tóm tắt luận án tiến sĩ nghiên cứu lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế tại tỉnh đắk lắk - Pdf 19

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
ĐỖ THỊ NGA

NGHIÊN CỨU LỢI THẾ CẠNH TRANH
SẢN PHẨM CÀ PHÊ NHÂN CỦA CÁC TỔ CHỨC
KINH TẾ TẠI TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 62.31.10.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI, 2012
Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
80 quốc gia, xuất khẩu đạt kim ngạch 1,2 tỷ USD và gia nhập câu lạc bộ 9 mặt
hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra những cơ hội
lớn cho ngành cà phê Việt Nam phát huy lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên,
sinh thái để nâng cao khả năng ngành cạnh tranh. Tuy nhiên, ngành cà phê
Việt Nam đã và đang phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt trên các khía cạnh:
Một là, chất lượng sản phẩm cà phê nhân thấp. Hai là, sức mạnh thị trường
tiêu dùng nội địa đối với sản phẩm cà phê yếu. Ba là, năng lực của người sản
xuất, chế biến và kinh doanh cà phê trong nước kém, sản xuất thiếu tính bền
vững; Tổ chức quản lý ngành hàng lỏng lẻo, chưa phát huy sức mạnh liên kết
để nâng cao lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu sản phẩm.
Tỉnh Đắk Lắk có lợi thế so sánh vượt trội trong sản xuất các sản phẩm
nông sản nói chung và sản xuất cà phê nói riêng. Năm 2010, toàn tỉnh xuất
khẩu hơn 350 nghìn tấn cà phê, chiếm trên 30% sản lượng cà phê xuất khẩu
của cả nước. Cũng giống như tình trạng chung của cả nước, tổ chức sản xuất
cà phê của Đắk Lắk chủ yếu dưới hình thức nông hộ quy mô nhỏ; Năng lực
sản xuất, chế biến, kinh doanh của các tổ chức kinh tế hạn chế; Sản phẩm xuất
khẩu chủ yếu là cà phê nhân, phụ thuộc vào thương hiệu nước ngoài, dẫn đến
lợi thế cạnh tranh trên thị trường thế giới thấp. Việc nghiên cứu thực trạng lợi
thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phù
hợp nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân của các tổ chức
kinh tế ở tỉnh Đắk Lắk là rất cần thiết.
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực
cạnh tranh nói chung và lợi thế cạnh tranh nói riêng sản phẩm cà phê ở Việt 2
Nam. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu
sơ lược khả năng cạnh tranh của ngành cà phê Việt Nam hoặc đánh giá khả
năng cạnh tranh ngành cà phê trên các khía cạnh kinh tế, kỹ thuật riêng lẻ và
đề xuất các giải pháp nhằm phát huy lợi thế so sánh, nâng cao khả năng cạnh

cà phê, người thu mua cà phê, các nhà chế biến và tiêu thụ cà phê nhân.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung đánh giá lợi thế cạnh tranh sản
phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế ở tỉnh Đắk Lắk; Phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân; Đề xuất các giải pháp
chủ yếu nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân của các tổ
chức kinh tế ở tỉnh Đắk Lắk. Các nội dung phân tích và đánh giá tập trung chủ
yếu vào hai loại chủ thể là hộ nông dân và doanh nghiệp, là những tác nhân
quan trọng trong ngành hàng cà phê nhân và có vai trò quyết định đối với lợi
thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân.
- Thời gian: Các số liệu thứ cấp từ năm 2000 đến năm 2010; Số liệu
điều tra tập trung vào năm 2010; Giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh sản
phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020.
4 Những đóng góp mới của Luận án
Luận án đã góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân. Luận án đã xác định lợi thế cạnh
tranh sản phẩm cà phê nhân của một quốc gia (vùng hay doanh nghiệp) là sự
vượt trội so với sản phẩm cà phê nhân của các đối thủ cạnh tranh về hiệu quả,
chất lượng, thị phần và khả năng đáp ứng cầu. Trên cơ sở tiếp cận và hệ thống
hóa lý thuyết về lợi thế cạnh tranh, Luận án đã xây dựng khung phân tích lợi
thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế ở tỉnh Đắk Lắk.
Theo đó, lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân được phân tích ở bốn khía
cạnh là hiệu quả, chất lượng, thị phần và khả năng đáp ứng cầu. 4
Luận án đã phân tích những lợi thế và bất lợi thế trong cạnh tranh sản
phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế ở tỉnh Đắk Lắk, trong đó nêu rõ lợi
thế cạnh tranh về năng suất, giá thành sản phẩm và thị phần. Sản phẩm cà phê
nhân của các tổ chức kinh tế tỉnh Đắk Lắk kém lợi thế cạnh tranh ở chất

