Nghiên cứu địa mạo phục vụ xác định các điểm định cư của người Việt cổ khu vực huyện Mê Linh - Đông Anh thành phố Hà Nội - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Quang Anh
NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO PHỤC VỤ XÁC ĐỊNH
CÁC ĐIỂM ĐỊNH CƯ CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ KHU VỰC
HUYỆN MÊ LINH – ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Hà Nội - 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô khoa Địa lý, viện Việt
Nam học và Khoa học Phát triển đặc biệt là phòng khoa học, đã tạo cho em mọi
điều kiện tốt nhất trong toàn bộ quá trình thực hiện luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn đến Đề tài nhóm A cấp ĐHQGHN: “Nghiên cứu đề xuất
các giải pháp đa lợi ích sử dụng bền vững các hồ nước, sông ngòi thuộc khu vực
ngoại thành Hà Nội (phía Nam và phía Bắc sông Hồng)”, Mã số: QGTĐ.12.05 do
PGS.TS. Đặng Văn Bào làm chủ nhiệm, đã hỗ trợ về tài liệu và quá trình thực địa
để em hoàn thành luận văn.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình bạn bè và tập thể lớp cao học
k10 sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường đã động viên giúp đỡ em trong toàn
bộ thời gian vừa qua.
Nguyễn Quang Anh

2

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
Tính cấp thiết 5
Mục tiêu nhiệm vụ 6
Phạm vi nghiên cứu 6
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ ĐỊA MẠO CHO VIỆC XÁC ĐỊNH CÁC ĐIỂM ĐỊNH CƯ
CỦA NGƯỜI CỔ 8
1.1. Đặc điểm sử dụng địa hình của người Việt cổ 8
1.2. Nghiên cứu địa mạo trong việc xác định vị trí định cư của người Việt cổ 11
1.2.1. Vai trò của địa mạo trong việc xác định vị trí định cư của con người 11
1.2.2. Quá trình hình thành và tiến hóa địa hình của khu vực đồng bằng châu thổ . 12
1.3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 21
1.3.1. Trên thế giới 21
1.3.2. Tại Việt Nam 24
1.3.3. Về khu vực nghiên cứu 28


4

Danh mục hình:
Hình 1. Sơ đồ vị trí nghiên cứu 7
Hình 2: Cấu trúc chính của châu thổ 13
Hình 3: Sơ đồ cấu tạo đồng bằng bãi bồi (a); đê thiên nhiên (b) 16
Hình 4: Quá trình hình thành khúc uốn thứ sinh từ khúc uốn nguyên thủy P-P 17
Hình 5: Cấu tạo của một bãi bồi hoàn chỉnh 19
Hình 6: Sơ đồ minh họa các tầng trầm tích của bãi bồi 20
Hình 7: Gờ cao ven lòng (đê thiên nhiên) 21
Hình 8: Sự phân bố của các di chỉ khảo cổ đã phát hiện theo các dạng địa hình 23
Hình 9: Sự phân bố của các di chỉ khảo cổ thời đại kim khí ở vùng đồng bằng sông
Hồng 27
Hình 10. Bản đồ địa chất Mê Linh – Đông Anh 47
Hình 11: Sơ đồ khái quát dao động mực nước biển trong Holocene ở đồng bằng
sông Hồng 50
Hình12. Thềm bậc I bị cắt xẻ bởi máng xói tại khu vực gần thành Cổ Loa 58
Hình13. Vết lộ sét loang lổ đỏ hệ tầng Vĩnh Phúc trên thềm tích tụ sông biển 60
Hình 14. Vòng thành ngoài thành Cổ Loa 62
Hình 15. Bản đồ địa mạo Đông Anh – Mê Linh 64
Hình 16: Niên đại các di chỉ khảo cổ đã khai quật được trong thành phố Hà Nội 71
Hình 17. Bản đồ các di chỉ khảo cổ học Hà Nội trên nền bản đồ địa mạo Hà Nội mở
rộng 72
Hình 18. Di chỉ khảo cổ học Thành Dền 80
Hình 19. so sánh cấu trúc địa hình khu vực Cổ Loa – Đồng Đậu và Liên Mạc 92
Hình 20. Bản đồ địa mạo ứng dụng bảo tồn và xác định các di chỉ khảo cổ khu vực
Mê Linh – Đông Anh 94
tiêu phát triển và định hướng qui hoạch thủ đô.

