ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO
PHỤC VỤ DU LỊCH
(lấy ví dụ vùng Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận)
ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÂP
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
MÃ SỐ: QT-04-20
Chủ trì đề tài: PGS TS Vũ Văn Phái
Các cán bộ tham gia: Th.s NCS Nguyễn Hiệu
NCS Hoàng thị Vân
ỌTI 005 -3-1
H à nội, 2005
I
BÁ O CÁO T Ó M TẮT
a. Tên đề tài (hoặc dự án), mã số.
Tên dề tài: NGHIÊN c ú u ĐỊA MẠO PHỤC v ụ DU LỊCH (LAY v í DỤ VÙNG
PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN)
M ã số: QT-04-20
b. Chủ trì đề tài (hoặc dự án):
P G S T S V ũ Văn Phái
c. Các cán bộ tham gia:
T h .s Nguyễn Hiệu
NCS Hoàng Thị Vân
d. M ục tiêu và nội dung nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu: xác lập cơ sở khoa học của việc nghiên cứu địa m ạo trong
việc sử dụng hợp lý lãnh thổ nói chung và trong du lịch nói riêng.
N ội dung nghiên cứu của đề tài gồm:
1. Phân tích địa hình như là một loại tài nguyên thiên nhiên;
2. Phân tích đánh giá địa hình phục vụ cho du lịch;
3. Phân tích địa mạo vùng Phan Thiết để làm sáng tỏ các kết quả trên.
luật tiến hoá của nó, thì chính con người sẽ phải hứng chịu hậu quả khó
lường trước.
6. M ột trong những ứng dụng m ang lại hiệu quả nhất của địa mạo học là trong
các hoạt động du lịch. Trước hết địa hình là nền tảng tự nhiên để tạo nên các
cảnh quan địa lý-một trong nững thắng cảnh hấp dẫn khách du lịch. Đ ể đánh
giá địa hình phục vụ cho du lịch, người ta sử dụng 4 chỉ tiêu rất cụ thể là: 1)
Khả năng đi lại; 2) mức độ bao quát; 3) tính đa dạng và 4) tính đặc thù. c ả 4
chỉ tiêu này đều được xác định dựa vào các tham số vể nguồn gốc, đặc trưng
hình thái và trắc lượng hình thái của đ ịa hình (độ cao tương đối, tuyệt đối,
mức độ chia cắt ngang, chia cắt sâu, độ dốc, hướng sườn, V.V.).
7. V ùng Phan Thiết là m ột trong những khu vực ven biển nước ta có đầy đủ các
chỉ tiêu nêu trên. Trước hết là tính đa dạng: Vùng Phan Thiết tồn tại nhiều
địa hình với nguồn gốc, tuổi và quy m ô khác nhau. Từ nguồn gốc bóc m òn
do quá trình sườn đến nguồn gốc sông, biển, gió, v.v. với các dạng trung địa
hình như bề m ặt cao nguyên cát đỏ ở khu vực sân bay Phan Thiết, phía nam
huyện Hàm Thuận Bắc, các hệ thống cồn cát đàn di chuyển, thung lũng suối
Tiên đến các vi dạng địa hình, đặc biệt là các dạng phá huỷ. Chính các thành
tạo địa hình này cũng đã làm cho vùng Phan T hiết có tính đặc thù riêng-là
nơi duy nhất có cao nguyên cát đỏ ư V iệt N am, đồng thời có cả karst giá.
Khả năng đi lại đễ dàng và tính bao quát được thể hiện ở địa hình phần lớn là
cao nguyên và đồng bằng có độ cao tuyệt đối chỉ khoảng 200 mét, v.v.
8. Khi sử dụng địa hình và các quá trình đ ịa mạo phục vụ cho du lịch cần lưu ý
đến m ột số tai biến như trượt lở và lũ quét, đặc biệt đối với các cơ sớ du lịch
bố trí ở rìa khối cát đỏ; chọn thời gian thích hợp trong năm cho từng loại
hình du lịch.
f. Tình hình kinh phí của đề tài (hoặc dự án)
II
IU
Kinh phí được cấp để thực hiện đề tài là: 10.000.000,00 đồng (mười triệu đồng)
Khoa quản lý
> Collecting docum ents concern geom orphologic application for
land managem ent, concentrates on tourist activities.