thuật sản xuất và chế biến để bảo đảm hiệu quả và chất lượng sản phẩm; ii)
Lợi thế cạnh canh sản phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế gắn với năng
lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, việc thiếu gắn kết giữa các tác nhân
trong chuỗi giá trị và mức độ tham gia của các tổ chức kinh tế vào các công
đoạn có giá trị gia tăng cao còn hạn chế là những nhân tố làm cản trở lợi thế
cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân và iii) Sản phẩm cà phê nhân có mức độ
cạnh tranh mạnh mẽ so với một số nông sản khác.
Từ những phân tích về các khía cạnh của lợi thế cạnh tranh, nội dung
chủ yếu của lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân được xác định bao gồm
i) Hiệu quả (năng suất, giá thành sản phẩm và lợi nhuận); ii) Chất lượng sản
phẩm (tiêu chuẩn chất lượng, cơ cấu chất lượng); iii) Thị phần (trong nước,
thế giới, khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường) và iv) Khả năng đáp ứng
cầu (kênh tiêu thụ, thương hiệu, mẫu mã, chủng loại, phương thức bán hàng).
Trên cơ sở vận dụng mô hình “hình thoi” của M. Porter, phù hợp với
đặc điểm của ngành cà phê, tác giả xác định sáu yếu tố chủ yếu tác động đến
lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân bao gồm i) Điều kiện tự nhiên của
sản xuất (đất đai, khí hậu, nguồn nước); ii) Năng lực của nhà sản xuất - kinh
doanh cà phê (lao động, tài chính, công nghệ, tổ chức sản xuất); iii) Điều kiện
cầu trong nước đối với sản phẩm cà phê (quy mô, tăng trưởng, tỷ lệ tiêu dùng
nội địa); iv) Các ngành hỗ trợ và và đầu tư công (cung cấp đầu vào, khuyến
nông, tín dụng, phát triển cơ sở hạ tầng, nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ
thuật, cải cách thủ tục hành chính, xúc tiến thương mại); v) Tổ chức quản lý
ngành hàng cà phê và vi) các chính sách của Chính phủ. 6
1.2 Cơ sở thực tiễn về lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn về nâng cao lợi thế cạnh
tranh sản phẩm cà phê ở một số nước sản xuất cà phê hàng đầu trên thế giới,
những bài học kinh nghiệm về nâng cao lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê

