn ngữ chứ không phải là vấn đề của tư duy. Lối nói ẩn dụ được
cho là không có trong ngôn ngữ thông tục hàng ngày và ngôn ngữ hằng
ngày không có ẩn dụ. Nói cách khác, ẩn dụ chỉ được dùng trong các địa hạt
14
bên ngoài ngôn ngữ đời thường. Trong nhiều thế kỷ, người ta đã quá tin
vào lý thuyết cổ điển, tới mức, chẳng hề nhận ra được rằng chẳng qua nó
cũng chỉ là lý thuyết mà thôi. Người ta không chỉ tin lý thuyết đó là thật,
mà còn lấy nó để làm định nghĩa. Chữ phép ẩn dụ (metaphor) được định
nghĩa là cách biểu đạt ngôn ngữ của tiểu thuyết hoặc thi ca trong khi chỉ có
một hay vài từ chỉ một khái niệm nào đó được dùng vượt ra ngoài ý nghĩa
thông thường của nó để diễn đạt một khái niệm tương tự. Nhưng đây lại
không phải là vấn đề định nghĩa, mà là vấn đề kinh nghiệm. Với tư cách là
một người làm khoa học thực chứng và là một nhà ngôn ngữ học, người ta
có thể hỏi: Sự khái quát nào khiến cho những diễn đạt ngôn ngữ trở nên cái
mà các nhà nghiên cứu cổ điển gọi là ẩn dụ thi ca? Khi vấn đề này được tra
xét kỹ lường thì người ta sẽ thấy sự sai lầm của ngôn ngữ học kinh điển. Sự
khái quát thể hiện thành cách diễn đạt ẩn dụ có tính thi ca diễn ra không
phải ở trong ngôn ngữ, mà ở trong tư duy: nó là những liên tưởng khái quát
vượt qua ranh giới khái niệm. Hơn nữa, những nguyên tắc chung quy định
những định dạng ý niệm này không chỉ áp dụng vào những hình thức diễn
đạt trong thi ca và tiểu thuyết mà còn xuất hiện vô số trong ngôn ngữ thông
tục hàng ngày. Tóm lại, chỗ của ẩn dụ không hề là ở trong ngôn ngữ mà là
ở trong cỏi cỏch chúng ta khái quát hóa một hiện tượng tinh thần này bằng
theo cách hiểu của ngôn ngữ học tri nhận, thì hoàn toàn khỏc. Chỳng không
hoàn toàn võ đoán mà là có nguyên do. Nghĩa là, thành ngữ xuất hiện tự
nhiên theo các quy tắc sản sinh (producetive rule), nhưng lại chỉ có thể phù
hợp với một hay hơn một mô thức hiện hữu trong hệ thống ý niệm. Một
thành ngữ như spinning one’s wheel theo nghĩa tinh thần truyền thống là
bánh xe của xe hơi bị kẹt trong các vật liệu nào đó như bùn, cát, hay tuyết
nên xe không thể nào chuyển động dự mỏy đó khởi động và bánh vẫn quay.
Một phần tri trức của chúng ta về hình ảnh này là tốn kếm rất nhiều sinh
16
lực, năng lượng mà không mang lại kết quả, tiến bộ nào, rằng tình hình sẽ
vẫn không thay đổi hiện trạng, và rằng sẽ phải mất rất nhiều công sức mới
làm cho xe khởi động và chuyển động được, và rằng điều đó là hầu như
không thể. Ẩn dụ Love-as-Journey áp dụng vào trong tri thức về hình ảnh
này. Ẩn dụ này vạch ra đồ chiếu về tri thức phương tiện với tri thức về
quan hệ tình yêu: Tốn công phí sức nhưng thể nào đạt được đến được mục
đích chung, sẽ không thể nào thay đổi được hiện trạng, sẽ phải tốn rất nhiều
công sức để cả hai cựng nhỡn về một hướng v.v
Tóm lại, khi thành ngữ, tục ngữ, ca dao có liên hệ với các hình ảnh
quy ước, thì tất yếu sẽ phải có những ẩn dụ ý niệm mang tính nguyên nhân
gắn kết, phụ thuộc để vạch ra đồ chiếu tri thức từ nguồn tới đớch.Thật thú
vị khi thấy những khái niệm về tình cảm như tình yêu và sự giận dữ được
biểu đạt qua rất nhiều ẩn dụ cũng như rất nhiều trong số những khái niệm
cơ bản thuộc các hệ thống ý niệm cũng được hiểu thông thường qua các
khái niệm ẩn dụ như thời gian, chất lượng, tình trạng, sự thay đổi, hành
động, nguyên nhân, mục đích, phương tiện, tỡnh thỏi và thậm chí là các
khái niệm về một phạm trù lớn Đõy chính là cơ sở để hình thành cấu trúc
bề mặt, miền nguồn và miền đích trong thành ngữ, tục ngữ.
