ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
––––––––––––– LÊ THỊ KIỀU VÂN
TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA
VÀ TRI NHẬN CỦA NGƯỜI VIỆT
THÔNG QUA MỘT SỐ “TỪ KHÓA”
(So sánh đối chiếu tiếng Việt với tiếng Anh và tiếng Nga) LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
––––––––––––– LÊ THỊ KIỀU VÂN
LÊ THỊ KIỀU VÂN
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN ÁN Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa – tri nhận 36
Bảng 1.1. Những nhân từ ngữ nghĩa do Anna Wierzbicka đề xuất 43
Sơ đồ 2.1. Từ khóa “phận” và các ý niệm có liên quan trong tiếng Việt 66
Bảng 3.1. Ngữ nghĩa của từ “quê” trong tiếng Việt 88
Bảng 3.2. Ngữ nghĩa của từ “homeland” trong tiếng Anh 90
Bảng 3.3. Ngữ nghĩa của từ “pодинa” trong tiếng Nga 91
Bảng 3.4. So sánh số lƣợng từ, số lƣợng nghĩa và thứ tự các nét nghĩa biểu đạt trong
tiếng Việt-Anh-Nga 93
Sơ đồ 3.1. Mô hình tri nhận không gian “lên – về/xuống”, “ra – về ”, “đi – về” 103
Bảng 3.5. Định hƣớng không gian “quê” trong tiếng Việt-Anh-Nga 105
Bảng 3.6. Phân tích việc sử dụng miền ý niệm chứa “quê” trong tiếng Việt. 114
Bảng 3.6. Phân tích việc sử dụng miền ý niệm chứa “quê” trong tiếng Việt. 115
Bảng 4.1. Phân tích thống kê các miền ý niệm có chứa “mặt” trong tiếng Việt 140
Biểu đồ 4.1. So sánh các miền ý niệm chứa từ khóa “mặt” trong tiếng Việt 141
Poster Presentation 146
Bảng 5.1. Các kết hợp của Động từ + hồn 156
Bảng 5.1. Các kết hợp của Động từ + hồn 157
Bảng 5.2. Kết hợp của X + hồn và hồn + X 157
Sơ đồ 5.1. Sự phân bố các ký hiệu cơ bản của miền ý niệm chứa “hồn” 176
Bảng 5.3. Đối chiếu nội hàm ý nghĩa từ hồn (trong tiếng Việt) với душa (trong tiếng
Nga) và soul (trong tiếng Anh) 189
Sơ đồ 5.2. Ý niệm HỒN/ ДУШA trong tiếng Việt và tiếng Nga 190
6. Phạm Thị Hoài, Man nương, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội 1995
7. Nguyễn Công Hoan, Truyện ngắn chọn lọc, T. I, II, Nxb. Hội
nhà văn, Hà
nội 1999
8. Triệu Huấn, Xin đừng lỗi hẹn, Nxb QĐND, Hà Nội 1990
9. Nguyễn Thị Thu Huệ, Phù thủy, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, 1995
10. Nguyễn Thị Thu Huệ, Tập truyện ngắn, NXb Hội Nhà văn Hà Nội 2003
11. Dương Thu Hương, Những vĩ nhân tỉnh lẻ, Nxb Thanh niên 1988
12. Dương Hướng, Bến không chồng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội 1998
13. Ma Văn K
háng, Mùa lá rụng trong vườn, Hà Nội 1991
14. Nguyễn Khải, Người vợ, VNQĐ 45/ 1994Lê Minh Khuê, Truyện ngắn,
Nxb Văn học, 1994
15. Chu Lai, Phố, Nxb Hà Nội, 1993
16. Chu Lai, Vòng tròn bội bạc, Nxb Văn học, Hà Nội 1999
17. Lê Lựu, Thời xa vắng, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội 1987
18. Nguyễn Đình Thi, Xung kích, Nxb Văn học, Hà Nội 1986
19. Nguyễn Huy Thiệp, Thương nhớ đồng quê, Nxb Văn Học Hà Nội 1989
20. Nguyễn Quang Thiều, Hai người Đàn bà xóm Trại, VNQĐ 1993
21. Đỗ Tiến Thụy, Sóng ao làng, Báo VNCN 11/ 2005