> Field survey in Phan Thiet, Binh Thuan province
> A nalyzing data and finishing reports
• M ain results
A ccording to results of geom orphologic application for tourism , case study
in Phan Thiet, Binh Thuan, we have found that:
It has been said that geom orphology is concerned with the study of the form ,
processes and the evolution o f the landform . Therefore, geom orphology is deal
with m any other sciences such as M aths, physic, chem istry, p hilosop hy As a
IV
V
consequence, we can’t understand essence o f landform s unless having a thorough
grasp of all inform ation in other studies.
G eom orphologic applications now are very useful in our socio-economic,
especially in environment. In fact, landform , including natural and hum an
landform, is a special resource. For exam ple, The Great W all o f China, a m ilitary
work in the past, is now fam ous on tourism, however tourist activities there made a
great contribution in economic. Consequently, it is necessary to study landform s so
that we look for a most sensibly way to use them suitably.
There are more and more landform s which are playing im portant roles in
tourism . Landform definitely m akes beautiful sightseeing, that attracts tourists.
There are four standards for evaluate landform ’s role in tourism : 1) moving ability;
2) visibility; 3) multiform; 4) specific characteristics. All o f them are determ ined
up on the origin, structure, m orphology (including elevation, relative altitude,
slope, direction of rip )
Phan Thiet, in Binh Thuan province, next to the sea is an exciting area with
dry weather. Firstly, it is possible to see m any landforms in Phan Thiet, that are
different origin, age and size. They are form ed by river, m arine, w ind such as
sandy plateau (in Phan Thiet airport), sand dunes, bar Their existences are the
4.3. M ột số vấn đề địa m ạo cần lưu ý trong hoạt động du lịch ở vùng 79
Phan T hiết
Kết luận 83
Tài liệu tham kháo 85
MỞ ĐẦU
Thuật ngữ “Địa mạo học” đã được đưa vào văn liệu các khoa học về Trái
Đất từ cuối thế kỷ XIX. Từ một khái niệm, đến nay địa mạo học đã trở thành một
khoa học trong đại gia đình các khoa học về Trái Đất, cũng giống như địa hoá
học, địa vật lý, thuỷ văn học, khí hậu học, địa chất học, v.v. Tuy nhiên, nền tảng
của khoa học địa mạo đã có từ rất lâu đời, khi mà Herodotus (485? - 425 Tr.
CN) đã nói “Ai Cập là món qùa của dòng sông" hoặc quan niệm “hiện tại là
chìa khoá đối với quá khứ' của J. Hotton vào giữa thế kỷ XVIII và ngày càng
phát triển cả vể cơ sở lý thuyết cũng như ý nghĩa thực tiễn của nó. Trước đây
người ta cho rằng đối tượng nghiên cứu của khoa học địa mạo chỉ là địa hình mặt
đất. Gần đây, các nhà khoa học đều thống nhất rằng đối tượng nghiên cứu của
địa mạo học là toàn bộ địa hình mặt đất và thành phần vật chất liên quan với
chúng [28]. Mục tiêu cụ thể của khoa học địa mạo là xác định ý nghĩa thực tiễn
của các thành tạo địa hình đối với các lĩnh vực kinh tế-xã hội khác nhau: tìm
kiếm khoáng sản (hệ thống địa hình<-»thạch quyển), xây dựng công trình (hệ
thống địa hinh<->c0ng trình) và phục vụ nông nghiệp (hệ thống địa hình<-»sinh
quyển) [11]. Nhiều nhà khoa học cho rằng, nghiên cứu địa hình và các quá trình
địa mạo trên một lãnh thổ nào đó được xem là mối quan tâm hàng đầu hiện nay
để giải quyết các vấn đề về thay đổi môi trường do tác động của con người.
