tóm tắt luận án tiên sĩ nguồn gốc hình thành và đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ thuần việt - Pdf 28

MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ, chúng ta
thường sử dụng thành ngữ để làm cho lời nói sinh động, tạo ấn tượng
sâu sắc đối với người đọc, người nghe. Thành ngữ được sử dụng trong
lời ăn tiếng nói hàng ngày quen thuộc đến mức không cần biết đến
nguồn gốc của chúng. Các thành ngữ tiếng Việt được ra đời từ khi nào?
Chúng có xuất xứ từ đâu? Những thành ngữ nào thì được coi là thành
ngữ có nguồn gốc Việt? Những câu hỏi này ít nhiều đã được đặt ra trong
các công trình nghiên cứu thành ngữ, nhưng lại chưa được giải quyết
một cách toàn diện, triệt để và hệ thống, có cơ sở khoa học, nhiều khi
mang tính chất "từ nguyên dân gian". Từ cách đặt vấn đề nói trên, đề tài
luận án tiến hành tìm hiểu nguồn gốc ra đời của thành ngữ thuần Việt.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Giai đoạn trước 1945
Ở giai đoạn trước 1945, thành ngữ hầu như chưa trở thành một đối
tượng nghiên cứu độc lập của ngành ngôn ngữ học, mà nó thường được
xem xét chung với tục ngữ. Những tác giả đầu tiên chú ý đến loại đơn vị
này là Phạm Quỳnh, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc (1928), Dương Quảng
Hàm (1924).
2.2 Giai đoạn sau năm 1945
Ở giai đoạn này, thành ngữ trở thành tâm điểm nghiên cứu của nhiều
nhà Việt ngữ học. Vì vậy, những kết quả nghiên cứu về thành ngữ nói
chung đã đạt được trên nhiều phương diện. Các vấn đề như khái niệm
thành ngữ, đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ, phân biệt
thành ngữ với tục ngữ đã được các nhà Việt ngữ học khai thác triệt để
và đã có quan điểm đồng thuận. Bên cạnh đó, một số vấn đề khác như
nguồn gốc của thành ngữ, mối quan hệ giữa thành ngữ và văn hóa bước
đầu cũng đã được đề cập đến, song chưa có lời giải đáp thỏa đáng.
1
3. Phương pháp nghiên cứu

5.1 Ý nghĩa khoa học
Giải quyết tốt vấn đề, luận án góp phần hoàn thiện việc nghiên cứu
thành ngữ từ góc độ nguồn gốc và những đặc điểm cấu trúc (hiện tượng
biến thể), ngữ nghĩa (quan hệ đồng nghĩa - trái nghĩa). Qua đó, luận án
cũng khẳng định những giá trị văn hóa dân tộc được kết tinh trong thành
ngữ. Các kết quả nghiên cứu còn góp phần phát triển bộ môn từ nguyên
khoa học vốn chưa phát triển ở nước ta.
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, qua việc tìm hiểu nguồn gốc, xuất xứ của thành
ngữ, luận án góp phần hữu ích vào việc giúp hiểu đúng, hiểu chính xác
nghĩa của thành ngữ, từ đó sử dụng thành ngữ đúng và hay trong giao
tiếp, góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Những kết quả
nghiên cứu còn có giá trị hữu ích trong việc giảng dạy và học tập chuyên
đề Thành ngữ tiếng Việt cho sinh viên các ngành Việt Nam học, Cử nhân
Văn học. Việc dạy và học thành ngữ không chỉ thuần túy cung cấp cho
sinh viên những kiến thức ngôn ngữ học mà còn giúp họ thấy được
những giá trị văn hóa dân tộc ẩn tàng trong thành ngữ.
6. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận,Tài liệu tham khảo, luận án gồm ba
chương:
Chương 1: Những vấn đề lí thuyết
Chương 2: Nguồn gốc của thành ngữ thuần Việt
Chương 3: Đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ thuần Việt.