22. Ngô Tất Tố, Tuyển tập Ngô Tất Tố, Nxb Văn học, Hà Nội 1986
23. Nguyễn Chí Trung, Bức thư từ làng Mực (Truyện ngắn chọn lọc 1960
-
1970), Nxb Giải phóng 1970
24. Nguyễn Thị Ngọc Tú, Chỉ còn anh với em, Nxb Văn học, Hà nội 1990
B - TÁC PHẨM TIẾNG NGA
25. М. Ю. Лермонтов (1996), Вадим, Твердый переплет
26. Н. А. Некрасов (1982), Кому на Руси жить хорошо. В полное собрание
сочинений и писем в 15-ти томах. "Наука", Том 5
27. Н. Островский (1982), Как закалялась сталь, Букинистическое издание
43. Joice, James, Portrait of the Artist as Young man,
http://www.manybooks.net/titles/joycejametext03prtrt10.html
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
QUY ƢỚC VIẾT TẮT
NGỮ LIỆU TRÍCH DẪN
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
1.1. Lý do chọn đề tài 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 3
2. Lịch sử vấn đề 4
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 11
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu 11
3.2. Phạm vi nghiên cứu 12
4. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 12
4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu 12
4.2. Nguồn ngữ liệu 14
5. Ý nghĩa khoa học của luận án 17
6. Bố cục của luận án 19
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Đặt vấn đề 21
1.1. Ngôn ngữ và văn hóa 25
1.2. Ngôn ngữ và tri nhận 29
1.3. Ngôn ngữ, văn hóa và tri nhận 32
2. Anna Wierzbicka và hƣớng nghiên cứu đặc trƣng văn hóa và tri nhận
2.1. Những đặc điểm khái quát 87
2.2. Ý niệm QUÊ trong tiếng Việt 94
2.2.1. Ý niệm QUÊ HƢƠNG 94
2.2.2. Ý niệm QUÊ 100
2.2.3.Ý niệm QUÊ-TỈNH 109
3. Phân tích ngữ liệu và đánh giá 112
3.1. Phân tích ngữ liệu 112
3.2. Cách thức tiến hành 113
3.3. Đánh giá kết quả 116
4. Tiểu kết 118
CHƢƠNG 4. TỪ KHÓA “MẶT” VÀ CÁC Ý NIỆM
1. Tiểu dẫn 120
2. Từ khóa “mặt” và các ý niệm trong tiếng Việt 123
2.1. Ý niệm MẶT LÀ SỰ HIỆN DIỆN 127
2.2. Ý niệm MẶT biểu trƣng TÍNH CÁCH 128
2.3. Ý niệm MẶT là TÂM ĐIỂM TƢƠNG TÁC 132
2.4. Ý niệm MẶT LÀ THỂ DIỆN 135
3. Phân tích ngữ liệu và đánh giá 138
3.1. Cách thức tiến hành 141
3.2. Giải thích kết quả 142
3.3. Đánh giá kết quả 142
4. Tiểu kết 144
CHƢƠNG 5. TỪ KHÓA “HỒN” VÀ CÁC Ý NIỆM
1. Tiểu dẫn 147
2. Từ khóa “hồn” và các ý niệm trong tiếng Việt 149
2.1. Dữ liệu ngôn ngữ 150
2.2. Khả năng kết hợp của từ “hồn” 153
2.3. Ý niệm HỒN – XÁC trong tiếng Việt 158
2.3.1. Ý niệm XÁC 160
2.3.2. Ý niệm HỒN 166
lớn trong việc đưa NNHTN vào ngành Việt ngữ học như Lý Toàn Thắng [56], [59],
[60], [61]; Trần Văn Cơ [9], [10]; Nguyễn Đức Dân [16], [17], [18], [19] v.v Bên
cạnh đó là hàng loạt những nghiên cứu tuy không trực tiếp bàn về NNHTN nhưng
tinh thần và bản chất lại nằm trong phạm vi khảo sát của NNHTN như của Ng
uyễn
Đức Tồn [70]; Trần Trương Mỹ Dung [22] và một số luận án tiến sĩ đã được bảo vệ
với các đề tài liên quan đến từ vựng học, ẩn dụ, hoán dụ, về thành ngữ tiếng Việt, về
điển mẫu trong từ vựng và cú pháp v.v.