Để đạt được những mục tiêu trên, khoa học địa mạo phải giải quyết một
số nội dung cơ bản sau: 1) Nghiên cứu đặc điểm hình thái-trắc lượng hình thái
địa hình; 2) nghiên cứu nguồn gốc địa hình; 3) xác định tuổi địa hình và lịch sử
phát triển của chúng (theo thời gian); 4) nghiên cứu qui luật phân bô' của chúng
theo tính địa đới và phi địa đới (theo không gian); 5) nghiên cứu các quá trình
địa mạo động lực hiện đại và dự báo sự thay đổi của nó, đặc biệt khi có tác động
của con người và 6) đề xuất các phương án tối ưu khi sử đụng địa hình vào
vật chất và năng lượng với môi trường bên ngoài. Vì thế, sự hình thành và biến
đổi địa hình của hệ luôn luôn xảy ra do tác động của các nhân tố từ bên ngoài
(khách quan) cũng như do sự vận động của các yếu tô cấu trúc nên hệ (chủ quan,
quá trình như vậy được gọi là tự phát triển của hệ). Tất cả các hoạt động nêu trên
hoàn toàn tuân thủ theo phép biện chứng của tự nhiên.
Các phương pliáp nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng
nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để thực hiện đầy đủ các nội dung và
đạt được mục tiêu nghiên cứu. Trong đó, quan tâm nhiều hơn đối với các phương
pháp chuyên ngành, như: phân tích hình thái, trắc lượng hình thái, nguồn gốc,
thành phán vật chất, tuổi và động lực hiện nay cùa địa hình. Các phương pháp
quan sát mô tả, xác định vị trí, chụp ảnh, vẽ các mặt cắt địa hình ngoài thực địa.
Trong quá trình nghiên cứu, còn sử dụng một sô công cụ và thiết bị hiên đại như:
ảnh viễn thám, định vị toàn cầu (GPS), Hệ thông tin địa lý (GIS), v.v. Ngoài ra
còn sử dụng một số phương pháp của các lĩnh vực khoa học khác như thống kê.
xử lý số liệu, phỏng vấn, đánh giá nhanh, v.v. về những vấn đề có liên quan đến
nội dung và mục tiêu của đề tài.
2
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Về khoa học: Tập trung phân tích các đặc điểm địa mạo và ý nghĩa của nó
đối với du lịch trong vùng nghiên cứu;
Về không gian: Chủ yếu tập trung cho thành phố Phan Thiết và một vài xã
ven biển của các huyện kế cận (Bắc Bình và Hàm Thuận Nam).
Phan Thiết là một thành phố loại 3 của tỉnh Bình thuận. Trong mấy nãm gần đây,
các hoạt động du lịch trở nên rất sôi động. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã cũng
như các công ty của Việt Nam đã tiến hành xây dựng các khu du lịch của mình ở
đây và mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Vì sao vậy?
Hoạt động du lịch của Bình Thuận nói chung và vùng Phn Thiết nói riêng 'S
trong năm 2003 tiếp tục phát triển cả về cơ sở vật chất và lượng khách đến, chất
lượng phục vụ được nâng lên; trong năm ước đạt 1.200.000 lượt khách, tăng
9,1% so năm trước, trong đó khách du lịch quốc tế 80.000 lượt khách. Ngày
đại đồ đá (đá cũ và đá mới), thời đại kim khí (gồm đồ đồng và đồ sắt), thời kỳ
trung đại và thời kỳ hiện đại (hình 1.1 [5]). Còn theo hình thức phát triển kinh tế,
người ta chia ra 4 thời kỳ: thời kỳ sãn bắt và hái lượm, thời kỳ nông nghiệp, thời
kỳ công nghiệp và thời kỳ nguyên tử. Việc phân chia ra các thời kỳ như vậy
không chỉ nói lên trình độ phát triển kinh tế-xã hội, mà còn cho thấy mức độ tác
động vào môi trường tự nhiên của con người.
Hình 1.1: Sự cia tăng dán só ihé giới Irong 500000 năm qua
Chảng hạn, nếu như nhu cầu tối thiểu của con người là ăn và ở, thì địa
hình, nước và lớp phủ thực vật là những hợp phần của môi trường tự nhicn bị tác
động đầu tiên. Đó là vào thời kỳ săn bắt và hái lượm. Vào thời kỳ này. địa hình
4
mặt đất hầu như chưa bị tác động, bởi vì con người lúc bấy giờ chỉ cư trú trong
các hang động, mái đá, hoặc những địa vật có khả năng che chắn đã có sẵn trong
tự nhiên. Do vậy, các hợp phần của tự nhiên bị biến đổi rất ít. Theo thời gian,
những khả năng của con người càng phát triển và nhu cầu của họ càng tăng lên.
