đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng của lời khen, lời chê trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh) - Pdf 24

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
  

ĐỖ THỊ BÌNH

ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC, NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG
CỦA LỜI KHEN, LỜI CHÊ TRONG TIẾNG VIỆT
(SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

2. TS. HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2012
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Tác giả luận án
ĐỖ THỊ BÌNH
LỜI CẢM ƠN Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy Cô - Tiến sĩ Nguyễn Hữu Chương và Tiến
sĩ Huỳnh Thị Hồng Hạnh – đã rất tận tâm hướng dẫn giúp tôi hoàn tất luận án này.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Văn học – Ngôn ngữ và anh chị em
học viên khóa 2007 -2010 đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
này.
Xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG
TP.HCM, Trường Cao đẳng Xây dựng số 2 đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu khoa học và thực hiện luận án.
Xin tỏ lòng biết ơn gia đình và những người thân đã chia sẻ những khó khăn với
tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện công trình này.

(20) TX: Thường xuyên
(21) KTX: Không thường xuyên
(22) RTX: Rất thường xuyên
(23) KBG: Không bao giờ
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Trang
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
2. Lịch sử vấn đề 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10
5. Đóng góp của luận án 12
6. Bố cục luận án 13
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 15
1.1 Một số vấn đề về dụng học giao văn hóa 15
1.1.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 15
1.1.2 Trực tiếp, gián tiếp và vấn đề lịch sự trong dụng học giao văn hóa 22
1.1.3 Giao tiếp ngôn từ và giao tiếp phi ngôn từ 28
1.2 Đặc điểm hành vi khen và hành vi chê 31
1.2.1 Đặc điểm hành vi khen (complimenting) 31
1.2.2 Đặc điểm hành vi chê (criticizing) 35
1.3 Lập luận trong ngôn ngữ 37
1.4 Tiểu kết 40
CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA LỜI KHEN VÀ LỜI CHÊ
TRONG TIẾNG VIỆT (SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH) 43
2.1 Đặc điểm cấu trúc của lời khen trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh) 43
2.1.1 Đặc điểm cấu trúc của lời khen trong tiếng Việt 43
2.1.1.1 Lớp từ ngữ thường được sử dụng khi khen trong văn hóa Việt 43
2.1.1.2 Mô hình cấu trúc lời khen trong tiếng Việt 49

3.1.3.2 Những điểm tương đồng và dị biệt về chức năng của lời khen
trong hai ngôn ngữ 145
3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của lời chê trong tiếng Việt (so sánh với tiếng
Anh) 150
3.2.1 Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của lời chê trong tiếng Việt 150
3.2.1.1 Các chiến lược chê trong văn hóa Việt 150
3.2.1.2 Chức năng của lời chê trong văn hóa Việt 158
3.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của lời chê trong tiếng Anh Mỹ 162
3.2.2.1 Các chiến lược chê trong văn hóa Mỹ 162
3.2.2.2 Chức năng của lời chê trong văn hóa Mỹ 167
3.2.3 So sánh về mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng của lời chê trong hai ngôn ngữ 170
3.2.3.1 Những điểm tương đồng và dị biệt về chiến lược sử dụng lời chê trong
hai ngôn ngữ 170
3.2.3.2 Những điểm tương đồng và dị biệt về chức năng của lời chê trong hai
ngôn ngữ 177
3.3 Thang độ trong khen và chê 180
3.4 Tiểu kết 189
KẾT LUẬN 191
TÀI LIỆU THAM KHẢO 196
NGỮ LIỆU TRÍCH DẪN 206
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI CỦA LUẬN ÁN
210 1
MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh Việt Nam đang ngày càng hòa mình vào thế giới, quan hệ