Một trong những tìm tòi được giới học thuật trên thế giới đánh giá cao về
mặt lý thuyết là đường
hướng nghiên cứu mới của A. Wierzbicka với quan niệm
cho rằng mỗi ngôn ngữ đều có một số không nhiều các “từ khóa” (key words) phản
ánh những đặc trưng văn hóa cốt lõi của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó. Thông qua
việc khảo sát các "từ khóa” này, có thể làm sáng tỏ những đặc trưng văn hóa nổi trội
và tri nhận ở một dân tộc trong so sánh với dân tộc khác. Với quan niệm đi từ ngôn
ngữ đến văn hóa v
à tư duy như vậy, Wierzbicka đã nghiên cứu về các “từ khóa”
trong một số ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Ba Lan, tiếng Đức và tiếng
Nhật; mà sau đó bà tập hợp lại trong cuốn sách nổi tiếng “Understanding Cultures
through their Key Words: English, Russian, Polish, German, Japanese” [216].
2
Ở Việt Nam, theo sự tìm hiểu của chúng tôi, chƣa có bất kỳ một công trình
nghiên cứu nào đi theo hƣớng tiếp cận của Wierzbicka, tuy rằng có thể tìm thấy
những công trình với những định hƣớng nghiên cứu khác và mối quan hệ giữa ngôn
ngữ với văn hóa và tƣ duy không phải là chƣa đƣợc đề cập đến.
Xét riêng về văn hóa học, có thể thấy rằng trong những công trình cơ bản
nghiên cứu về văn hóa Việt Nam của các nhà văn hóa học nhƣ Chu Xuân Diên [20],
Trần Quốc Vƣợng [80], Phan Ngọc [50], Trần Ngọc Thêm [65], Trịnh Sâm [73]
v.v. các tác giả đã đề cập khá kỹ về mối liên quan giữa ngôn ngữ và văn hóa nhƣ
Tiếp thu những luận điểm trên của A. Wierzbicka, chúng tôi áp dụng vào
nghiên cứu một số “từ khóa” của tiếng Việt trong sự so sánh đối chiếu với tiếng
Anh và tiếng Nga, nhằm làm nổi rõ những nét bản sắc văn hóa và đồng thời cả
những nét đặc thù về tri nhận của cộng đồng cƣ dân nói các ngôn ngữ này.
Thông qua việc phân tích ngữ nghĩa của bốn từ khóa “phận”, “mặt”, “hồn”,
và “quê”, luận án sẽ khái quát, đúc kết một số đặc điểm tri nhận của ngƣời Việt liên
quan đến vấn đề nghiên cứu. Ngữ nghĩa của các từ này đƣợc thể hiện một cách trọn
vẹn trong hành chức cụ thể, đặc biệt thông qua thành ngữ, tục ngữ với những văn
cảnh cụ thể thể hiện những miền ý niệm phong phú đƣợc luận án sƣu tầm và chú
thích thỏa đáng. Để làm nổi rõ những đặc thù của tiếng Việt về văn hóa và tri nhận,
chúng tôi cũng tiến hành so sánh đối chiếu với các miền ý niệm tƣơng đƣơng trong
tiếng Anh và tiếng Nga.
Nhìn tổng quát, vấn đề nghiên cứu của chúng tôi sẽ là: ngôn ngữ trong mối
quan hệ với văn hóa và tri nhận. Đây là một vấn đề rất cơ bản của ngôn ngữ học
thời gian gần đây, đặc biệt ở khuynh hƣớng ngôn ngữ học tri nhận, và đang là vấn
đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam.
Trong vấn đề tổng quát đó, đƣờng hƣớng cụ thể luận án của chúng tôi là: dựa
trên các cứ liệu ngữ nghĩa của một số “từ khóa”, luận án sẽ phân tích và miêu tả
những nét đặc thù về văn hóa và tri nhận của một cộng đồng ngôn ngữ (ở đây là
4
ngƣời Việt trong sự so sánh đối chiếu với cộng đồng ngƣời nói tiếng Anh và tiếng
Nga).
Nhƣ vậy, mục đích nghiên cứu cụ thể của luận án là: tìm hiểu đặc trƣng văn
hóa và tri nhận của ngƣời Việt thông qua bốn từ khóa “phận”, “mặt”, “hồn” và
“quê” trong so sánh đối chiếu với tiếng Anh và tiếng Nga.