và quy trình sản xuất tiên tiến. Tuy nhiên, do thiếu vốn, đầu tư trang thiết bị
hạn chế nên chế biến cà phê nhân ở các doanh nghiệp chủ yếu tập trung ở
công đoạn đánh bóng, phân loại và đóng gói cà phê nhân để xuất khẩu.
2.2 Tiếp cận nghiên cứu
Luận án lựa chọn phương pháp tiếp cận ngành hàng, tiếp cận 2 khu vực
kinh tế và tiếp cận sinh thái nhân văn để nghiên cứu lợi thế cạnh tranh sản
phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế ở tỉnh Đắk Lắk.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Các chủ thể chính nghiên cứu trong đề tài bao gồm hộ nông dân sản
xuất cà phê, hộ thu gom, đại lý, công ty chế biến xuất khẩu cà phê nhân. Để
so sánh và làm rõ lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân của Đắk Lắk, một
tỉnh có điều kiện tương đồng được lựa chọn là Gia Lai. Để so sánh năng suất,
giá thành, lợi nhuận, chất lượng sản phẩm, thị phần… với đối thủ cạnh tranh,
Luận án chọn hai quốc gia có điều kiện tương đồng và cùng sản xuất cà phê
Robusta, đó là Indonesia và Ấn Độ. Thông tin và số liệu thứ cấp về sản xuất,
tiêu thụ cà phê của Đắk Lắk được thu thập từ các cơ quan chức năng của tỉnh
Đắk Lắk, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tổng cục Thống kê, Hiệp hội Cà phê Ca
cao Việt Nam (VICOFA). Bộ số liệu về sản xuất và thương mại cà phê của thế
giới và các nước sản xuất và xuất khẩu cà phê Robusta (Việt Nam, Indonesia,
Ấn Độ) được tiếp cận và thu thập từ Trung tâm Thống kê - Tổ chức Nông lương
của Liên hợp quốc (FAOSTAT) và Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO). Số liệu sơ
cấp được thu thập từ các mẫu đại diện của các hộ nông dân trồng cà phê, hộ
thu gom, đại lý và công ty chế biến, xuất khẩu cà phê nhân, bằng các công cụ 8
của phương pháp PRA (quan sát trực tiếp, thảo luận nhóm, phỏng vấn bán cấu
trúc và cấu trúc) và phương pháp cho điểm. Số lượng mẫu khảo sát bao gồm
183 hộ nông dân, 10 hộ thu gom, 10 đại lý và 15 công ty chế biến xuất khẩu
cà phê nhân. Các phương pháp phân tích chủ yếu là i) Phương pháp thống kê

- Năng suất sản phẩm: Năng suất cà phê của Đắk Lắk cao hơn các vùng
khác và năng suất bình quân chung của cả nước (Bảng 3.1). So với một số
nước, Đắk Lắk có lợi thế cạnh tranh hơn hẳn về năng suất, năm 2009, năng
suất cà phê vối của Đắk Lắk cao hơn gấp đôi so với Ấn Độ và gần gấp 3 so
với Indonesia. Hai lý do chính khiến Đắk Lắk trở thành vùng canh tác cà phê
vối đạt năng suất cao, đó là i) ưu thế nổi trội về điều kiện tự nhiên (đất đai, địa
hình, khí hậu) và ii) thâm canh cao dựa vào đầu tư phân bón và nước tưới.
Bảng 3.1: Năng suất cà phê của Việt Nam và một số nước năm 2009

Năng suất (kg/ha)
So sánh (Việt Nam = 100%)
Indonesia
792
38
Ấn độ
940
45
Việt Nam
2 080
100
Tỉnh Gia Lai
1 870
90
Tỉnh Đắk Lắk
2 210
106
Nguồn: FAOSTAT và Bộ Nông nghiệp & PTNT
- Giá thành sản phẩm: So sánh giá thành 1 tấn cà phê nhân xuất khẩu
của Đắk Lắk với Gia Lai và một số nước trên thế giới cho thấy Đắk Lắk vẫn
có lợi thế cạnh tranh về giá thành do lợi thế năng suất cao (Bảng 3.2). So với

Đắk Lắk
Gia Lai
DRC/SER
0,72
0,73
DRC/OER
0,99
1,02
Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu khảo sát nông hộ
- Lợi nhuận: Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả cuối cùng để đánh giá lợi
thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân. Mặc dù có lợi thế về giá thành, song do
giá xuất khẩu thấp nên lợi nhuận bình quân/tấn sản phẩm cà phê nhân của
Đắk Lắk thấp hơn nhiều so với Ấn Độ và Indonesia (Bảng 3.4). Tuy nhiên,
nhờ có lợi thế năng suất cao nên lợi nhuận/ha của Đắk Lắk cao hơn so với
Indonesia 24%.
Bảng 3.4 Lợi nhuận của Đắk Lắk, Gia Lai và một số nước
Chỉ tiêu
Đắk Lắk
Gia Lai
Indonesia
Ấn Độ
Giá xuất khẩu (USD/tấn)
1 438
1 329
1 827
2 994
Giá thành (USD/tấn)
1 142
1 158
1 200