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT
1.1 Một số vấn đề lí thuyết về thành ngữ
1.1.1 Khái niệm thành ngữ
Thành ngữ là những cụm từ cố định, có sẵn, được lưu truyền trong
dân gian từ đời này sang đời khác. Về chức năng, thành ngữ là đơn vị

Dựa vào cơ chế cấu tạo, nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ chia thành ngữ
tiếng Việt thành hai loại là thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn
dụ. Cũng dựa vào cơ chế cấu tạo, nhưng Nguyễn Thiện Giáp (1999) lại
chia thành ngữ thành hai loại lớn, đó là thành ngữ hòa kết và thành ngữ
hợp kết.
1.2 Khái niệm thành ngữ thuần Việt. Để xác định khái niệm thành
ngữ thuần Việt và các tiêu chí nhận diện, chúng tôi bắt đầu từ việc xác
định khái niệm từ thuần Việt, bởi lẽ thành ngữ thuần Việt trước hết được
cấu tạo từ các từ thuần Việt.
1.2.1 Khái niệm từ thuần Việt
Xét theo nguồn gốc, có thể chia hệ thống từ vựng tiếng Việt thành
hai mảng lớn là từ thuần Việt (hay từ bản ngữ) và từ vay mượn (hay từ
ngoại lai). Từ vay mượn là những từ tiếng Việt mượn của các ngôn ngữ
khác nhưng được cải tạo về hình thức ngữ âm và ngữ pháp để phù hợp
với đặc điểm của tiếng Việt. Bên cạnh các từ vay mượn, hệ thống từ
vựng tiếng Việt còn có những từ cơ bản, biểu thị các sự vật, hiện tượng,
tính chất, quan hệ… xuất hiện lâu đời cùng với cộng đồng sử dụng ngôn
ngữ. Đó chính là các từ thuần Việt. Lớp từ thuần Việt là cốt lõi của từ
5
vựng tiếng Việt. Nó là chỗ dựa và có vai trò điều khiển, chi phối hoạt
động của mọi lớp từ khác.
Ở đây, cần lưu ý khái niệm thuần Việt. Khi nói từ thuần Việt là
chúng tôi nhằm đối lập từ thuần Việt với từ không thuần Việt, tức là
những từ không phải gốc Việt.Từ thuần Việt chỉ bao gồm những từ do
người Việt tự sáng tạo ra mà không bao hàm các từ vay mượn. Đó phải
là các từ gốc Môn- Khơ me. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của
tiếng Việt, cách đây hàng ngàn năm nó đã có sự vay mượn các từ thuộc
ngôn ngữ của các dân tộc khác cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam
mà không phải tiếng Hán, như các ngôn ngữ Tày - Thái, (ví dụ các từ:
bánh, bát, bóc, ngọn ). Cho nên khái niệm thuần Việt mà chúng tôi sử

Thành ngữ thuần Việt trước hết là những thành ngữ do người Việt tự
sáng tạo dựa trên những chất liệu ngữ âm thuần Việt, phản ánh đời sống
văn hóa, tinh thần, phong tục tập quán, thói quen, nếp cảm, nếp nghĩ của
người Việt. Tính chất thuần Việt của thành ngữ thể hiện ở các phương
diện ngữ âm, ngữ nghĩa, màu sắc phong cách và cấu trúc.
CHƯƠNG 2
NGUỒN GỐC THÀNH NGỮ THUẦN VIỆT
Trong luận án khái niệm "nguồn gốc" được hiểu theo 2 phương diện:
thứ nhất là xuất xứ không gian ra đời: thành ngữ này là của dân tộc nào,
địa phương nào (ví dụ: thành ngữ gốc Hán…); thứ hai: cơ sở văn hóa -
xã hội, phong tục, tập quán….để một thành ngữ ra đời (ví dụ: thành ngữ
ra đời từ phong tục ma chay hay cưới xin, hay từ một tích truyện….).
7
Do vậy để xác định được nguồn gốc của từng thành ngữ thuần Việt cụ
thể, trước hết cần làm sáng tỏ những nhân tố làm cơ sở cho sự hình
thành và ra đời của các thành ngữ nói chung, của các thành ngữ thuần
Việt nói riêng.
2.1 Những cơ sở cho sự hình thành và ra đời của thành ngữ
Cơ sở quan trọng mà chúng tôi dựa vào để tìm ra nguồn gốc của
thành ngữ là những thành tố của hệ thống văn hóa Việt Nam, bao gồm
bốn yếu tố: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng
xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội.