những cấu trúc (CT) với các tiêu điểm: khen ai, khen cái gì, khen như thế nào mà
còn phải tìm hiểu việc áp dụng hành vi ấy trong những ngữ cảnh khác nhau, ở các
môi trường khác nhau. Tương tự, trong giao tiếp hằng ngày, lời chê (LC) được thực
hiện với nhiều mục đích: không tán đồng, khắc phục những điều chưa chuẩn, chưa
đạt yêu cầu, khuyên bảo…. Tuy nhiên đây là một hành vi rất cần sự cẩn trọng trong
giao tiếp vì nó là một hành vi âm tính, hành vi đe dọa thể diện của cả người nói (S)
và người nghe (H). Vì thế việc lựa chọn các chiến lược chê (CLC) phù hợp: thêm vị
đắng để làm cho đối tượng bị chê thấm thía với những khuyết điểm của mình hay
ngọt hóa để giảm mức độ đe dọa thể diện người nghe là một nghệ thuật trong giao
tiếp.
Ngôn ngữ gắn liền với văn hóa và tư duy của người giao tiếp. Để hiểu một
LK hoặc một LC trong giao tiếp, ĐTGT cũng cần phải hiểu các yếu tố xung quanh
LK hoặc LC ấy – môi trường giao tiếp (khoảng cách giao tiếp, nơi giao tiếp, thời
điểm giao tiếp …), phương tiện giao tiếp phi lời kèm theo: cử chỉ, điệu bộ, vẻ
mặt…), trạng thái giao tiếp của đối tượng (buồn, vui, không hợp với đối tác giao
tiếp …). Khen và chê rõ ràng là hai hành động trái ngược nhau. Tuy nhiên, trong
thực tế giao tiếp khi yếu tố văn hóa và ngữ cảnh được xét đến thì hai hành động này
đôi khi rất khó để phân biệt. Người giao tiếp dùng một từ hoặc một cấu trúc LK
nhưng mục đích để chê và ngược lại. Ngoài tiêu chí hình thức và ngữ nghĩa, có cần
phải xét đến mối liên hệ giữa từ ngữ được sử dụng và tư duy của một cộng đồng nói
năng? Câu hỏi được đặt ra là liệu khi khen người giao tiếp luôn dùng các từ tích cực
(dương tính) và khi chê thì dùng các từ tiêu cực (âm tính), còn các từ mang ý nghĩa
trung hòa trong thang độ ấy sẽ diễn đạt ý khen hay chê?
Mặt khác, trong sự hoạt động ngôn từ phong phú và đa dạng, khen và chê lại
cung cấp cho người nghiên cứu những điều rất bổ ích để hiểu sâu hơn về cách ứng
xử trong cộng đồng khi khen và khi chê.
Từ những điều lý thú khi tìm hiểu về văn hóa của các cộng đồng cùng với sự
lôi cuốn của việc vận dụng ngữ dụng trong phân tích những hành động ngôn ngữ
thúc đẩy chúng tôi quyết định chọn đề tài này. Chúng tôi chọn tiếng Anh của người


dụng ngôn ngữ riêng và ngôn ngữ gắn liền với tư duy và văn hóa của dân tộc đó.
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp ích cho công tác dịch thuật, biên soạn giáo trình
dạy tiếng, và góp phần nâng cao việc dạy và học tiếng Anh Mỹ cho người Việt và

4
tiếng Việt cho người nước ngoài, đồng thời giúp cho việc giao tiếp ứng xử trong xã
hội hằng ngày đạt hiệu quả cao nhất.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Khen và hồi đáp khen đã được nghiên cứu khá nhiều ở những nước nói tiếng
Anh trên thế giới từ ba thập niên trước. A. Pomerantz(1978) [114] là người tiên
phong nghiên cứu LK và cách đáp trả LK của người Mỹ phát hiện rằng người Mỹ
không phải luôn luôn chấp nhận LK mà lời hồi đáp có thể thuộc vào ba loại: 1. chấp
nhận LK (acceptance), 2. từ chối LK (rejections), 3. cách nói tránh tự khen ngợi bản
thân (self-praise avoidance mechanisms). Trong nghiên cứu đầu tiên của mình, N.
Wolfson và J. Manes (1980) [131] nêu lên chức năng của hành động khen là xây
dựng và thắt chặt tình đoàn kết gắn bó giữa người khen và người được khen. Tiếp
đến, N. Wolfson (1983), R. Herbert (1986) và J. Holmes (1987) tập trung vào giả
thuyết này và cung cấp thêm những kết quả rõ ràng để khẳng định giả thuyết ấy
chính là chức năng chính của LK. J. Manes (1983) [106] khẳng định khen và hồi
đáp khen phản ánh giá trị văn hóa của một cộng đồng.
R. Herbert (1989) [92] nêu lên một câu hỏi rằng liệu những người bản xứ ở
các nước nói tiếng Anh khác, cụ thể là người Nam Phi có dùng theo những cấu trúc
lời khen (CTLK) và hồi đáp khen như người Mỹ không. Tác giả cho thấy sự phân
tầng trong xã hội là bản chất trong ý thức hệ của người Nam Phi, do đó người Nam
Phi ít dùng những LK trong giao tiếp, trái ngược hẳn với sự thường xuyên dùng LK
của người Mỹ. Người Mỹ thường xuyên sử dụng LK vì họ cố gắng thiết lập sự gắn
bó với đối tác giao tiếp trong một tình huống mà vị trí xã hội, tầng bậc của họ chưa
được xác định. Ngược lại người Nam Phi không cần phải tận dụng LK để thiết lập
cái mà họ đã sẵn có.
Tiếp theo phải kể đến nghiên cứu của J. Holmes (1988) [94] về khen và hồi