Dần dần, họ trở thành chủ thể của tự nhiên bởi những tác động có ý thức của
mình vào tự nhiên nhầm đáp ứng những nhu cầu ngày càng tãng. Trải qua mấy
trăm nãm của thời kỳ công nghiệp và nguyên tử, các tác động của con người vào
tự nhiên mạnh mẽ đến nỗi làm biến đổi sâu sắc, thậm chí làm mất đi cả một khu
vực tự nhiên và thay vào đó là những công trình do họ làm ra. Khi những biến
đổi này vượt quá khả nãng chống chịu của một hoặc nhiều hợp phần của tự
nhiên, thì các rủi ro và íhảm hoạ sẽ xảy ra. Trước tình hình như vậy, từ cuối thế
kỷ XX, toàn thế giới đã có những hành động nhằm bảo vệ thế giới tự nhiên và
giảm thiểu các thảm hoạ có thể xảy ra. Và các thuật ngữ “bảo vệ môi trường”,
“sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên”, v.v. cũng xuất hiện từ đó. Địa hình là
một yếu tô' cơ bản của môi trường, do đó bảo vệ môi trường cũng bao hàm cả
việc “bảo vệ địa hình”. Theo quan niệm hiện nay, địa hình mặt đất cũng là một
loại tài nguyên thiên nhiên, do đó sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên cũng
bao hàm trong đó cả việc “sử dụng địa hình một cách hợp lý”.
1.2. ĐỊA HÌNH LÀ MỘT LOẠI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
thông qua sự kết hợp giữa sự hiểu biết ngày càng tăng và công nghệ ngày càng
mở rộng của mình.” Từ quan điểm này thì thuộc tính của một yếu tỏ' tự nhiên chỉ
không hơn ‘con số 0 ’ cho đến khi con người có thể nhận thức được sự có mặt của
yếu tố tự nhiên đó, nhận ra khả năng của nó có thể thoả mãn được các nhu cầu
của mình và đưa ra các phương thức để sử dụng nó. Quay lại với ví dụ về than đá
ở trên, có thể thấy thuộc tính của than đá để làm nhiên liệu chất đốt sẽ không có
giá trị gì nếu như con người không tìm thấy nó, không nhận ra được than đá có
khả năng bị đốt cháy toả ra nhiệt lượng lớn thoả mãn nhu cầu về chất đốt của con
người thay the cho củi và đưa ra các phương thức khai thác và đưa than đá vào sử
dụng rộng rãi trong sản xuất và sinh hoạt. Tương tự như than đá là dầu mỏ và khí
đốt cũng đã được thăm dò, tìm kiếm, khai thác và đưa vào sử dụng đạt hiệu quả
Như vậy có thê coi quan niệm về tài nguyên thiên nhiên tiến hoá từ sự
tương tác ba mặt (three - way interaction) giữa tự nhiên, con người và vãn hoá
(sự hiểu biết, nhận thức của con người). Theo Mitchell.B [9]: “Tài nguyên thiên
nhiên dược xác dinh b(TÍ nhận thức, quan điểm, nhu cầu, khoa học công nghệ, tổ
chức pháp luật, tài chínli cũng như thỏi quen chính trị của con người” (hình 1.2).
Tài nguyên không phái bản thân nó là tài nguyên mà từ yếu tô' tự nhiên trở thành
tài nguyên. Khái niệm tài nguyên không phải là một khái niệm tĩnh mà mở rộng
hay thu hẹp là tuỳ thuộc vào nhu cầu và hoạt động của con người.
6
Nhu cầu
Hình 1.2. Sơ đồ mcii quan hệ giữa tự nhiên - con người - văn hoá [9].
Theo Ryabchikov A.M và nnk [16]: “Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở phát
triển kinh tế đổi với mọi quốc gia, là những yếu tố của tự nhiên mà ở mức độ
phát triển lực lượng sản Xuất nhất itịnh được đưa vào quá trình sản xuất nhằm
thoả mãn cúc nhu cầu vật chất và ván hfìá của xã hội loài người.” Theo bản
chất, tài nguyên thiên nhiên là lực lượng sản xuất tự nhiên. Các tác giả này đã
đưa ra cách phân loại tài nguyên thiên nhiên theo nguồn gốc như sau: tài nguyên
thiên nhiên được chia thành tài nguyên địa chất (khoáng sản) và tài nguyên
quyển cảnh quan. Trong số các tài nguyên quyển cảnh quan lại chia ra tài
thiếu trong một hệ sinh thái cả trên lục địa lẫn dưới nước.