Đi vào cụ thể hơn, việc xác định nguồn gốc ra đời của thành ngữ nói
chung, thành ngữ thuần Việt nói riêng, cần phải dựa vào phạm vi sử
dụng của chúng. Trên cơ sở này, qua sự khảo sát và phân tích tư liệu,
chúng tôi bước đầu xác định được thành ngữ có thể mới đầu ra đời và
được sử dụng trong phạm vi đời sống toàn dân hay chỉ ở một địa phương
cụ thể nào đó (ví dụ: Thành ngữ đèo heo hút gió liên quan đến thành ngữ
đèo Neo hút gió ở Bắc Giang- nơi có địa danh Đèo Neo) hay trong phạm
vi một ngành nghề thủ công nào đó (ví dụ: già kém kẹn hom được sử

chườm, chó chui gầm chạn, ăn mắm mút giòi, chân lấm tay bùn, buôn
thúng bán mẹt, vai u thịt bắp, cổ cày vai bừa, ,
- Thành ngữ có xuất từ từ văn hóa ăn uống. Ví dụ: chém to kho mặn,
thái to bung dừ, cơm chiêm mắm mặn, cơm hẩm cà thiu, trơn như đổ
mỡ
- Thành ngữ có xuất xứ từ văn hóa mặc. Ví dụ: áo vải quần nâu, áo
thô giày cỏ, áo lụa quần hồng, mớ ba mớ bảy,
- Các trò chơi dân gian cũng là nơi sản sinh ra nhiều thành ngữ thuần
Việt:cờ gian bạc bịp, cờ gian bạc lận, bắt cá hai tay, thò lò sáu mặt,
9
2.2.1.2 Thành ngữ thuần Việt phản ánh đặc tính sinh học của các loài
động thực vật.
Ví dụ: chuồn chuồn đạp nước, nước mắt cá sấu, te tái như gà mái
nhảy ổ, mặt rỗ như tổ ong, cổ ngẳng như cổ cò; tươi như hoa, ngang
cành bứa, rách như tổ đỉa Nhìn chung, các thành ngữ thuộc nhóm này
phản ánh rõ cách nhìn nhận, quan sát, đánh giá của người Việt về tập
tính của các loài động thực vật, từ đó tạo nên các thành ngữ.
2.2.2 Thành ngữ có xuất xứ từ địa phương
Ví dụ: vênh váo như bố vợ phải đấm có nguồn gốc từ tỉnh Hà Nam,
chiêm khê mùa thối có xuất từ từ vùng đồng chiêm trũng (Nam Định, Hà
Nam), công tử Bạc Liêu có xuất xứ từ tỉnh Bạc Liêu
2.2.3 Thành ngữ thuần Việt phản ánh đặc điểm, quá trình sản xuất
của các ngành nghề thủ công. Ví dụ: mỏng mày hay hạt, chân chỉ hạt
bột, nát như tương bần
2.2.4 Thành ngữ có nguồn gốc từ sách vở. Ví dụ: con rồng cháu
tiên, đẽo cày giữa đường, nói dối như cuội, vắt cổ chày ra nước Trong
nhóm này có một số thành ngữ thuần Việt được hình thành từ sự vay
mượn chất liệu của tiếng Hán, thường là mượn tên riêng của các nhân
vật trong truyện hoặc sử sách của Trung Quốc. Ví dụ: nóng như Trương
Phi, đa nghi như Tào Tháo, lẩy bẩy như Cao Biền dậy non Nhóm thành

Ví dụ: vắng như chùa bà đanh, vụng chèo khéo chống có 21 thành
ngữ thuộc nhóm này.
2.3.2 Thành ngữ có nhiều cách giải thích nguồn gốc do có hiện
tượng biến thể của thành tố cấu tạo.
Ví dụ: mũi vạy lái phải chịu đòn và mũi dại lái phải chịu đòn, chờ
được vạ thì má đã sưng và chờ được mạ thì má đã sưng hay chờ được
11
nạ thì má đã sưng v.v Số lượng các thành ngữ thuộc nhóm này là 23
đơn vị.
2.3.3 Thành ngữ được giải thích có xuất xứ cả từ trong tiếng Việt và
trong tiếng Hán.