Một trong những cơ chế tri nhận về trang sức của con người
trong thành ngữ, tục ngữ chính là ẩn dụ tri nhận.
1.1.1.4. Lí thuyết về các phạm trù tri nhận và điển dạng
4 Đồ nội thất Ghế tựa (Chair)
5 Vũ khí Súng (Gun)
Bảng 1.1 Một số điển dạng phạm trù của người Mĩ
Các phạm trù tri nhận có cấu trúc hết sức phức tạp, bao gồm nhiều
điển dạng, các thí dụ đạt, các thí dụ tồi và có các ranh giới mờ.
Cấu trúc thuộc tớnh của các phạm trù điển dạng có thể được hình
dung như sau:
(1) Các thành viên điển dạng của phạm trù tri nhận có nhiều nhất các
thuộc tớnh chung với các thành viên khác của cùng một phạm trù và ít nhất
18
các thuộc tớnh cũng thấy ở phạm trù lõn cận, tức là các thuộc tớnh của một
điển dạng ở phạm trù này là khác tối đa với các thuộc tính của một điển
dạng ở một phạm trù khác.
(2) Các thí dụ tồi chỉ có chung một hoặc hai thuộc tớnh với các thành
viên khác của cùng một phạm trù, nhưng có một số thuộc tớnh vốn cũng
thấy ở các phạm trù khác, nghĩa là ranh giới giữa các phạm trù là ranh giới
mờ.
Trong khoá luận của mình, chúng tôi đi giải quyết vấn đề, trong
trang sức loại nào là điển dạng.
1.1.2. Nghĩa của từ và trường từ vựng ngữ nghĩa
Đề tài kế thừa các quan điểm khoa học và uy tín về nghĩa của từ và
trường từ vựng ngữ nghĩa của GS Đỗ Hữu Chõu.
1.1.2.1. Nghĩa của từ
Trong các công trình của mình, Đỗ Hữu Chõu đã cho rằng “nghĩa
của từ là toàn bộ nội dung tinh thần mà từ gợi ra”[4, 91]. Các thành phần
nghĩa của từ theo chức năng mà từ đảm nhiệm chia ra các thành phần
nghĩa:
a. Ý nghĩa biểu vật tương ứng với các chức năng biểu vật.
b. Ý nghĩa biểu niệm tương ứng với các chức năng biểu niệm.
c. Ý nghĩa biểu thái tương ứng với các chức năng biểu thái.
từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa – thành trường nghĩa biểu vật, trường
nghĩa biểu niệm, trường tuyến tớnh và trường liên tưởng. Trong đề tài của
mình, chúng tôi quan tõm nhiều nhất đến trường nghĩa biểu vật và trường
nghĩa biểu niệm.
20
Trường nghĩa biểu vật là tập hợp các từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu
vật [3,172]. Theo Đỗ Hữu Chõu, để xếp các từ vào cùng một trường nghĩa
biểu vật thì phải chọn các danh từ làm gốc. Các danh từ này phải đảm bảo
có tớnh khái quát cao.
Trường biểu niệm là một tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu
niệm. [3, 178]. Cũng giống như các trường nghĩa biểu vật, trong một
trường nghĩa biểu niệm lại có các trường nghĩa biểu niệm nhỏ hơn. Các
trường biểu vật và trường biểu niệm có thể giao thoa nhau và cốt lừi trung
tõm là các từ điển hình.
Khi áp dụng trường nghĩa vào đề tài của mình, chúng tôi nhận thấy:
các từ trong một trường biểu vật giống nhau về số lượng và tổ chức. Giả sử
trong một trường có các “miền” (trường nhỏ, nhúm nhỏ hơn) thì số lượng
từ trong mỗi miền là khác nhau, đồng thời ở mỗi một ngôn ngữ, cùng một
miền có mật độ cao thấp khác nhau. Do vậy, trường biểu vật có tớnh ngôn
ngữ và tớnh dõn tộc.
Để khảo sát ngữ liệu cho đề tài, điều đầu tiên chỳng tôi quan tõm là
tiêu chí xác lập trường từ vựng trang sức. Đõy là một trường từ vựng khá
rộng, tuỳ từng tiêu chí mà có thể chia thành nhiều tiểu trường khác nhau.