6

Mục tiêu nhiệm vụ
Mục tiêu của luận văn là làm rõ đặc điểm địa mạo và lịch sử phát triển địa
hình khu vực Đông Anh, Mê Linh. Kết hợp với việc xác định được mối liên hệ giữa
địa hình và các điểm định cư của người Việt cổ từ Pleistocen muộn và lý giải quá
trình định cư của người Việt. Từ đó làm tiền đề cho việc xác định các di chỉ khảo cổ
và phục vụ qui hoạch phát triển trong tương lai.
Để giải quyết mục tiêu trên thì đề tài đưa ra các nhiệm vụ là:
- Xác định đặc điểm địa hình của các điểm định cư cổ từ đó rút ra đặc điểm
định cư của người Việt cổ
- Nghiên cứu đặc điểm địa mạo khu vực Đông Anh, Mê Linh
- Xác định lịch sử phát triển địa hình và định vị các sông hồ cổ trong khu vực
- Phân tích các điểm định cư và mối liên hệ với địa hình, kết hợp các tài liệu
địa mạo, lịch sử và khảo cổ học nhằm xác định chính xác các đặc điểm định cư của
người Việt cổ
Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: luận văn nghiên cứu trên một không gian bao gồm toàn
bộ 2 huyện Đông Anh và Mê Linh, đều nằm phía Bắc của sông Hồng thuộc địa bàn
thành phố Hà Nội. Khu vực nghiên cứu có diện tích 323,94 km2 bao gồm 3 thị trấn
và 39 xã.
Về mặt thời gian: đối với địa chất địa mạo thì luận văn đi vào nghiên cứu
hình thành đồng bằng Hà Nội từ Pleistocen muộn tới nay. Đối với quá trình định cư
thì luận văn tập trung đề cập và nghiên cứu từ khi có di chỉ chứng minh sự xuất hiện
đầu tiên của con người ở vùng đất Hà Nội cho giai đoạn đầu Công Nguyên, tức là từ
văn hóa Sơn Vi cho đến hết văn hóa Đông Sơn và sang đầu thời kỳ Bắc thuộc.
7


Vùng đồng bằng mới được hình thành sau biển thoái vẫn còn ẩm ướt và sình
lầy nên cư dân đầu tiên của thời kỳ này phải lựa chọn những vùng đồng bằng cao để
9

cư trú. Chỉ đến khi vùng đất này thực sự ổn định thì những cư dân mới tràn xuống
khai phá nơi đây.
Phát triển nông nghiệp, đảm bảo nguồn lương thực tại chỗ đã tạo điều kiện
cho con người ổn định cuộc sống một cách lâu dài, bắt đầu phát triển những làng
mạc, thôn bản. Những người dân tập hợp lại với nhau thành một cộng đồng, sinh
sống trên một khu vực lãnh thổ nhất định. Để khai hoang, người ta thường dựa vào
những khu vực đất đai màu mỡ dọc theo các hệ thống sông, các thung lũng và các
dải đồng bằng có điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của mình. Họ lựa chọn những
nơi bằng phẳng, cao ráo để sinh sống, tránh những thiên tai xảy ra như lũ lụt, sạt lở
đất Bên cạnh là vườn tược, đồng ruộng, ao hồ để trồng trọt và chăn nuôi. Khi dân
cư tăng dần, đất đai trở nên chật hẹp thì con người lại cùng nhau di chuyển, tiếp tục
khai phá những vùng đất mới.
Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của cư dân đất Việt, có thể thấy rằng
hầu hết các kinh đô và khu định cư lớn đều được hình thành trên các vùng đất ven
sông [18]. Học thuyết “Tứ giác nước” của GS Trần Quốc Vượng cũng là một minh
chứng cho nhận định này. Học thuyết thể hiện cho tư duy sông nước của người Việt
cổ trong quá trình xây dựng các kinh đô cổ Việt Nam, từ Cổ Loa, Hoa Lư đến
Thăng Long. Theo đó, các kinh đô cổ và đô thị cổ trên đều được giới hạn bao bọc
bởi 4 con sông hoặc nhánh sông mà chúng tạo thành 4 cạnh tự nhiên của tứ giác
nước. Đối với những làng mạc, thôn bản, sông nước là nguồn cung cấp nước trong
sinh hoạt, sản xuất. Đối với những đô thị lớn hơn, sông nước còn là con đường giao
thương. Đối với những kinh thành, trong thời kỳ đấu tranh dựng nước và giữ nước,
mạng lưới thủy văn dày đặc khiến cho những vùng kinh thành trở thành một nơi
khép kín, tạo thế phòng thủ và thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ thủy binh hùng
mạnh. Điều này cho thấy sự xuất hiện của các khu định cư của người dân, đặc biệt
là kinh đô, thị trấn lớn từ xa xưa đã gắn liền với sông nước, thuận tiện cho việc giao