Ví dụ: ếch ngồi đáy giếng, ôm cây đợi thỏ, v.v
2.4 Một số nguyên nhân khiến một thành ngữ có nhiều cách giải
thích nguồn gốc khác nhau
Nguyên nhân thứ nhất: do một số yếu tố cấu tạo nên thành ngữ đã trở
thành từ cổ.
Nguyên nhân thứ hai, một số thành ngữ đã tách hẳn khỏi môi trường
cụ thể của ngành nghề đã sản sinh ra chúng để trở thành lối nói chung
của toàn xã hội
Nguyên nhân thứ ba, đó là do chúng bị cách giải thích theo từ nguyên
dân gian làm cho "méo mó".
2.5 Tiểu kết chương 2
Dựa vào quy luật ngôn ngữ và các yếu tố văn hóa, chúng tôi đã xác
định được những nguồn chủ yếu tạo nên thành ngữ thuần Việt. Số
lượng thành ngữ thuần Việt rất lớn, lại liên tục được bổ sung theo thời
gian, nhưng chung quy lại chúng được hình thành từ mấy nguồn chính
sau đây:
- Từ các phong tục của người Việt như phong tục hôn nhân, tang ma,
lễ tết và lễ hội; các tín ngưỡng như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thần
linh, tư tưởng sùng bái con người, sùng bái thiên nhiên và các loài động

3.1.2.1 Sơ lược về hiện tượng biến thể của thành ngữ
13
13
Hiện tượng biến thể của từ và các cụm từ cố định đã được một số nhà
ngôn ngữ học trên thế giới đề cập đến. Tiêu biểu là những đóng góp của
Ju.S. Stepanov (1984), Tomita Kenji (1999) Ở Việt Nam, trong các tài
liệu ngôn ngữ học, vấn đề biến thể của các đơn vị ngôn ngữ, đặc biệt là
biến thể của từ và cụm từ cố định bước đầu mới được chú ý qua một số
bài viết của Trương Đông San (1976), Vũ Quang Hào (1992) Nhìn
chung các tác giả đều thống nhất ở chỗ cho rằng khái niệm biến thể của
một đơn vị ngôn ngữ chỉ áp dụng cho mặt hình thức của đơn vị đó. Có
thể nói, biến thể của một đơn vị từ vựng thực chất là sự biến đổi về hình
thức âm thanh của đơn vị đó mà không có sự thay đổi về mặt ý nghĩa.
3.1.2.2 Hiện tượng biến thể của các thành ngữ thuần Việt
* Định nghĩa
Biến thể thành ngữ là những dạng thức khác nhau của một thành ngữ,
có ý nghĩa biểu trưng hoàn toàn giống nhau, có kết cấu ngữ pháp đồng
nhất, trong đó có thể thay đổi hình thức ngữ âm, trật tự cấu tạo hoặc
thay thế thành phần cấu tạo bằng các từ đồng nghĩa, cùng trường nghĩa.
Các biến thể của thành ngữ không có sự khác biệt về ý nghĩa cơ bản mà
chỉ khác nhau về sắc thái biểu cảm hay màu sắc phong cách. Ví dụ: cá
nằm trên thớt - các nằm trốc thớt, già đòn non nhẽ - già đòn non lẽ,
* Phân biệt thành ngữ gốc (hay thành ngữ hằng thể) và thành ngữ biến
thể: Việc phân biệt thành ngữ gốc và thành ngữ biến thể, theo chúng tôi
cần dựa trên hai phương diện đồng đại và lịch đại để xem xét. Nếu xét
trên phương diện đồng đại, thành ngữ gốc có cấu trúc ổn định, mang tính
phổ biến, toàn dân, được sử dụng rộng rãi trong mọi hoàn cảnh giao tiếp.
Trong khi đó, thành ngữ biến thể có sau, ít phổ biến, có sự phá vỡ về cấu
14
trúc của thành ngữ gốc, chẳng hạn ăn gió nằm mưa và ăn gió với nằm

3.2.1 Hiện tượng đồng nghĩa thành ngữ
15
3.2.1.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu hiện tượng đồng nghĩa
Lịch sử nghiên cứu các từ đồng nghĩa được bắt đầu từ rất sớm. Tuy
nhiên, gặt hái được nhiều thành công ở lĩnh vực này phải kể đến công
lao của các nhà Nga ngữ học với những tên tuổi tiêu biểu như T.A
Bertagaép và V.I Zimin, Skliarốp…
3.2.1.2 Cơ sở xác định
Để xác định sự đồng nghĩa của thành ngữ trong tiếng Việt, chúng tôi
dựa vào ý kiến của M.F Palépskaja về hiện tượng đồng nghĩa ngữ pháp.