(1994) [87], R. Cooper và N. Cooper (2005) [80] và Payung Cedar (2006) [113].
Payyung Cedar nghiên cứu nét tương đồng và khác biệt trong cách đáp trả LK giữa
người Thái và người Mỹ. Điểm khác biệt rõ nét nhất nằm ở chỗ trong khi người Mỹ
thường chấp nhận và đáp trả LK một cách tích cực thì người Thái tiếp nhận LK một
cách e dè hơn. Rất nhiều người Thái đáp trả LK chỉ bằng một nụ cười và không
dùng kèm bất cứ một phát ngôn nào và điều này là không bao giờ xảy ra trong văn
hóa Mỹ.
- G.L. Nelson, W.E. Bakary và M.A. Batal (1996) [109] tìm hiểu sự giống và
khác nhau giữa cách khen của người Ai Cập và người Mỹ và kết luận cấu trúc lời
khen (CTLK) của hai cộng đồng này giống nhau (vật được khen + tính từ) nhưng
tần suất sử dụng LK của người Mỹ nhiều hơn người Ai Cập.

6
Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến khen và hồi
đáp khen, như luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thu Hoa (1996) [30] “Cấu trúc nghĩa
của động từ nói năng “khen”, “tặng”, “chê”. Luận văn tập trung vào việc miêu tả
các động từ nói năng, trong đó có hành động khen. Luận văn chưa nghiên cứu sâu
về đặc điểm của hành vi này trong các vấn đề liên quan đến văn hóa và giao thoa
văn hóa; “Một vài khảo sát về đặc điểm văn hóa của người châu Âu và người Việt
thể hiện qua lời khen” của Bùi Thị Phương Chi và Phạm Thị Thu Hà (2005) [8]: đề
tài nghiên cứu này tìm hiểu đặc điểm tâm lý, văn hóa của người Châu Âu và người
Việt thể hiện qua hành động khen, tuy nhiên chỉ giới hạn trong một nhóm nghiệm
thể nhỏ (30 người Việt và 30 người châu Âu), hầu hết là sinh viên đại học, nên kết
quả khảo sát chỉ thể hiện được một phần nào đặc điểm tâm lý của hai dân tộc. Nổi
bật có LA tiến sĩ của Nguyễn Quang (1999) [42] - “Một số khác biệt giao tiếp Việt –
Mỹ trong cách thức khen và tiếp nhận lời khen”. Tác giả đã so sánh sự khác biệt
trong các hình thức xưng hô, các dấu hiệu từ vựng tình thái, cái nên khen và cái
không nên khen, các chiến lược tiếp nhận LK khác nhau giữa người Việt và người
Mỹ. Tuy nhiên trong đề tài này, nhóm nghiệm thể Mỹ là những người sinh sống và
làm việc ở Châu Á, nên theo chúng tôi nhóm nghiệm thể này ít nhiều cũng có

(1) khen cái áo đẹp; (2) sự thông minh của một người; (3) khả năng lái xe của một
người phụ nữ; (4) ngoại hình của một người; (5) nét quyến rũ của một người. Tuy
nhiên vế nói tiếp theo sau đó ngụ ý một LC: (1) H có thân hình mập và cái áo đầm
ấy rất hợp để che khuyết điểm của mình; (2) H nhìn bề ngoài không thông minh; (3)
phụ nữ thì không lái xe giỏi; (4) H (ba mẹ của đứa bé không đẹp); (5) H lớn tuổi rồi
và sự quyến rũ ở đây chỉ là đối với lứa tuổi ấy.
LC và đáp trả LC cũng được nghiên cứu nhưng chưa nhiều. Có thể điểm qua
một vài công trình như: J. House và G. Kasper (1981) [96]; K. Tracy, D. Van Dusen
và S. Robinson (1987) [126]; K. Tracy và E. Eisenberg (1990) [125]; R. Wajnryb
(1993) [127]; M. Toplak và A. Katz (2000) [124].
Theo J. House và G. Kasper [96], LC (criticisms), lời kết tội (accusations) và
lời trách mắng (reproaches) là các dạng khác nhau của lời phàn nàn (complaints).
Họ giải thích rằng cả ba hành động này đều có chung hai đặc điểm, đó là “sự kiện
xảy ra sau” (post-event)- có nghĩa là việc đáng bị phàn nàn đã có trước khi lời nhận
xét được bộc lộ và “chống lại người nói” (anti-speaker) – tức là S sẽ phải chịu trách
nhiệm, trả giá cho những gì mình nói. Tuy nhiên A. Wierzbicka [130] lại khẳng
định rằng LC không nhất thiết phải luôn luôn xoáy vào một sự việc xảy ra trước
theo quan điểm của House and Kasper, LC có thể được sử dụng cho một sự việc
tĩnh tại, vĩnh cửu hoặc không theo trật tự thời gian như ngoại hình hoặc tính cách