Để đạt đƣợc mục đích trên cần thiết phải trả lời đƣợc câu hỏi sau đây:
Bốn từ khóa nêu trên có đƣợc ngƣời Việt sử dụng trong nhiều cảnh huống
khác nhau, có làm nổi bật nét đặc trƣng văn hóa và cách thức tri nhận của cộng
đồng hay không?
loạt những vấn đề liên quan đến phổ niệm và sự biến đổi trong ngôn ngữ và tƣ duy
– trong đó có Anna Wierzbicka. Không giống Whorf - ngƣời đã tập trung vào
những nghiên cứu ngữ pháp, Wierzbicka đã có những công trình nhƣ: “Duša (soul),
toska (yearning), sud'ba (fate): Three key concepts in Russian language and Russian
culture” [210]; “Japanese key words and core cultural values” [213]; Semantics,
culture, and cognition: Universal, human concepts in culture-specific
configurations” [212]; “Lexicon as a key to history, culture, and society.
"Homeland" and "Fatherland" in German, Polish and Russian.” [214], trong đó bà
mô tả không những về từ vựng nói chung mà còn về những trƣờng từ vựng nói
riêng nhằm khám phá những đặc thù văn hóa gắn với các trƣờng từ vựng (nhƣ
trƣờng từ vựng về cảm xúc…) cũng nhƣ nghiên cứu hành động ngôn từ và các giá
trị văn hóa gắn với hành động ngôn từ. Tác giả còn nhấn mạnh rằng những ý niệm
từ vựng có liên quan đến văn hóa ảnh hƣởng rất rõ nét lên cách ứng xử và nếp nghĩ
của chúng ta. Bà khẳng định mỗi ngôn ngữ bao gồm vô số những ý niệm đơn giản
bên cạnh hàng loạt những ý niệm phức tạp đƣợc mô tả nhƣ những tập hợp văn hóa
đặc thù và đã tiến hành khảo sát trên cứ liệu tiếng Anh, Nga, Ba Lan, Đức, Nhật
[216].
6
Tiếp bƣớc hƣớng đi mới mẻ này của bà là hàng loạt những nghiên cứu khác
của Cliff Goddard “Keywords, culture and cognition” [127]; “The universal syntax
of semantic primitives” [128] và gần đây là việc nghiên cứu những phân tử ngữ
nghĩa (semantic molecules) trong “Semantic molecules” [130]. Theo tác giả thì một
phân tử ngữ nghĩa là nghĩa từ vựng phức tạp có chức năng nhƣ một đơn vị trung gian
trong cấu trúc của những ý niệm phức tạp khác.
Một vài tác giả khác nhƣ Androula Yiakoumetti và Andreas Papapavlou đã
áp dụng lý thuyết của Wierzbicka về siêu ngôn ngữ (metalanguage) vào việc tƣờng
giải những từ mang tính văn hóa đặc thù thông qua việc phân tích nghĩa của bảy từ
đƣợc chọn làm từ khóa để tìm hiểu đặc trƣng văn hóa của ngƣời Hy lạp trong công
trình “Evaluation of cultural universality with reference to culture-specific lexicon
thành và việc nhận diện từ trong tiếng Việt. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp với công
trình Lƣợc sử Việt ngữ học [32] đã đƣa ra cái nhìn khá tổng quan về lịch sử nghiên
cứu tiếng Việt, mối quan hệ giữa tiếng Việt với các ngành khoa học xã hội khác.
Nguyễn Huy Cẩn đã giới thiệu một số hƣớng nghiên cứu mới có tính liên ngành của
Việt Ngữ học trong công trình Việt ngữ học dƣới ánh sáng các lý thuyết hiện đại [2].
Về phía các nhà ngôn ngữ tri nhận, cho đến nay cũng có khá nhiều tác giả
quan tâm nghiên cứu lĩnh vực này: Lý Toàn Thắng, trong Sự hình dung không gian
trong ngữ nghĩa của các loại từ và danh từ chỉ đơn vị [56] đã phân tích cách thức
ngƣời Việt dùng các loại từ để mô tả các thuộc tính không gian của vật thể (nhƣ
hình dáng, kích cỡ, tƣ thế), từ đó chỉ ra cách thức riêng của ngƣời Việt trong việc ý
niệm hóa, phân loại và mô tả thế giới khách quan từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri
nhận. Trong Đặc trƣng văn hóa-dân tộc của ngôn ngữ và tƣ duy [71], Nguyễn Đức
Tồn khẳng định nét đặc trƣng này dựa trên các bình diện tri giác, phạm trù hóa hiện
thực khách quan và “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”, định danh, ngữ nghĩa các
trƣờng từ vựng và tƣ duy liên tƣởng, điểm quan trọng là tác giả chứng minh đƣợc
rằng tƣ duy ngôn ngữ ở ngƣời Việt mang tính cụ thể, hành động là kiểu “tƣ duy
thiên về tƣ duy hình tƣợng” và vì thế thích hợp với loại hình sáng tạo nghệ thuật.