bởi hộ nông dân dưới dạng cà phê nhân xô. 57% sản phẩm có chất lượng
không bảo đảm (trọng lượng hạt nhỏ; có nhiều lỗi như hạt đen, vỡ, hạt mốc;
lẫn tạp chất như đất, đá, cành que, côn trùng…). Tuy nhiên, do chính sách thu
mua không phân biệt giá theo chất lượng sản phẩm nên nông dân không có
động lực để tích cực cải thiện chất lượng sản phẩm.
- Việc áp dụng tiêu chuẩn chất lượng trong tiêu thụ sản phẩm cà phê
nhân: Trên 90% sản lượng cà phê nhân xuất khẩu của các doanh nghiệp Đắk
Lắk vẫn dựa trên tiêu chuẩn cũ với các chỉ tiêu sơ đẳng là dựa vào độ ẩm, tỷ
lệ hạt đen vỡ và tạp chất. Tiêu chuẩn mới (TCVN 4193:2005) được thừa nhận
là phù hợp với các tiêu chí đánh giá chất lượng cà phê hiện nay của thế giới
(Nghị quyết 420 của ICO), khối lượng hàng xuất khẩu theo TCVN 4193 -
2005 chiếm chưa đến 10% tổng khối lượng hàng xuất khẩu của các đơn vị.
- Chỉ số giá đơn vị cà phê nhân xuất khẩu của Đắk Lắk so với nước
khác (UV) là chỉ tiêu gián tiếp đo lường chất lượng sản phẩm (nếu UV > 1,15
thì chất lượng sản phẩm cà phê nhân của Đắk Lắk tốt hơn đối thủ, nếu UV <
0,85 thì chất lượng sản phẩm cà phê nhân của Đắk Lắk kém hơn đối thủ, còn
nếu UV nằm trong khoảng từ 0,85 đến 1,15 thì chất lượng sản phẩm cà phê
nhân của Đắk Lắk và đối thủ là tương đồng). Số liệu Bảng 3.5 cho thấy chất 12
lượng cà phê nhân của Đắk Lắk kém xa so với Ấn Độ và thấp hơn so với
Indonesia, đặc biệt khoảng cách về chất lượng sản phẩm lớn dần khi giá cà
phê trên thị trường thế giới sụt giảm.
Bảng 3.5 Chỉ số giá đơn vị cà phê nhân của Đắk Lắk
so với Indonesia và Ấn Độ (lần)

2001
2002
2003

Năm
Tổng xuất khẩu
của toàn thế giới
(bao 60 kg)
Thị phần (%)
Indonesia
Ấn Độ
Việt
Nam
Đắk
Lắk
2000
89 562 101
6
5
13
6
2001
90 858 978
6
4
16
8
2002
88 831 837
5
4
13
6
2003

97 662 441
6
3
16
5
2009
95 466 356
8
3
18
6
Nguồn: ICO và Sở Công Thương Đắk Lắk
Đắk Lắk là tỉnh có quy mô sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn nhất cả 13
nước. Mỗi năm Đắk Lắk xuất khẩu từ 320 đến 380 nghìn tấn cà phê nhân,
chiếm hơn 1 phần 3 tổng khối lượng xuất khẩu của cả nước. So sánh thị phần
cà phê nhân xuất khẩu của Đắk Lắk với một số nước (Bảng 3.6) cho thấy Đắk
Lắk chiếm thị phần tương ứng với Indonesia (là quốc qua đứng thứ 4 về thị
phần xuất khẩu) và gấp đôi Ấn Độ. Năm 2009, khối lượng cà phê xuất khẩu
của toàn thế giới đạt xấp xỉ 95,47 triệu bao, trong đó Việt Nam chiếm 18%,
riêng tỉnh Đắk Lắk chiếm 6% và tỷ lệ này khá ổn định trong 10 năm qua.
Các thị thường lớn về sản phẩm cà phê nhân của Đắk Lắk là Đức, Nhật
Bản, Mỹ, Thụy Sỹ, Italia, Bỉ, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Nga và Philippines.
Mười nước này chiếm 63,97% tổng khối lượng cà phê nhân xuất khẩu của
Đắk Lắk. Đây là những thị trường khó tính và đòi hỏi khắt khe về chất lượng
sản phẩm.
Tóm lại, xét về thị phần, Đắk Lắk có lợi thế cạnh tranh tốt về quy mô
của cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, do yêu cầu