8
của một người. Tracy, Dusen and Robinsons [126] cũng nhấn mạnh đặc điểm
“chống lại người nói” thích hợp cho lời phàn nàn hơn là LC vì khi thực hiện một
LC, S có thể muốn H cải thiện bản thân mình hoặc có thể S chỉ muốn bộc lộ ý kiến
của mình. Họ phân tích các đặc điểm của LC tốt (good criticisms) và LC xấu (bad
criticisms) bằng cách thu thập các LC từ rất nhiều người với nền tảng văn hóa khác
nhau qua các bảng câu hỏi mở và kết luận có năm đặc điểm để phân biệt LC tốt và
LC xấu, trong đó LC tốt trước tiên cần phải dùng ngôn ngữ và thái độ tích cực, thứ
hai sự thay đổi được đề nghị trong phát ngôn chê phải cụ thể và người chê có dụng
ý giúp những thay đổi ấy có khả năng xảy ra, thứ ba là lý do đưa ra LC phải có lý,

trường hợp S>H là cao nhất và đặc điểm lịch sự trong trường hợp này không bị chi
phối bởi yếu tố tôn ti trong môi trường hành chính cũng như phi hành chính. Theo
tác giả, trong môi trường hành chính, nghi thức chê bị chi phối bởi quyền lực,
nhưng do bị chi phối bởi tính khách quan, phi biểu cảm nên hễ giữ đúng các thể
thức hành chính thì chúng đạt được lịch sự nhất định. Có một số phương tiện ngôn
ngữ thuộc nhiều cấp độ dùng để bù đắp cho bản chất tiêu cực của nghi thức chê nên
một nội dung chê cụ thể đều có thể lượng hóa các mức độ lịch sự khác nhau trên
thang độ.
Qua khảo sát thực tế và tham khảo nhiều nguồn tài liệu, chúng tôi nhận thấy
còn rất nhiều điều lý thú khi nghiên cứu LK và LC. Trên cơ sở kế thừa và phát triển
kết quả của các công trình đi trước, LA trình bày một cách có hệ thống về đặc điểm
cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng của LK và LC trong tiếng Việt và tiếng Anh Mỹ.
Qua các chiến lược thể hiện LK và LC của người Việt và người Mỹ, LA phân tích
các đặc trưng văn hóa ảnh hưởng đến việc chọn lựa CLK và CLC. Ngoài ra, LA còn
quan tâm đến thang độ trong khen và chê. LK và LC là hai hành động trái ngược
nhau nên phương tiện dùng để khen và chê về hình thức là hoàn toàn khác nhau.
Tuy nhiên đôi khi lại rất khó nhận dạng phương tiện người sử dụng đang dùng là
nhằm diễn đạt một LK hay là một LC nếu không đặt chúng vào một ngữ cảnh cụ thể
trong một nền văn hóa cụ thể. LA cho thấy rằng để hiểu và phân biệt hai hành động
này, người giao tiếp cần phải nắm rõ đặc điểm văn hóa, những lý lẽ chung được
công nhận trong nền văn hóa đó, hoàn cảnh giao tiếp, yếu tố tâm lý của S và H.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu chính của LA là các phương thức thể hiện LK và LC
của người Việt và người Mỹ, đó chính là các CT và chiến lược được sử dụng để đạt
mục đích khen và chê. Các chiến lược này có thể được diễn đạt trực tiếp hoặc gián
tiếp, tường minh hoặc hàm ẩn, đôi khi có cả sự đóng góp của một số phương tiện
phi lời được biểu hiện qua ngôn ngữ cơ thể. Tuy nhiên, các phương tiện ngôn ngữ

10


cứu cơ bản đang được sử dụng phổ biến và có hiệu quả như phương pháp thống kê
định lượng, phương pháp so sánh – đối chiếu, phương pháp miêu tả, phương pháp
xã hội – ngôn ngữ học.