triển kinh tế - xã hội của mình. Tuy nhiên, việc tác động đến tự nhiên không đúng
11

quy luật đã gây nên những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và đến chính
cuộc sống của mình. Quy hoạch đô thị thiếu quan tâm đến sự phân bố của các dạng
địa hình dẫn đến hàng loạt những vấn đề nảy sinh như ngập lụt đô thị, sụt lún nền
móng các công trình.
Qua những phân tích trên, ta có thể thấy từ quá khứ đến hiện tại, trong các
hoạt động của mình, con người đều sử dụng địa hình một cách có lựa chọn. Trong
việc định cư, con người thường lựa chọn những nơi cao ráo và gần các điều kiện tự
nhiên thuận lợi như gần sông nước, thuận lợi cho việc lưu thông, trao đổi hàng hóa
cũng như các vấn đề về quản lý hành chính Bên cạnh việc sử dụng địa hình, con
người cũng đồng thời là một tác nhân làm biến đổi nó nhanh chóng. Điều này đã
làm biến mất đi những dấu ấn của các hoạt động sinh hoạt, văn hóa cổ truyền của
dân tộc. Do đó, việc tìm kiếm và khôi phục lại chúng là hết sức cần thiết hiện nay.
1.2. Nghiên cứu địa mạo trong việc xác định vị trí định cư của người
Việt cổ
1.2.1. Vai trò của địa mạo trong việc xác định vị trí định cư của con người
Địa mạo học là một khoa học nghiên cứu địa hình bề mặt Trái Đất về các
mặt hình thái, nguồn gốc phát sinh và lịch sử phát triển; hay nói cách khác là nghiên
cứu địa hình và các quá trình hình thành, biến đổi nó. Địa mạo học không chỉ
nghiên cứu những quy luật biến đổi địa hình trong hiện tại mà cả trong quá khứ và
xu hướng phát triển của địa hình mặt đất trong tương lai.
Địa hình là những sự vật có phát sinh, phát triển theo logic tiến hóa và là kết
quả của tác động tương hỗ và đồng thời lên bề mặt Trái Đất của các quá trình nội
sinh và ngoại sinh. Hai nhóm lực này luôn tồn tại đồng thời và có tác động ngược
nhau. Tương quan mạnh yếu của chúng quyết định đặc trưng của địa hình được hình
thành. Hình thái địa hình là yếu tố quan trọng, chi phối hoạt động của các quá trình
tạo thành và cải biến địa hình, quy định khả năng sử dụng địa hình cho những mục
đích khác nhau.

Tiền châu thổ là nơi giao thoa giữa môi trường sông và biển, là nơi có tốc độ
lắng đọng trầm tích cao nhất. Bề mặt của tiền châu thổ có độ dốc khá lớn. Cấu thành
nên tiền châu thổ là các thành tạo cát, cát bột, bột sét với xu hướng thô dần từ dưới
lên.
Chân châu thổ có môi trường thuần túy là biển, là nơi các vật liệu mịn lắng
đọng từ huyền phù hay lơ lửng. Chúng có bề mặt gần như nằm ngang.
Đồng bằng châu thổ có bề mặt nằm ngang tương đối bằng phẳng, dốc thoải
ra phía biển, cấu thành chủ yếu bởi các thành tạo hạt mịn. Nhìn chung, đồng bằng
châu thổ là nơi các dòng sông thống trị. Vì vậy, đặc điểm địa hình vùng này có mối
liên quan mật thiết đến hoạt động địa mạo của các dòng sông. Đặc biệt, trong những
trường hợp mực biển hạ thấp, vùng đồng bằng châu thổ có thể trở thành một đồng
bằng hạ lưu sông. Hình 2: Cấu trúc chính của châu thổ [32]
1.2.2.2. Những nhân tố chính thành tạo địa hình vùng đồng bằng châu thổ
a. Dao động mực nước biển
14

Do đặc điểm là một vùng hình thành do tương tác sông – biển nên sự dao
động mực nước biển sẽ là một nhân tố quyết định đến môi trường và đặc trưng
thành tạo địa hình vùng đồng bằng châu thổ. Hoạt động nâng hạ mực nước biển liên
quan chặt chẽ tới các chu kỳ biến đổi khí hậu và hoạt động băng hà – gian băng.
Mối quan hệ này sẽ được đề cập cụ thể hơn đối với khu vực nghiên cứu ở chương
sau.
Về cơ bản, sự nâng hạ của mực nước biển cần được xét tổng hợp với hoạt
động nâng hạ kiến tạo để quyết định mối tương quan giữa tốc độ ngập chìm với tốc
độ lắng đọng trầm tích thành tạo nên bề mặt đồng bằng châu thổ.
Xem xét tác động của hoạt động nâng hạ mực biển tới quá trình hình thành
đồng bằng châu thổ qua quá trình tiến hóa trầm tích cấu tạo nên đồng bằng châu