"Các đơn vị đồng nghĩa cú pháp - là những kết cấu khác loại về mặt cấu
trúc mà vẫn giữ địa vị ngữ pháp đồng nhất, biểu hiện cùng một nội dung
ý nghĩa thông báo và khác nhau bởi những sắc thái của ý nghĩa vốn được
tạo ra do sự biến đổi của ý nghĩa ngữ pháp".
3.2.1.3 Tiêu chí xác định các đơn vị thành ngữ đồng nghĩa
Để xác định quan hệ đồng nghĩa giữa các thành ngữ, chúng tôi dựa
vào tính đồng nhất và khác biệt của hai tiêu chí kết cấu ngữ pháp và nội
dung ý nghĩa. Về phương diện kết cấu ngữ pháp: đó là tính đồng nhất
hay khác biệt về kết cấu ngữ pháp. Về phương diện ý nghĩa: các thành
ngữ có ý nghĩa biểu trưng giống nhau dựa trên những hình ảnh cơ sở
khác nhau.
3.2.1.4 Định nghĩa thành ngữ đồng nghĩa
Các thành ngữ đồng nghĩa là những thành ngữ khác nhau có ý nghĩa
biểu trưng cơ bản giống nhau, có kết cấu ngữ pháp khác nhau; hoặc có
kết cấu ngữ pháp đồng nhất nhưng có sự thay thế thành phần cấu tạo
bằng các từ ngữ thuộc các trường từ vựng - ngữ nghĩa khác nhau, dựa
trên những hình ảnh cơ sở khác nhau. Các thành ngữ đồng nghĩa có thể
khác nhau về sắc thái ý nghĩa hoặc sắc thái biểu cảm.
3.2.1.5 Các quan hệ đồng nghĩa trong thành ngữ
16

3.2.2 Hiện tượng trái nghĩa của thành ngữ thuần Việt
Một cách chung nhất, quan hệ trái nghĩa giữa các thành ngữ xảy ra khi
hai thành ngữ biểu thị ý nghĩa tương phản, đối lập nhau. Có hai trường
hợp thành ngữ trái nghĩa:
Thứ nhất, thành ngữ trái nghĩa là những thành ngữ so sánh có thành tố
trung tâm là các tính từ biểu thị những thuộc tính đối lập nhau. Chẳng
hạn, đẹp như tiên >< xấu như ma, khô như ngói >< ướt như chuột lột
Thứ hai, những thành ngữ ẩn dụ cũng có thể trái nghĩa khi chúng biểu
thị những ý nghĩa tương phản, đối lập nhau dựa trên một nét nghĩa đồng
nhất. Chẳng hạn, thắt lưng buộc bụng >< vung tay quá trán, ném tiền
qua cửa sổ, v.v
3.3 Thành tố văn hóa - lịch sử trong ý nghĩa và cấu trúc của các
thành ngữ thuần Việt
3.3.1 Sơ lược về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Trên thế giới, vấn đề mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa dân tộc từ
lâu đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của nhiều nhà ngôn ngữ học. Ở
châu Âu có thể kể đến những tên tuổi lớn như W.Humboldt, F.de
Saussure, ở châu Mỹ là Franz Boas, E. Sapir và B. Whorf Ở Việt
Nam, vấn đề này cũng đã thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của các nhà
nghiên cứu và cũng đã đạt được một số thành tựu đáng kể qua các công
trình của Trần Ngọc Thêm (1993), Đỗ Hữu Châu (2000), Nguyễn Đức
Tồn (2002,2008,2010)
3.3.2 Đặc trưng văn hóa- dân tộc của ý nghĩa biểu trưng
3.3.2.1 Khái niệm biểu trưng
18
Đó là cách người ta lấy một sự vật cụ thể hoặc một tính chất thích hợp
để gợi ra, liên tưởng đến một cái trừu tượng nào đó. Chẳng hạn, chim bồ
câu biểu trưng cho hòa bình.