chỉ tương đương với giá bán loại cà phê chất lượng trung bình thấp của
Indonesia và thấp hơn so với giá thị trường London thường từ 200 đến 300
USD/tấn.
- Mẫu mã bao bì dùng trong xuất khẩu sản phẩm cà phê nhân của các
doanh nghiệp thiếu sự đa dạng và hấp dẫn, chậm cải tiến. Rất ít doanh nghiệp
in hình logo của công ty lên bao bì sản phẩm và điều này cũng mới chỉ thực
hiện chủ yếu đối với những sản phẩm xuất khẩu có chứng chỉ bền vững (ví dụ
Công ty Dakman với logo hình con voi cùng các biểu tượng chứng chỉ cà phê
bền vững).
- Nghiệp vụ kinh doanh: Hạn chế của các doanh nghiệp là thiếu kinh
nghiệm, nghiệp vụ kinh doanh và thiếu sự liên kết trong bán hàng giao sau
giữa các doanh nghiệp. Điều đó đã tạo cơ hội cho người mua lợi dụng ép giá
và đẩy mức trừ lùi lên cao (với các hợp đồng giao sau, nhà xuất khẩu phải 15
chịu một mức trừ lùi khá lớn, chủ yếu do người mua áp đặt, từ 40, thậm chí
đến 200 USD/tấn).
- Về phương thức giao hàng, do hạn chế về điều kiện cơ sở vật chất và
nghiệp vụ kinh doanh nên hầu hết các doanh nghiệp của Đắk Lắk lựa chọn
phương thức giao hàng tại cảng Thành phố Hồ Chí Minh (xuất khẩu giá FOB,
chiếm 97% tổng khối lượng xuất khẩu). Năm 2010, Công ty Vinacafe Buôn
Ma Thuột đã xuất khẩu 13.169 tấn sản phẩm cà phê nhân giá CIF (chiếm hơn
10% tổng khối lượng cà phê nhân xuất khẩu của cả công ty) với giá 1.720
USD/ tấn, cao hơn mức giá bình quân chung là 241 USD/ tấn.
Tóm lại, qua phân tích thực trạng lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê
nhân của các tổ chức kinh tế tỉnh Đắk Lắk, tác giả rút ra một số kết luận sau:
- Lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân chủ yếu dựa vào lợi thế tự
nhiên: năng suất cao và chi phí thấp. Những lợi thế này giúp Đắk Lắk trở
thành vùng sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam và có thị

vùng. Nhờ sở hữu nguồn tài nguyên đất đai màu mỡ, chất lượng tốt nên Đắk
Lắk trở thành vùng phát triển cà phê hiệu quả nhất ở Việt Nam, tạo nền tảng
để nâng cao lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế (cà phê được trồng trên
loại đất thích nghi và rất thích nghi cho năng suất cao gấp 1,3 đến 1,6 lần so
với loại đất ít thích nghi, trong khi đó giá thành chỉ bằng 73 đến 88%).
3.2.2 Năng lực của các tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh cà phê
Năng lực của các tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh cà phê bao gồm
năng lực tài chính, nguồn nhân lực, công nghệ, năng lực tổ chức sản xuất ,
trong đó năng lực tổ chức sản xuất và chế biến là nhân tố quan trọng nhất
quyết định chất lượng và hiệu quả sản xuất cà phê nhân. Tổ chức sản xuất và
chế biến cà phê nhân bao gồm tổ chức chọn tạo giống, trồng, chăm sóc, thu
hái và chế biến cà phê nhân.
- Đắk Lắk chưa áp dụng phổ biến quy trình GAP trong sản xuất cà phê. 17
Kết quả khảo sát nông hộ cho thấy 30% số hộ sản xuất cà phê hoàn toàn theo
kinh nghiệm tự đúc rút. 24% số hộ sử dụng nguồn giống bảo đảm chất lượng,
năng suất cao hơn so với giống kém chất lượng do nông hộ tự sản xuất từ 17
đến 25%.
- Kỹ thuật canh tác: So sánh lượng phân bón thực tế sử dụng ở hộ nông
dân với lượng phân bón khuyến cáo có thể nhận thấy nông dân sản xuất cà phê
vẫn lạm dụng phân bón quá mức cần thiết để tăng năng suất cà phê. Lượng
phân đạm, lân và kali được sử dụng bón cho cà phê ở các nông hộ cao hơn mức
khuyến cáo từ 12 đến 66%. Điều này đã làm cho mức chi phí về phân bón hóa
học bình quân trên 1 ha cà phê tăng thêm 16% và giá thành 1 tấn sản phẩm cà
phê nhân tăng thêm 5%. Việc bón phân không hợp lý còn làm ảnh hưởng đến
chất lượng sản phẩm cà phê nhân tiêu thụ do tồn dư hóa chất trong sản phẩm.
- Kỹ thuật thu hái: Chỉ có 23% số hộ nông dân thu hoạch theo đúng tiêu
chuẩn quy định, số còn lại áp dụng phương thức hái "tuốt cành" ngay cả khi