8
Không thể không kể đến hai cuốn chuyên khảo gần đây của tác giả Trần Văn Cơ [9]
và [10] trong đó tác giả đã trình bày hàng loạt các vấn đế tổng quan thuộc về khoa
học tri nhận nhằm giúp độc giả có cái nhìn khái quát về NNHTN. Đi sâu vào những
vấn đề cụ thể hơn, Trần Trƣơng Mỹ Dung trong Tìm hiểu ý niệm “buồn” trong
tiếng Nga và tiếng Anh [22] đã bƣớc đầu xác định tính dân tộc của ý niệm thông qua
các phân tích cụ thể của ngôn ngữ.
Cần phải kể đến một số nghiên cứu của Nguyễn Đức Dân, nhƣ “Những
nghịch lý ngữ nghĩa [16]; Những giới từ không gian: Sự chuyển nghĩa và ẩn dụ [17]
đề cập đến những từ nhƣ trên-dƣới, trƣớc-sau, gần-xa, trong-ngoài là những cặp
khái niệm nguyên thủy trong “nhận thức” không gian liên hệ tới sự tồn tại, vận
động của con ngƣời; hay “Cái bụng chứa tinh thần” [18]; “Nƣớc” - một từ đặc
Cũng theo tác giả, con ngƣời Việt Nam sinh ra đã có một Tổ quốc, với một
lịch sử riêng, một gia tài văn hóa riêng, và những yêu cầu khách quan về Tổ quốc,
gia đình, thân phận, diện mạo không thuộc quyền lựa chọn của anh ta. Và tác giả
đúc kết hệ thống nhu cầu tâm thức của bản sắc văn hóa Việt Nam là bao gồm bốn
thành tố chính: Tổ quốc - Gia đình - Thân phận - Diện mạo tƣơng ứng với 4 F:
Fatherland – Family – Fate – Face trong tiếng Anh.
Điểm lại tình hình nghiên cứu nhƣ trên đây, có thể thấy rằng ở Việt Nam,
mặc dù đã có những cố gắng trong cách tiếp cận ngôn ngữ-văn hóa-tƣ duy, nhƣng
cho đến nay vẫn chƣa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện đi từ
những dẫn liệu cụ thể của ngôn ngữ để chỉ ra những nét đặc trƣng văn hóa nổi trội
và sự tri nhận của cộng đồng ngƣời Việt, đặc biệt là chƣa hề có công trình so sánh
đối chiếu với các ngôn ngữ khác nhƣ tiếng Anh, tiếng Nga.
Luận án đã lựa chọn để triển khai nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu đặc trƣng văn
hóa và tri nhận của ngƣời Việt thông qua các từ khóa (so sánh đối chiếu tiếng Việt
với tiếng Anh và tiếng Nga)” nhằm một mặt, tiếp thu những luận điểm của những nhà
nghiên cứu đi trƣớc, đặc biệt là đi theo hƣớng tiếp cận vấn đề của Anna Wierzbicka: tiến
hành nghiên cứu đặc trƣng văn hóa thông qua yếu tố cơ bản “từ khóa” của các từ ngữ
10
ngôn ngữ, mặt khác chỉ ra cách thức con ngƣời tri giác về thế giới khách quan thông
qua lăng kính ngôn ngữ của mình.