Dựa vào mối quan hệ của đồ trang sức và vị trí cơ thể, có thể chia trang sức
thành 5 tiểu trường sau:
1. Tên trang sức liên quan đến phần đỉnh đầu, tóc.
2. Tên trang sức liên quan đến phần tai
3. Tên trang sức liên quan đến phần cổ
4. Tên trang sức liên quan đến phần tay.
5. Tên trang sức liên quan đến phần thắt lưng.
phân chia, và ngôn ngữ cấu tạo nên những đơn vị cho nó bằng cách tự hình
thành ra giữa hai cái khối không có hình thù
Ngôn ngữ còn có thể so sánh với một tờ giấy: mặt phải là tư duy, mặt
trái là âm thanh; không thể cắt mặt phải mà không đồng thời cắt luôn cả
mặt trái; trong ngôn ngữ cũng vậy, không thể nào tách biệt âm thanh ra
khỏi tư tưởng, mà cũng không thể tách biệt tư tưởng ra khỏi âm thanh; chỉ
có thể đạt đến chỗ đó bằng một sự trừu tượng hoá mà kết quả sẽ làm một
công việc tõm lớ học thuần tuý hoặc ngữ õm-õm vị học (phonologie) thuần
tuý" [42, 217-219]. Ngôn ngữ học tri nhận tiếp cận đặc biệt đối với việc
nghiên cứu ngôn ngữ, nghiên cứu những hệ thống ý niệm của con người và
những phương thức tri nhận. Tất nhiên ngôn ngữ có vai trò trong việc cấu
trúc hóa những phạm trù ý niệm cơ bản như không gian và thời gian, những
cảnh và sự kiện, những thực thể và quá trình, sự chuyển động và vị trí,
động lực và quan hệ nhân-quả. Nó cũng liên quan đến việc cấu trúc hóa
những phạm trù tưởng tượng và cảm xúc được quy cho cỏc tỏc thể tri nhận
như sự chú ý và phối cảnh, ý chí và chủ định. Ngôn ngữ học tri nhận thừa
nhận quan niệm cho rằng nghiên cứu ngôn ngữ là nghiên cứu cách sử dụng
ngôn ngữ, song phải là thứ ngôn ngữ tự nhiên được người dân thường sử
dụng trong giao tiếp thường nhật. Thứ ngôn ngữ tự nhiên này là cái lăng
kính phản chiếu cách con người suy nghĩ, ý niệm hóa thế giới, tóm lại,
phản chiếu cách con người tri nhận thế giới.
Đồng thời, ngôn ngữ học tri nhận cũng chủ trương rằng cùng với
ngôn ngữ tự nhiên của con người và liên quan chặt chẽ với ngôn ngữ là yếu
tố văn hóa dân tộc mà người bản ngữ đại diện. Với ý nghĩa đó, văn hóa
cũng có cương vị là công cụ (hoặc phương tiện tri nhận), cũng nghĩa là cái
lăng kính phản chiếu sự tri nhận thế giới của con người. Mối quan hệ giữa
ngôn ngữ và văn hoá từ lõu đã là chủ đề quan trọng của nhiều lí thuyết
ngôn ngữ học. “Lối nghĩ”, “cách tư duy” của một dõn tộc – như một thuộc
23
tớnh của văn hoá là một nội dung chủ yếu của một giả thuyết nổi tiếng
sức như một biểu tượng, chúng tôi chú ý đến chức năng thẩm mĩ, chức
năng biểu hiện và chức năng xã hội hoá của chúng.
Với đặc điểm bản thể “che phủ thõn thê”, trang phục nói chung và
trang sức nói riêng có mối liên quan mật thiết với biểu tượng “thõn thể”.
Trong những công trình nghiên cứu theo khuynh hướng nhõn loại học cấu
trúc cũng kết luận rằng y phục (giày, quần áo…) luôn là trung gian giữa tự
nhiên hoang dã (bản năng) và những giá trị tinh thần tốt đẹp (nhõn tớnh,
văn hoá). Như vậy biểu tượng trang sức là một biến thể của biểu tượng
thõn thể và biểu tượng tinh thần. Mỗi bộ phận trên cơ thể đền tương ứng
với những trang sức, gợi ra ý nghĩa biểu trưng cho cả hai chiều tự nhiên và
văn hoá: tay – vòng, nhẫn , eo - thắt lưng, dõy lưng, đai…,tai – khuyên tai,
vòng tai…Theo [22], biểu tượng có thể phõn loại dựa vào hai tiêu chí: tiêu
chí loại hình và tiêu chí nguồn gốc, chất liệu [22, 21-22]. Hai tiêu chí này
chính là cơ sở xác định sự biến đổi ý nghĩa của biểu tượng trang sức.
(xem sơ đồ 1.2 và 1.3 trong [22]).
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 chúng tôi đã trình bày cơ sở ngôn ngữ học và văn
hoá về ngôn ngữ học tri nhận, về lớp từ thuộc trường nghĩa “trang sức”,
những vấn đề chung về tư duy - ngôn ngữ - văn húa và giá trị văn hoá của
trang sức. Chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ học tri nhận và quá trình tri nhận
của con người là tiền đề cho chúng tôi tỡm hiểu đặc điểm tri nhận của con
người về trang sức – như một mã văn hoá, biểu tượng văn hoá đặc thù của
nhõn loại.
25