+ Con người nhận thức được sự hiện diện của địa hình và đã tiến hành
nghiên cứu về nó để phục vụ cho cả mục đích tìm hiểu khoa học lẫn sử dụng nó
trong cuộc sống của mình.
+ Địa hình mặt đất có khả năng đáp ứng và làm thỏa mãn nhiều nhu cầu
của con người, như là địa bàn cư trú; là nơi để con người sử dụng trong các hoạt
động nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), công nghiệp và xây dựng (nền tảng đê
xây dựng các công trình nhà ở, nhà máy xí nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh
tế và xã hội), dịch vụ, phục vụ cho các nhu cầu khác của con người cả về vật chất
lẫn tinh thần.
Như vậy, địa hình mặt đất - một yếu tố của tự nhiên đáp ứng đầy đủ các
tính chất như đã được xác nhận trong các định nghĩa về tài nguyên vừa nêu ở
trên. Do đó, địa hình mặt đất cũng là một loại tài nguyên thiên nhiên. Từ xa xưa,
địa hình mặt đất đã được con người sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau hoặc
là trực tiếp hoặc là gián tiếp.
a) Địa lùnh là một loại tài MỊiivên dặc biệt được chọn lủm cơ sở cho quy hoạch
phát triển và quản lý lãnh thổ. Theo Nekrasov N.N., quy hoạch lãnh thổ hay
“quy hoạch vùng là phương pháp phân bố cụ thế kinh tế và dân cư, cấu trúc hạ
tầng sản xuất xã hội trên một lãnh thổ tương đôi không lớn” hoặc theo Pertsik
E.N., “quy hoạch vùng là lý luận và thực tiễn phân bố hợp lý nhât trên lãnh thổ
của vùng các xí nghiệp sản xuất, giao thông liên lạc, và các điểm dân cư với sự
tính toán tổng hợp các nhân tố và các điều kiện địa lý, kinh tế, kiến trúc xây
8
dựng, kỹ thuật công trình” [từ 21] Một cách khái quát nhất, quy hoạch phát triển
lãnh thổ dược xem là một giải pháp thích hợp nhất trong một giai đoạn nào đó
nhằm phân b ổ và sử dụng các nguồn tài nguyên (tài nguyên thiên nhiên và tài
nguyên nhân văn) một cách tối ưu trong tổ chức sản xuất phát triển kinh tế-xã
hội và có quan tám đến các lãnh thổ bên cạnh. Để có được sơ đồ quy hoạch iãnh
thổ đúng đắn, trước hết phải có hàng loạt các tài liệu điều tra cơ bản về mọi mặt
cả các điều kiện tự nhiên, lẫn kinh tế-xã hội, cả quá khứ lẫn hiện đại, trong đó
mạc hóa, v.v. Còn ở quy mô địa phương là các vấn đề về xói mòn đất, phá hủy
sườn, bổi lắng, lũ lụt, v.v. Nguyên nhân của những vấn đề trên đều có liên quan
trực tiếp hay gián tiếp đến địa hình cũng như quá trình phát triển của nó.
Cũng cần nói rằng, trên quan điểm hệ thống thì mỗi đơn vị lãnh thổ có thể
xem đó là một hệ địa mạo phức tạp, mà trên đó có thể chia ra nhiều đơn vị địa
mạo khác nhau. Các đơn vị địa mạo này có thể cũng tương đương với các đơn vị
đất đai trong nghiên cứu địa chính (thực ra, có thể xem đom vị đất đai chính là
đơn vị lãnh thổ, đều được dịch ra từ tiếng Anh - Land Unit). Trên mỗi đơn vị
lãnh thổ này có đẩy đủ các thành tạo có nguồn gốc tự nhiên và do con người tạo
ra. Tất cả các thành tạo này đều phải được tính đến trong quá trình nghiên cứu để
xây dựng quy hoạch phát triển lãnh thổ. Việc bảo tồn hay phá bỏ đi một thành
tạo nào trên đơn vị lãnh thổ này tùy thuộc vào giá trị của nó cũng như nhận thức
văn hóa của con người (tầm văn hóa) và cần có sự thống nhất ý kiến của các
chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có các nhà địa mạo. Những
thông tin chi tiết về đặc điểm địa hình và các qúa trình địa mạo của lãnh thổ
được xem là đầu vào quan trọng giúp các nhà quy hoạch cũng như các nhà quản
lý có cơ sở khoa học đế đưa ra giải pháp tối ưu.