3.3.2.2 Ý nghĩa biểu trưng trong thành ngữ thuần Việt.
Trong phần này, chúng tôi tìm hiểu đặc trưng văn hóa của dân tộc

đồng nhất. Còn đồng nghĩa thành ngữ là những thành ngữ khác nhau có
ý nghĩa biểu trưng về cơ bản giống nhau, dựa trên những hình ảnh cơ sở
khác nhau, có kết cấu ngữ pháp khác nhau; hoặc có kết cấu ngữ pháp
đồng nhất nhưng có sự thay thế thành phần cấu tạo bằng những từ ngữ
thuộc các trường từ vựng - ngữ nghĩa khác nhau. Thứ hai, thành ngữ
đồng nghĩa thực chất là những cách nói hình ảnh khác nhau về cùng một
sự vật hiện tượng. Việc nhìn nhận, đánh giá đối tượng theo những góc
độ khác nhau đã tạo nên những hình ảnh khác nhau về cùng một đối
tượng. Có thể nói, các thành ngữ đồng nghĩa chính là một minh chứng
cho sự giàu đẹp, phong phú và đa dạng của tiếng nói dân tộc. Đồng thời,
việc tìm hiểu các thành ngữ đồng nghĩa phần nào giúp chúng ta hình
dung bức tranh văn hóa, tư duy của dân tộc Việt Nam.Thứ ba, các thành
ngữ không chỉ có quan hệ đồng nghĩa với nhau mà còn có quan hệ trái
nghĩa. Các thành ngữ đồng nghĩa và thành ngữ trái nghĩa tạo thành hai
kiểu quan hệ ngữ nghĩa lớn trong hệ thống thành ngữ.
Hơn bất cứ một đơn vị nào khác trong hệ thống từ ngữ tiếng Việt,
thành ngữ là đơn vị phản ánh đậm nét những dấu ấn văn hóa - lịch sử
của dân tộc Việt. Qua hệ thống thành ngữ thuần Việt, có thể thấy rõ đời
sống tâm hồn, tình cảm cùng lối tư duy mang đậm màu sắc nông nghiệp
của con người Việt Nam.
KẾT LUẬN
20
1. Nằm trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, thành ngữ chiếm
một vị trí đặc biệt quan trọng. Nó vừa là đơn vị ngôn ngữ vừa là đơn vị
văn hóa. Thành ngữ là những cụm từ cố định có kết cấu chặt chẽ, ổn
định, cố định và có nghĩa bóng bẩy, nghĩa biểu trưng.
Thành ngữ thuần Việt là những thành ngữ do người Việt tự
sáng tạo dựa trên những chất liệu ngữ âm thuần Việt, phản ánh đời
sống văn hóa, tinh thần, phong tục tập quán, thói quen, nếp cảm, nếp
nghĩ của người Việt. Tính chất thuần Việt của thành ngữ thể hiện ở các

- Một số thành ngữ do người Việt tạo ra bằng cách mượn các
điển tích, điển cố tiếng Hán, được Việt hóa về ngữ âm để làm chất liệu
cấu tạo theo lối tư duy và quy tắc ngữ pháp của tiếng Việt.
Khi các thành tố cấu tạo thành ngữ đều có ý nghĩa rõ ràng,
thành ngữ không chứa từ cổ, từ ít dùng hoặc không có sự biến dạng về
ngữ âm thì mối liên hệ giữa thành ngữ và nguồn gốc ra đời của chúng
có thể nhận thấy rõ ràng.
Bên cạnh đó, còn có một số thành ngữ được giải thích xuất xứ
từ nhiều nguồn khác nhau do trong thành ngữ có những từ ngữ cổ,
nghĩa cổ hoặc có sự biến dạng ngữ âm khiến thành ngữ khó hiểu hoặc
có nhiều cách hiểu khác nhau về ý nghĩa. Khi đó dễ có sự tác động của
cách hiểu theo từ nguyên dân gian. Đối với những thành ngữ này, bằng
phương pháp phân tích, phục nguyên, chúng ta có thể xác định tương
đối chính xác nguồn gốc của chúng, trả chúng về nguồn gốc xuất xứ
ban đầu.