Sự hình thành và biến đổi lòng sông gắn liền với sự phát triển của đồng bằng
bãi bồi. Trong quá trình hình thành các thung lũng, ban đầu lòng sông có thể chính
là các khu vực đáy thung lũng. Sau một thời gian hình thành và tiến hoá, thung lũng
sông ngày càng phát triển tạo nên bãi bồi, gờ cao, thềm sông…, khi đó lòng sông
chỉ còn là một bộ phận thường xuyên có nước trong khu vực đáy thung lũng sông
hay đồng bằng bãi bồi.
Đồng bằng bãi bồi là đồng bằng có nguồn gốc phát sinh là đồng bằng tích tụ
sông, hình thành ở những khu vực bãi bồi mở rộng. Chúng thường phát triển trong
đáy các thung lũng có biểu hiện võng hạ tương đối hoặc tuyệt đối hoặc ở những nơi
cắt nhau của các đứt gãy kiến tạo. Lũ lụt liên quan mật thiết với sự hình thành đồng
bằng này. Đồng bằng bãi bồi được cấu tạo bởi trầm tích nguồn gốc sông là chủ yếu,
ngoài ra còn có một phần nhỏ là trầm tích do gió, hay trầm tích nguồn gốc sông –
biển ở khu vực ven bờ. Trên nền đồng bằng này, dòng sông uốn khúc và thành tạo
các dạng địa hình đặc trưng của nó (bãi bồi, hồ móng ngựa…).
16 Hình 3: Sơ đồ cấu tạo đồng bằng bãi bồi (a); đê thiên nhiên (b) [34]
Như vậy, đồng bằng bãi bồi (floodplain) thông thường được hiểu là vùng đất
nằm kề bên và bao chứa các con sông, chịu ảnh hưởng của lũ lụt theo định kỳ. Vật
liệu tạo nên nó chủ yếu là phù sa sông lắng đọng mỗi khi bị nước lũ tràn ngập.
Đối với các sông đồng bằng hạ lưu, do các đặc trưng về độ dốc dòng chảy,
đặc điểm cấu trúc kiến tạo và ảnh hưởng tương tác sông - biển, hình thái đồng bằng
có những nét riêng, đáng chú ý nhất ở đây là sự phân nhánh của dòng chảy.
Thung lũng sông vùng đồng bằng hạ lưu phần nhiều là có bãi bồi phát triển
hoàn thiện. Đặc điểm của dạng thung lũng này là 1. Bờ thung lũng rất thoải và đáy
có đường phân biệt rõ rệt; 2. Lòng sông không có những bậc thay đổi đột ngột, độ
dốc bình quân nhỏ; 3. Dòng sông chảy qua vùng đồng bằng đất bồi, do cấu tạo địa
chất không đồng nhất và điều kiện thuỷ lực thay đổi nên đã hình thành nhiều hình
thức lòng sông khác nhau.


nơi tập trung dân cư đông đúc, cùng với hoạt động phát triển kinh tế - xã hội diễn ra
mạnh mẽ đã làm thay đổi nhiều tới địa hình. Con người tạo ra các dạng địa hình
mới, gọi là địa hình nhân sinh như là hệ thống đê điều, đường giao thông… Con
người làm thay đổi bề mặt địa hình thông qua các hình thức sử dụng đất, làm chúng
cao lên hoặc thấp đi như việc đào hoặc san lấp hồ ao, đắp đất làm nhà, xây dựng các
đồi nhân tạo, khai thác khoáng sản và vật liệu xây dựng… Quan trọng nhất phải kể
đến là hoạt động đắp đê gây ảnh hưởng tới hoạt động điạ mạo của các dòng sông.
Ngoài ra, những hoạt động của con người còn gián tiếp tác động đến địa hình
thông qua các nhân tố khác, gây nên biến đổi khí hậu. Các hoạt động sản xuất của
con người gây nên hiệu ứng nhà kính dẫn đến nhiều hiện tượng tai biến nhiên xuất
hiện và ra tăng nhanh chóng. Chính những tai biến thiên nhiên đó sẽ tác động ngược
lại tới hoạt động sử dụng đất của người dân và tới sự biến đổi địa hình trên bề mặt.
1.2.2.3. Những dạng địa hình thành tạo và mối liên hệ với sự định cư của con người
Bậc thềm sông: bậc thềm chính là những bãi bồi nhưng cao hơn, không còn
bị ngập nước vào mùa lũ và thuộc vào thành phần của sườn thung lũng sông. Sự
nâng cao của bậc thềm có thể do hoạt động nâng kiến tạo hoặc hạ thấp mực cơ sở
xâm thực và sự đào khoét sâu của lòng sông. Đây là những dạng địa hình cao ráo,
thuận lợi cho con người sinh sống.
19
1. Bờ không còn bị ngập về mùa lũ;
2. Đoạn bờ bãi bồi bị xâm thực;
3. Đoạn bờ bãi bồi tích tụ;
4. Ranh giới nham tướng aluvi;