Với cách nhìn nhận như trên, có thể nói rằng, địa hình là một trong những
loại tài nguyên thiên nhiên được con người sử dụng sớm nhất. Bởi vì bên cạnh
thức ãn đề tổn tại, thì nơi ở lại đảm bảo an toàn cho họ. Đó là việc sử dụng các
hang động karst, các mái đá làm nơi cư trú của người nguyên thủy. Ở Việt Nam,
do cuộc sống như vậy nên họ đã tạo ra được “nền văn hóa hang động”-đó là nền
văn hóa Bắc Sơn, Hòa Bình. Bước sang thời đại nông nghiệp, con người đã sử
dụng các đơn vị địa hình khác nhau để trồng trọt các loại cây khác nhau và đất ở.
Đến thời đại công nghiệp, họ lại phải lựa chọn các đơn vị địa hình thích hợp hơn
cho quá trình đô thị hóa, bô' trí các nhà máy, các khu công nghiệp, bố trí các
công trình hạ tầng cơ sở, v.v. Do đó mức độ tác động của con người vào địa hình
càng lớn hơn: phá bỏ các đơn vị địa hình tự nhiên và tạo ra các đơn vị địa hình
nhân tạo. Đến chừng mực nào đó, khi vượt quá khả nãng chống chịu của nó đối
với các công trình, một hay nhiều đơn vị địa hình sẽ bị phá hủy kéo theo cả các
không có các vách cát đỏ hùng vĩ ở Phan Thiết, những ngấn nước biển - dấu tích
của sự thay đổi mực nước biển trên các đảo đá vôi ở Hạ Long, Bái Tử Long,
Ninh Bình, v.v. Những bãi biển cấu tạo bang cát mịn, sạch, thoải là các bãi tắm
tuyệt vời như Trà c ổ , Sầm Sơn, Cửa Lò, Đồng Hới, Lăng Cô, Vũng Tàu. Bãi Nai,
v.v. Những vùng nước sâu ven bờ là nơi thuận lợi đế xây dựng cảng biển, còn
những chỗ nông lại là nơi sinh đẻ của các loài sinh vật biển. Các dạng địa hình
bờ cũng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đường bờ khỏi bị xói lở, ngập
lụt Đó là những bãi biến rộng làm cho năng lượng sóng từ ngoài khơi khi vào
đến bờ bị phân tán, không còn khả nãng đế phá huỷ hờ
Hỉnh 1.3. Mối quan hệ giữa quy mò quy hocạh, thứ lự các cấp quản lý và
những dóng góp của địa mạo đế dưa ra quyết định [7]
b) Địa hình ýữ m ột chức năng quan trọng trong các hệ tự nhiên-xã hội.
Địa hình của bất kỳ một khu vực nào trên Trái đất cũng là cơ sở tự nhiên
của cảnh quan thực hiện một số chức năng. Nếu các chức năng này bị phá vỡ thì
nó sẽ dẫn đến hàng loạt các thay đổi khác trong môi trường tự nhiên. Ớ mức độ
12
chung nhất, địa hình có 2 chức năng cơ bản trong một hệ tự nhiên-xã hội, là: 1)
chức nằn lự nhiên và 2) chức năng xã hội.
Chức năng tự nhiên của địa hình. Đối với một hệ sinh thái bất kỳ, địa hình có
chức năng tự nhiên là kiểm soát sự phân b ố năng lượng và vật chất trong đó.