Tìm hiểu nguồn gốc ra đời của thành ngữ thuần Việt như chúng
ta thấy quả là một vấn đề rộng lớn và phức tạp. Rộng bởi hai lẽ: Thứ
nhất là vấn đề thời gian. Các thành ngữ cũng giống như từ, vốn ra đời
22
từ rất xa xưa. Hơn nữa, chúng lại ra đời trong một xã hội Việt Nam cổ
truyền, khi mà nhận thức của con người còn rất ''ngây thơ", kinh tế
nghèo nàn, lạc hậu. Các chất liệu cấu tạo nên thành ngữ chủ yếu là
những sự vật, hiện tượng gắn bó với đời sống sinh hoạt của người xưa.
Thứ hai là vấn đề không gian. Liên quan mật thiết đến sự hình
thành của thành ngữ không chỉ có nhân tố ngôn ngữ mà còn có sự chi
phối của các nhân tố ngoài ngôn ngữ như phong tục, tôn giáo, tín
ngưỡng, văn hóa gắn với đặc điểm địa phương, vùng miền khác nhau.
Chính những lí do kể trên khiến cho việc truy tìm nguồn gốc thành ngữ
đòi hỏi phải có sự nghiên cứu liên ngành, thống hợp. Bất kì một sự
nghiên cứu nào về nguồn gốc của thành ngữ nếu bỏ qua một trong hai

Thứ hai, thành ngữ đồng nghĩa thực chất là những cách nói hình
ảnh khác nhau về cùng một sự vật, hiện tượng. Việc nhìn nhận, đánh giá
đối tượng theo những góc độ khác nhau đã tạo nên những hình ảnh khác
nhau về cùng một đối tượng. Có thể nói, các thành ngữ đồng nghĩa chính
là một minh chứng cho sự giàu đẹp, phong phú và đa dạng của tiếng nói
dân tộc. Đồng thời, việc tìm hiểu các thành ngữ đồng nghĩa phần nào
giúp chúng ta hình dung bức tranh văn hóa, tư duy của dân tộc Việt.
Thứ ba, các thành ngữ không chỉ có quan hệ đồng nghĩa với
nhau mà còn có quan hệ trái nghĩa. Tuy nhiên, số lượng các thành ngữ
trái nghĩa ít hơn nhiều so với thành ngữ đồng nghĩa. Các thành ngữ đồng
nghĩa và thành ngữ trái nghĩa tạo thành hai kiểu quan hệ ngữ nghĩa lớn
trong hệ thống thành ngữ. Đồng thời, chúng cũng không tồn tại biệt lập
mà nằm trong hệ thống đồng nghĩa từ vựng nói chung.
5. Qua việc tìm hiểu ý nghĩa biểu trưng của các từ chỉ bộ phận
cơ thể, hình ảnh động thực vật, số từ, danh từ riêng trong thành ngữ
tiếng Việt, chúng tôi cũng nhận thấy rằng, hơn bất kì một đơn vị nào
24
khác trong hệ thống ngôn ngữ, thành ngữ là loại đơn vị phản ánh đậm
nét những dấu ấn văn hóa dân tộc. Việc sử dụng các chất liệu trên để
biểu trưng là những hiện tượng biểu trưng đặc thù của tiếng Việt. Nó
phản ánh rất rõ lối tư duy của người Việt trong cách thức biểu trưng, đó
là thích dùng lối nói hoán dụ.
6. Những kết quả nghiên cứu nói trên của luận án cũng mới chỉ
là ban đầu. Còn rất nhiều nội dung cần phải được tiếp tục khảo sát, đặc
biệt là những vấn đề về nguồn gốc của thành ngữ thuần Việt. Rõ ràng là
việc truy tìm nguồn gốc của từng thành ngữ cụ thể trong kho tàng thành
ngữ thuần Việt mênh mông và rộng lớn ấy là một công việc hết sức khó
khăn, cần phải có sự trang bị nhiều kiến thức chuyên sâu và nhiều tri
thức liên ngành. Dĩ nhiên, đây cũng là một hướng nghiên cứu hứa hẹn
nhiều điều mới mẻ, thiết thực.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status