có tuổi trẻ hơn aluvi của bãi bồi cao.
Bãi bồi là dạng địa hình chiếm phần lớn diện tích vùng đồng bằng. Con
người lựa chọn ở khu vực bãi bồi cao, nơi ít chịu ảnh hưởng của lũ và dùng bãi bồi
thấp làm nơi trồng trọt do những nơi này hàng năm vẫn được dòng sông phủ lên
một lớp phù sa màu mỡ.
Gờ cao ven lòng
Bãi cát ven lòng sông có dạng bán nguyệt, phát triển ở phần lồi của bờ sông.
Cứ mỗi mùa lũ nó lại được bồi thêm một bậc nhỏ hình lưỡi liềm lấn sâu vào lòng
sông. Các đê cát ven bờ được tạo thành sau mỗi kì nước lũ (tức là những bậc nhỏ
được nhắc tới ở trên) bắt đầu chồng phủ lên nhau. Do vậy mà các đê cát ở vị trí đó
mỗi năm một cao thêm và có thể đạt tới độ cao của nước lũ lớn nhất. Những đê cát
ven lòng sông có vị trí và độ cao như vậy được gọi là đê thiên nhiên. Khi đê cát ven
lòng sông đã tương đối cao thì quá trình bồi đắp tiếp theo tăng tốc độ khá nhanh,
bởi vì khi nước lũ tràn qua đê cát, tốc độ dòng chảy bị giảm đi rất đột ngột. Tại đây,
21

trước hết tích tụ những hạt vụn cỡ lớn nhất. Quá trình này lại được thúc đẩy thêm
do lớp thực vật bắt đầu phát triển mạnh ở đây làm cản trở dòng chảy và tăng cường
độ tích tụ. Đây là những dạng địa hình cao ráo, bên cạnh sông nước, tương đối ổn
định đặc biệt khi được bảo vệ bởi hệ thống đê và là nơi thuận lợi cho con người sinh
sống.

Hình 7: Gờ cao ven lòng (đê thiên nhiên) [34]
Hồ móng ngựa, dải trũng: Trên bề mặt bãi bồi có rất nhiều yếu tố như các
dải trũng, hồ móng ngựa. Đây là những sản phẩm của hoạt động biến đổi lòng sông.
Những nơi này trũng thấp, không phải là nơi định cư, tuy nhiên con người thường
định cư ở những dải đất cao hơn gần đó.
1.3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.3.1. Trên thế giới
Trên thế giới, nghiên cứu địa mạo trong mối liên hệ với sự định cư của con

bố tập trung ở vùng thềm, sườn thung lũng và gờ cao ven lòng. Rất ít di chỉ tìm thấy
ở vùng đầm lầy hay những dòng chảy đã bị bỏ sót.
Một báo cáo khác về địa mạo và địa khảo cổ ở phía Nam Mississipi (Paul V.
Heinrich, Louisiana Geological Survey, Baton Rouge Louisiana 2004) [31] đã thành
lập bản đồ địa mạo chi tiết từ bản đồ địa mạo tỉ lệ nhỏ hơn đã được thành lập trước
đó tích hợp với những dữ liệu số độ phân giải cao. Nghiên cứu mô tả các đơn vị địa
mạo chi tiết, khác nhau về đặc điểm địa chất, lịch sử thành tạo địa chất, địa mạo và
các quá trình địa mạo, lấy đó là căn cứ để đánh giá được đặc trưng của những dạng
địa hình phân bố nhiều di chỉ khảo cổ. Xác định được đó là những nơi cao ráo như
các vùng thềm, các địa hình sót nổi cao, các gờ cao ven lòng của hệ thống sông hiện
đại cũng như hệ thống sông cổ… Những địa điểm này cũng thường xuyên gần

Trích đoạn Về khu vực nghiên cứu Cơ sở phương pháp luận Phương pháp nghiên cứu Nhân tố tự nhiên Các hoạt động nhân sinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status