Còn nước, không khí, bãng, v.v. là các tác nhân vận chuyển năng lượng-vật chất
vào hoặc ra khỏi hệ này. Vì vậy, địa hình vừa là nhân tố trực tiếp vừa là nhân tô'
gián tiếp quyết định tính phân dị lãnh thổ của các hộ sinh thái khác nhau như hệ
sinh thái núi cao, hệ sinh thái thung lũng, hệ sinh thái cửa sông, v.v. Ớ quy mô
địa lý, đó cũng chính là các đơn vị không gian. Cũng do mối liên hệ rất chặt chẽ
giữa địa hình và các quá trình địa mạo với sinh vật (được thể hiện rõ nhất ở đới
bờ biển), nên từ đấu những năm 90 của thế kỷ XX, trong văn liệu khoa học thế
giới đã xuất hiện thuật ngữ “Sinh địa mạo” (Biogeomorphology). Nhận thấy vai
trò của địa mạo như vậy nên Rohdenburg H. - một nhà địa lý người Đức đã cho
rằng, chỉ khi hiểu được sự phát triển của bề mặt Trái đất mới có đầy đủ cơ sở đê
Bước sang thời đại công nghiệp, eon người đã chủ động hơn và nhiều khi đã cải
tạo làm thay đổi thiên nhiên nói chung và địa hình nói riêng ở mức độ rất khác
nhau (thậm chí có thể làm mất đi một hợp phần nào đó của tự nhiên, hoặc mất đi
một dạng địa hình nào đó, thay đổi một hệ sinh thái này bằng một hệ sinh thái
khác, v.v.) để phục vụ cho các lĩnh vực sản xuất khác nhau nhằm đáp ứng đầy đủ
hơn nhu cầu ngày càng gia lăng của mình. Sự thay đổi này kéo theo cả sự thay
đổi về vãn hoá-xã hội. Thông qua đó nhận thức của con người về tự nhiên và xã
hội cũng dần dần thay đối.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tầm vãn hoá của
con ngày càng được nâng cao, con người ngày càng khai thác, sử dụng địa hình
vào rất nhiều mục đích khác nhau. Theo Simonov Iu.G. và Krujalin V.I. [19], có
14 hình thức sử dụng địa hình mặt đất vào các mục đích kinh tế - xã hội khác
nhau. Đó là: 1- Sản xuất nông nghiệp; 2- Lâm nghiệp; 3- Thủ công nghiệp; 4-
Thiiy điện; 5- Khai khoáng; 6- Cung cấp nước; 7- Thông tin liên lạc; 8- Giao
thông vận tải; 9- Thể thao-sức khoẻ; 10- Điều dưỡng-chữa bệnh; 11- Bảo tồn văn
hoá; 12- Bảo vệ nguồn nước; 13- Dựtrữ-bảo tồn và 14- Bãi đổ chất thải.
Vì vậy cũng như các loại tài nguyên khác, ngoài việc sử dụng hợp lý. địa
hình cần được bảo vệ, đặc biệt là các thành tạo địa hình có quan hệ mật thiết với
các cảnh quan đặc sắc, như: liên quan với các thành tạo địa chất, các mặt cắt địa
tầng, v.v. Nếu sử dụng không hợp lý thì sự cân bằng tự nhiên, đặc biệt là các quá
trình địa mạo, bị phá huý và gây ra tai biến thiên nhiên.
1.3. MỘT SỐ HƯỚNG NGHIÊN c ứ u ĐỊA MẠO ỨNG DỤNG TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Như đã trình bày ở trên, địa mạo học là một lĩnh vực chuyên nghiên cứu về địa
hình mặt đất-một môn khoa học có mối quan hệ rất chặt chẽ với cả địa lý (về sự
phân bố không gian) và với địa chất (về phát triển và tiến hoá theo thời gian).
Cùng với thời gian, khoa học này càng phát triển cả về lý thuyết, phương tiện và
14
phương pháp nghiên cứu, cũng như ứng dụng trong thực tiễn và số người quan
tâm nghiên cứu nó cũng càng ngày càng tăng.
hợp này phân tích địa mạo chỉ là công việc phụ trợ).
b) Địa mạo với các công trìnli. Việc lựa chọn vị trí cho các công trình (đô thị,
đường giao thông, cầu cống, hải cảng, thuý lợi, v.v.) sẽ mang lại hiệu quá cao chi
khi có sự phân tích đầy đủ đặc điểm địa hình và các quá trình địa mạo hiện đại
15
đã, đang và sẽ xảy ra ờ đó. Đây chính là nhiệm vụ của hướng địa mạo công trình.