11

Các thủ pháp điều tra bằng phiếu, phỏng vấn trực tiếp, ghi âm, lập bảng biểu
cũng được áp dụng trong quá trình nghiên cứu.
Phương pháp thống kê định lượng là phương pháp nghiên cứu khá quen
thuộc. Tuy nhiên trong công trình này, chúng tôi không sử dụng những phép toán
phức tạp khi thống kê mà chỉ sử dụng những phép tính đơn giản để tính tỉ lệ phần
trăm của các số liệu thống kê thu được, và tiến hành phân loại dữ liệu theo các cấp
độ.
Phương pháp so sánh - đối chiếu là phương pháp nghiên cứu chủ yếu của LA
vì tính chất của đề tài là so sánh ngôn ngữ. Từ những phương thức người Việt và
người Mỹ thường sử dụng khi thực hiện hành vi khen và chê, chúng tôi đối chiếu
những điểm tương đồng và khác biệt của hai nền văn hóa khi bộc lộ hai hành động
ngôn ngữ này.
Chúng tôi thực hiện điều tra xã hội – ngôn ngữ học qua hai cách:
1. Điều tra bằng phiếu khảo sát: Phiếu khảo sát được xây dựng bằng tiếng
Việt và tiếng Anh. Đối tượng điền phiếu là người Việt đang sinh sống tại Việt Nam
và người Mỹ đang sinh sống tại Mỹ. Chúng tôi thiết kế hai loại phiếu. Để thu thập
các mẫu LK, LC, chúng tôi dùng bảng câu hỏi mở (phụ lục 4) và để đối sánh những
điểm tương đồng và khác biệt trong việc sử dụng các CLK và CLC của người Việt
và người Mỹ, chúng tôi dùng bảng câu hỏi chọn lựa các chiến lược (phụ lục 3) cho
ba nhóm đề tài, đó là ngoại hình, những hành động và khả năng cụ thể và vật sở
hữu. 700 phiếu khảo sát bằng tiếng Anh được phát cho những người bản xứ Mỹ
đang sinh sống và làm việc tại Mỹ, thu lại 600 phiếu và chọn lọc 344 phiếu đạt yêu
cầu theo các thông số đã được vạch ra. Số phiếu điều tra phát ra cho người Việt
cũng là 700 phiếu, thu lại đạt yêu cầu nhiều hơn và được chọn ngẫu nhiên cho

- Mô tả cặn kẽ những đặc trưng, tính chất của hai hành động ngôn từ đối ứng
nhau trong cả tiếng Việt và tiếng Anh.
- Nêu lên đặc điểm rất riêng của hành vi khen và chê trong tiếng Việt đó là
kiểu cấu trúc sử dụng hư từ như một tác tử định hướng lập luận.
- Gợi ý các chiến lược thể hiện LK, LC để việc giao tiếp giữa những người
trong cùng một nền văn hóa hoặc khác biệt về văn hóa thuận lợi hơn và đạt hiệu quả
cao hơn, mà cụ thể là việc giao tiếp giữa người Việt và người Việt, người Việt và
người Mỹ, người Mỹ và người Việt, người Mỹ và người Mỹ.
- Cung cấp nhiều ví dụ sinh động về ngôn ngữ học xã hội trong việc dạy và
học tiếng Việt và tiếng Anh.
- Góp phần tích cực trong việc dạy và học ngoại ngữ, đặc biệt là trong văn hóa
ứng xử, giao tiếp hằng ngày, cụ thể là việc dạy và học tiếng Việt và tiếng Anh Mỹ.

13

Khi học một hành vi ngôn ngữ và vận dụng trong giao tiếp, người học cần nắm rõ
các vấn đề liên quan đến hành vi ấy từ cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
tức là ý nghĩa của hành vi ấy trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, trong
những nền văn hóa khác nhau và phải chú trọng đến cả những ngôn ngữ phi lời kèm
theo trong giao tiếp.
- Có thể vận dụng những hiểu biết về cách nói khen, chê của hai thứ tiếng
Việt, Anh vào việc biên soạn các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, tiếng
Anh cho người Việt.
6. BỐ CỤC LUẬN ÁN
Toàn văn luận án dày 210 trang (kể cả tài liệu tham khảo và nguồn ngữ liệu
trích dẫn). Phần phụ lục là một quyển riêng dày 197 trang. Phần chính văn là 195
trang bao gồm: phần mở đầu, phần kết luận và ba chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý thuyết. Chương này đề cập đến ba vấn đề: vấn đề về
dụng học giao văn hóa, vấn đề đặc điểm hành vi khen, hành vi chê và vấn đề lập
luận trong ngôn ngữ. Vấn đề thứ nhất giới thiệu nhiều quan điểm minh chứng cho