ổn định, trong khi các nước sản xuất cà phê lớn trên thế giới như Indonesia,
Ấn Độ, tỷ lệ này đạt trên 30%. Yêu cầu của khách hàng trong nước về chất
lượng và dịch vụ cũng chưa tạo áp lực để hoàn thiện và nâng cấp sản phẩm.
Sức mạnh của cầu trong nước, bao gồm cả quy mô, tăng trưởng và
những đòi hỏi từ phía cầu còn hạn chế, chưa tạo đòn bẩy tích cực để tạo lập
lợi thế cạnh tranh, đồng thời giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường thế giới.
3.2.4 Các ngành hỗ trợ và đầu tư công
- Ngành sản xuất và cung ứng phân bón: Khả năng cung ứng nội địa
thấp, 100% lượng phân kali và 40 đến 50% lượng phân đạm vẫn còn phụ thuộc
vào nguồn nhập khẩu với mức giá biến động thất thường. Mạng lưới phân phối
rườm rà, nhiều khâu trung gian làm tăng giá bán đến các hộ nông dân (nông
dân ở các xã vùng xa phải mua phân bón của các cửa hàng trong xã với mức
giá cao hơn mức giá nhập khẩu từ 24 đến 43%). Năng lực và khả năng cung 19
ứng phân bón nội địa thấp là một trong những nguyên nhân làm tăng giá
thành sản phẩm cà phê nhân.
- Hỗ trợ của các lĩnh vực đầu tư công như khuyến nông, tín dụng, cơ sở
hạ tầng, nghiên cứu chuyển giao công nghệ, xúc tiến thương mại đã bước đầu
có tác động tích cực đối với việc nâng cao lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê
nhân của các tổ chức kinh tế ở Đắk Lắk. Tuy nhiên, do năng lực của các ngành
hỗ trợ và đầu tư công còn hạn chế, người sản xuất kinh doanh cà phê chưa thực
sự tiếp cận được các dịch vụ hỗ trợ, vì vậy tác động đối với lợi thế cạnh tranh
sản phẩm cà phê nhân chưa mạnh.
3.2.5 Tổ chức quản lý ngành hàng cà phê
- Liên kết các tác nhân trong ngành hàng về chuyển giao công nghệ, kỹ
thuật và tiêu thụ sản phẩm rất lỏng lẻo. Chỉ có 14% số hộ nông dân thực hiện
liên kết với doanh nghiệp, chiếm 15,42% khối lượng sản phẩm tiêu thụ của hộ
(nhóm hộ liên kết với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm theo quy trình bảo đảm