Trên cơ sở những phân tích về đặc điểm hình thái, nguồn gốc và lịch sử phát
triến địa hình trong quá khứ cũng như động lực hiện đại sẽ đưa ra các kết luận về
độ ổn định của nó đế có thể phân bô hợp lý và vận hành các công trình. Theo
hướng này, có thể chia ra 3 vùng địa hình với mức độ ổn định khác nhau là: vùng
bóc mòn, vùng di chuyển vật liệu và vùng tích tụ. Còn khi đánh giá địa mạo cho
các vấn đề về công trình, người ta thưòng chú ý tới 3 khía cạnh là: điều kiện xây
dựng, điều kiện nền móng và phân khu chức năng. Những vấn đề này đã được
đưa ra trong nhiều tài liệu về địa mạo công bô gần đây [2, 6, 11, 19]. Người ta
QŨng đã nhận xét ràng, địa mạo học đã thành công trong việc thi đua với HỊỊÙnlì
địa chát công trình dê đánh giá tổng hợp về mặt cõng trình các khu công nghiệp
và trọng điểm xây dựng mới.
c) Hướng địa mạo môi trường. Từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX. ở các
nước phương Tây (như Anh, Mỹ,v.v.) đã xuất hiện một hướng mới khác-đó là íỉịa
mạo mỏi trường. Theo ý kiến của Coates D.R. [2], địa mạo mỗi trường
(Environmental Geomorphology) là hướng sử dụng các nguyên lý địa mạo học
trong thực tiễn nhâm giải quyết các vấn đề sử dụng và cải tạo địa hình mặt dát
cũng như làm thay dổi các quá trình dia mạo phục vụ cho nhu cầu cuộc sổng
của COI1 người. Mục tiêu của nghiên cứu địa mạo môi trường là làm giảm thiểu
những biến đổi địa hình và tìm hiểu các quá trình tương tác cần thiếl trong việc
khôi phục hoặc duy trì cân bằng tự nhiên. Theo hướng này, các tài liệu địa mạo
đều được sử dụng trong hầu hết các công trình dân sinh và quốc phòng, trong đó
đáng ké nhất là trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng đô thị,
giao thông, V .V ., đặc biệt là trong lĩnh vực qui hoạch và quản lý môi trường. Ớ
các nước phương tây, các nhà địa mạo tham gia giải quyết công việc chuyên môn
đã đưa ra tiêu đề “Địa mạo và sinh thái”. Để đạt được kết quả tốt trong giải quyết
các vấn đề về sinh thái học, gần đây các nhà khoa học đã đưa ra khái niệm hệ íỉia
mạo. Vấn đề về các hệ địa mạo đã được xác nhận và thảo luận sôi nổi tại Hội
nghị lần thứ III của Hội Địa mạo quốc tế (International Association of
Geomorphologists-IAG) được tổ chứa ớ Canada năm 1993 và tiếp tục được thảo y S '
luận tại Hội nghị lần thứ IV tổ chức ở Italia vào tháng 8/1997. Trước đó các vấn
đề về vai trò của địa mạo tronẹ các hệ sinh tlìái cũng đã được nhiều người quan
Cũng cần lưu ý ràng, Hội Địa mạo Quốc tế được ra đời vào năm 1985
chính là do nhu cầu phát triển của địa mạo học trong giai đoạn mới. Vì vậy, có
thể nói rằng, chừng nào con người còn sử dụng địa hình vào các mục tiêu kinh
tế-xã hôi của mình, tlù chừng đó việc ngliiên cứu địa hình-đối tượng của đìa mạo
hoc- còn càn thiết bấx nhiêu. Mức cìộ tác động vào dịa hình của con người CÙIÌỊỊ
nhiều thì khoa học íỉịa mạo càng trở tliành nhu cầu cấp bách,
e) Hướng địa mạo trong nghiên cứu lai biến thiên nhiên. Từ mươi năm trở lại
đây các nhà khoa học quan tâm rất nhiều đến tai biến thiên nhiên và tìm ra các
giải pháp để giảm thiểu thiệt hại do chúng gây ra. Trừ một sô' tai biến trực tiếp
gây ra do lũ lụt động đất núi lửa, v.v. còn lại hầu hết các tai biến đều hoặc là
17