đầu là số chương và số tiếp theo là số thứ tự của ví dụ trong chương ấy. Ví dụ trong
chương hai được đánh số bắt đầu từ (2.01) đến (2.263). Ví dụ trong chương ba từ
(3.01) đến (3.175).

15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Một số vấn đề về dụng học giao văn hóa
1.1.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Từ lâu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa đã trở thành mối quan tâm đặc
biệt của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới. Ở châu Âu phải kể đến W.Humboldt

có tính dân tộc và ảnh hưởng đến cách tư duy của con người nên cùng một ý nghĩa
có thể được biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau ở các nền văn hóa khác nhau.
Khi đề cập đến mối quan hệ “ngôn ngữ - nhận thức – văn hóa”, chúng ta
không thể không nhắc đến “giả thuyết Sapir-Whorf” về tính tương đối của ngôn
ngữ (linguistic relativity). Có hai điểm nổi bật trong giả thuyết này, một là ngôn
ngữ quyết định cách một dân tộc suy nghĩ, cảm thụ và chia cắt thế giới khách quan
thành những phạm trù. Ngôn ngữ khác nhau thì tư duy khác nhau. Theo họ, “con
người không phải chỉ sống trong thế giới khách quan của các sự vật và không phải
chỉ trong thế giới của hoạt động xã hội, như ta thường tưởng thế; mà con người
còn bị bó buộc rất nhiều vào ngôn ngữ cụ thể làm phương tiện giao tiếp cho xã hội
đó”. Hai là ngôn ngữ phản ánh những giới hạn và những ràng buộc về văn hóa đối
với lối tư duy của dân tộc, thể hiện trong cách ngôn ngữ đó chia cắt hiện thực và
phạm trù hóa kinh nghiệm vì “chúng ta nhìn thấy, nghe thấy và cảm nhận một cách
này hay cách khác (những hiện tượng nào đó) chủ yếu là nhờ chỗ các tập quán
ngôn ngữ của xã hội chúng ta đã định hướng cho chúng ta lựa chọn cách diễn đạt
ấy”.
Nguyễn Văn Chiến [10,51] đã khái quát ba định đề cơ bản nghiên cứu về
mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa như sau:
- Thứ nhất: Ta nói ngôn ngữ bình đẳng với văn hóa hay độc lập với văn hóa
là bởi vì cả hai đều là sản phẩm của con người lao động có tư duy. Ngôn ngữ là một
hiện tượng văn hóa, nằm trong văn hóa. Văn hóa có ngoại diên lớn, ngôn ngữ có
ngoại diên hẹp hơn nhưng có những đặc tính nội hàm rộng lớn hơn. Mối quan hệ
giữa văn hóa và ngôn ngữ là mối quan hệ bao nhau. Mối quan hệ ấy được minh họa
bằng hai vòng tròn như sau: Vòng tròn A, bên ngoài, biểu thị khái niệm văn hóa và các sự kiện văn hóa.

nền văn hóa mới do cùng sống và làm việc trong nền văn hóa ấy hoặc do việc học
ngoại ngữ.
Kiến thức về văn hóa đích luôn là một bộ phận quan trọng của quá trình học
ngoại ngữ, đặc biệt là ở bậc cao. Điều này có thể do cả hai yếu tố chủ quan
và khách quan đưa lại: một mặt là sự thích thú đơn thuần nội tại trong việc
khám phá nhiều hơn nữa một nền văn hóa khác với nền văn hóa của chính
người học – và điều này cũng bao gồm cả yếu tố thoát ly. Mặt khác đó là cái
mà Gillian Brown gọi là “sự diễn giải diễn ngôn” (discourse interpretation),
một ngữ năng mang tính bản năng, dựa trên kiến thức văn hóa, mà người bản
ngữ sở hữu nhưng người học phải được đào tạo. [43]
Thế giới khách quan luôn bị bóp méo, khúc xạ qua lăng kính chủ quan của
người bản ngữ. Tùy vào mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa khác nhau mà có cách nghĩ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status