Việc đánh giá đúng thực trạng và xác định các nhân tố tác đến lợi thế
cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế tỉnh Đắk Lắk là cơ
sở quan trọng để đề xuất giải pháp phù hợp nâng cao lợi thế cạnh tranh sản
phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế tỉnh Đắk Lắk.
Nhận diện xu hướng cầu về sản phẩm cà phê trên thế giới cũng là căn
cứ quan trọng để nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh sản
phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế tỉnh Đắk Lắk. Xu hướng cầu về sản
phẩm cà phê có những thay đổi căn bản i) xu hướng tiêu dùng cà phê chất
lượng cao, cà phê hữu cơ và ii) xu hướng lựa chọn sản phẩm cà phê có chứng
nhận và sản phẩm có chứng chỉ nguồn gốc xuất xứ.
Trên cơ sở phân tích thực trạng và xu hướng cầu về sản phẩm cà phê,
các quan điểm nâng cao lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân của các tổ
chức kinh tế tỉnh Đắk Lắk đó là i) Nâng cao lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà 21
phê nhân gắn với phát triển cà phê bền vững để bảo đảm hài hòa lợi ích kinh
tế - xã hội - môi trường; ii) Nâng cao lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân
trên cơ sở kết hợp có hiệu quả sức mạnh hai khu vực công - tư, phát huy năng
lực nội tại của mọi thành phần kinh tế; iii) Nâng cao lợi thế cạnh tranh sản
phẩm cà phê nhân theo hướng khai thác tốt lợi thế so sánh về điều kiện tự
nhiên, kết hợp với cải tiến và sáng tạo để đáp ứng tốt nhu cầu thị trường. Các
giải pháp và chính sách chủ yếu nâng cao lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê
nhân của các tổ chức kinh tế tỉnh Đắk Lắk như sau:
4.1 Nâng cao năng lực của người sản xuất - kinh doanh
- Nâng cao chất lượng nguồn lao động, tăng cường khả năng tiếp cận
thông tin thị trường và khoa học kỹ thuật.
- Nâng cao năng lực tổ chức sản xuất để tăng hiệu quả và chất lượng
sản phẩm cà phê nhân trên cơ sở áp dụng nghiêm ngặt quy trình sản xuất từ
khâu chọn tạo giống, thay đổi tập quán canh tác (bón phân hợp lý) và thu hái

Việt Nam; Nâng cao năng lực hoạt động của Hiệp hội cà phê Đắk Lắk và
Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột; Hình thành nguồn quỹ tạm trữ
cà phê để điều tiết xuất khẩu và liên kết chặt chẽ các tác nhân trong ngành
hàng.
KẾT LUẬN
- Lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân của một quốc gia (vùng hay
doanh nghiệp) đó là sự vượt trội so với sản phẩm cà phê nhân của các đối thủ
cạnh tranh về hiệu quả, chất lượng, thị phần và khả năng đáp ứng cầu. Đặc
điểm lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế bao
gồm i) lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế gắn
liền với những đặc thù về kinh tế - kỹ thuật của ngành; ii) Lợi thế cạnh canh
sản phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế gắn với năng lực tham gia vào
chuỗi giá trị toàn cầu và iii) Sản phẩm cà phê nhân có mức độ cạnh tranh 23
mạnh mẽ so với một số nông sản khác. Các nội dung nghiên cứu lợi thế cạnh
tranh sản phẩm cà phê nhân bao gồm hiệu quả (năng suất, giá thành, lợi
nhuận), chất lượng (tiêu chuẩn chất lượng, cơ cấu chất lượng), thị phần và khả
năng đáp ứng cầu (thương hiệu, chủng loại, mẫu mã, phương thức bán hàng).
- Sản phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế tỉnh Đắk Lắk có lợi thế
cạnh tranh trên các khía cạnh i) Năng suất sản phẩm cao (năng suất cà phê của
Đắk Lắk đạt 2,21 tấn/ha, cao hơn năng suất bình quân chung cả nước, gấp
hơn hai lần năng suất của Ấn Độ và gần gấp 3 lần năng suất của Indonesia);
ii) Giá thành sản phẩm thấp (giá thành cà phê nhân xuất khẩu của Đắk Lắk là
1.142 USD/tấn, so với Indonesia và Ấn Độ, giá thành cà phê nhân của Đắk
Lắk thấp hơn từ 5 đến 18%); iii) Thị phần cao và ổn định (xuất khẩu cà phê
nhân của Đắk Lắk chiếm 6% tổng khối lượng cà phê xuất khẩu của toàn thế
giới, tương đương với Indonesia là quốc gia đứng thứ tư về thị phần và cao
gấp đôi so với Ấn Độ).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status