Trong khi chọn lựa “từ khóa” thể hiện nét văn hóa Việt và nhu cầu tâm thức
của ngƣời Việt, chúng tôi đồng tình với quan điểm của tác giả Phan Ngọc về bốn
yếu tố bất biến (4F) trong tâm thức ngƣời Việt. Mặt khác, vì Phan Ngọc tiếp cận
vấn đề từ góc độ văn hóa, nên theo cách hình dung của chúng tôi, từ bình diện ngôn
ngữ, vấn đề chƣa đƣợc giải thích một cách thỏa đáng. Cụ thể là chúng tôi đồng tình
với tác giả ở khía cạnh: ngƣời Việt Nam là con ngƣời tổ quốc luận, bằng chứng từ
lịch sử kháng chiến giữ nƣớc của dân tộc Việt là có sức thuyết phục; đặc biệt là phụ
nữ có ý thức rất rõ về thân phận mình và là những con ngƣời văn hóa nhân cách
luận, vì thế diện mạo, vị thế của bản thân trƣớc cộng đồng xã hội đƣợc đề cao; tuy
khóa gia đình bằng một từ khác. Bằng cách liệt kê các từ khóa trong các ngôn ngữ
tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Ba Lan, tiếng Đức, tiếng Nhật của Wierzbicka, chúng
tôi thiết lập bảng câu hỏi điều tra trên 83 đối tƣợng sinh viên khoa Ngữ văn và khoa
Hóa của Đại học Sƣ Phạm TP. HCM. Kết quả là cả từ “hồn/ linh hồn/ tâm hồn”
đƣợc lựa chọn với tần suất khá cao.
Cụ thể, đối tƣợng nghiên cứu của luận án là phân tích bốn từ khóa: “PHẬN”,
“QUÊ”, “MẶT”, “HỒN” từ góc độ tri nhận nói chung, và cụ thể hơn là từ góc độ
ngữ nghĩa học tri nhận (cognitive semantics). Tức nghiên cứu chính ý nghĩa của từ
và hình thức diễn đạt các ý niệm đƣợc biểu thị qua ngôn ngữ, đồng thời mô tả các
phƣơng thức phạm trù hóa ý niệm trong bức tranh thế giới bằng ngôn ngữ để tìm
hiểu đặc trƣng văn hóa-tri nhận của ngƣời Việt. Đây là một hƣớng đi mới với nhiều
hứa hẹn khả quan không chỉ trong nghiên cứu tiếng Việt nhằm lƣu giữ, bảo tồn và
phát triển mà còn góp thêm tiếng nói trong giảng dạy và học tập tiếng nƣớc ngoài.
12
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong NNHTN, ngữ nghĩa học là sự ý niệm hóa (conceptualization), các đơn
vị ngôn ngữ (từ ngữ, kết cấu) đều biểu đạt các ý niệm và những ý niệm này đều
tƣơng ứng với các ý nghĩa của những đơn vị ngôn từ đó. [158].
Chúng tôi tiến hành phân tích bốn miền ý niệm “SỐ PHẬN – QUÊ HƢƠNG
– DIỆN MẠO – LINH HỒN” so sánh đối dịch tƣơng đƣơng với bốn ý niệm “FATE
– HOMELAND – FACE – SOUL” trong tiếng Anh và “СУДЬБА – РОДИНА –
ЛИЦО – ДУША” trong tiếng Nga, sử dụng phần mềm SPSS để có những thông số
cụ thể nhằm chỉ ra sự khác biệt đáng kể về những ý niệm ngƣời Việt biểu đạt trong
bức tranh thế giới bằng ngôn ngữ so với cộng đồng ngƣời nói tiếng Anh và tiếng
Nga. Bởi vì cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ cũng nhƣ cách nhìn thế giới không
hoàn toàn mang tính phổ quát mà còn mang tính đặc thù nên những cộng đồng
ngôn ngữ khác nhau sẽ có phần nhìn nhận thế giới không giống nhau thông qua lăng
kính của mình.
Vì khuôn khổ của luận án có giới hạn mà khối lƣợng tri thức về ngành khoa
Đây là phƣơng pháp quen thuộc trong ngữ nghĩa học, đặc biệt trong ngữ
nghĩa học từ vựng. Khi phân tích ngữ nghĩa của các “từ khóa”, chúng tôi sử dụng
phƣơng pháp này để làm nổi rõ các nét nghĩa và con đƣờng chuyển hóa nghĩa của các
“từ khóa” trong tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Nga.
Phƣơng pháp điều tra xã hội học
Trong quá trình nghiên cứu của mình, chúng tôi đã sử dụng phƣơng pháp này
thông qua phiếu điều tra để tìm hiểu phản ứng của ngƣời bản ngữ nói các ngôn ngữ
Việt, Nga và Anh nhằm làm rõ thêm cảm thức của cộng đồng nói ngôn ngữ đó, đo