Đặc điểm cấu trúc ngữ pháp của câu tồn tại tiếng Hán hiện đại ( so sánh với tiếng Việt) - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VÕ TẤN NGHĨA
ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC NGỮ PHÁP
CỦA CÂU TỒN TẠI TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
(SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
LỜI CẢM ƠN
Mặc dù được quan tâm từ rất lâu của giới nghiên cứu, nhưng có thể nói, cho đến
nay, những vấn đề liên quan về câu tồn tại tiếng Hán và câu tồn tại tiếng Việt vẫn chưa
được giải quyết một cách triệt để, có khá nhiều ý kiến không thống nhất giữa các nhà
nghiên cứu. Chẳng hạn, trong tiếng Hán, từ ngữ chỉ không gian, thời gian trong câu tồn
tại là thành phần trạng ngữ hay chủ ngữ của câu? Trong cụm từ chỉ không gian, thời gian
đó có sự xuất hiện của giới từ hay không? ngoài tân ngữ, động từ trong câu tồn tại có
được phép mang bổ ngữ?...Trong tiếng Việt, vấn đề phân biệt câu chứa từ “có” chỉ quan
hệ tồn tại và câu chứa từ “có” chỉ quan hệ sở hữu khác nhau như thế nào? Câu có từ “là”
(như câu: “ cạnh đầu giường là tủ quần áo”) là câu tồn tại hay câu đồng nhất theo quan
niệm của một số nhà nghiên cứu trước đây? Thành phần đứng sau vò từ trong câu tồn tại
chỉ đối tượng hay chủ thể của câu?...
Vận dụng thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, cùng với việc khảo sát loại
câu này trong một số văn bản tiếng Hán và tiếng Việt, chúng tôi hi vọng sẽ góp một
phần nhỏ nhằm làm rõ hơn về đặc điểm ngữ pháp của loại câu đặc thù này trong hai
ngôn ngữ Hán, Việt.
Bên cạ
nh đó, để hội nhập với một thế giới đa dạng và đa phương như hiện nay, việc
hiểu biết thêm ngôn ngữ của các dân tộc khác là hết sức cần thiết. Trong khi thế giới
chưa tìm được một ngôn ngữ chung và “quốc tế ngữ” chưa được đón nhận nồng nhiệt và
sử dụng phổ biến như tâm nguyện của một bác só người Do Thái – Ludoviko Zamenhof,
thì việc sử dụng một ngơn ngữ quốc tế có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới hiện nay như
tiếng Anh và tiếng Hán …là nhu cầu, thậm chí là yêu cầu của một bộ phận trí thức hoạt
động trong một số ngành nghề nhất đònh.
Tiếng Hán và tiếng Việt là hai ngôn ngữ cùng thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập.
Sẽ hoàn toàn sai lầm nếu chúng ta cho rằng, với những ngôn ngữ thuộc cùng loại hình thì
không có gì để nói về đặc trưng của mỗi ngôn ngữ cũng như đặc điểm của từng bộ phận
cấu thành nên chúng. Bên cạnh những vấn đề như: trật tự của các thành tố trong đoản
ngữ, số lượng thanh điệu và cách thể hiện chúng trong từng âm tiết…thì giữa các loại câu
trong hai ngôn ngữ cũng có những nét tương đồng và khác biệt đáng kể. Câu tồn tại tiếng
Hán và câu tồn tại tiếng Việt là một minh chứng cho trường hợp vừa nêu.

có hình thức không giống mô hình chung của câu tồn tại, nên nó không phải là câu tồn
tại. Một ví dụ khác: “在 屋 子 的 地 上 铺 着 地 毯” (Ởû trên nền nhà có trải một
tấm thảm) cũng là câu biểu thò sự tồn tại nhưng đầu câu là một giới từ, mà giới từ (đúng
hơn là kết cấu giới từ ) cùng với tân ngữ của nó không thể là chủ ngữ trong câu. Nên nó
vẫn không phải là câu tồn tại, mà chỉ là một câu vô chủ. Tức theo Trương Ngọc câu tồn
tại tiếng Hán là câu có chủ ngữ. Điều này khác hoàn toàn so với tiếng Việt. Ôâng phân
chia câu tồn tại tiếng Hán thành hai loại: câu tồn tại và câu ẩn hiện ( câu xuất hiện và
câu biến mất). Riêng với câu tồn tại, ông cũng đồng nhất với ý kiến của Tống Ngọc Trụ
là chia thành câu tồn tại động thái và câu tồn tại tónh thái.
Nếu như trước đây các nhà nghiên cứu Hán ngữ đều thống nhất với nhau mô hình
câu tồn tại là: “trạng ngữ + vò ngữ + chủ ngữ”, tức câu tồn tại có chủ ngữ đảo, thì Trương
Ngọc và một số nhà nghiên cứu Hán ngữ hiện đại khác đều cho rằng câu tồn tại là một
câu chủ vò. Trong “Ngữ pháp thực hành Hán ngữ hiện đại” ở phần bàn về đòa vò của từ
ngữ chỉ không gian, thời gian trong câu tồn tại, Lưu Nguyệt Hoa cho rằng từ chỉ không
gian đứng đầu câu tồn tại là thành phần chủ ngữ, còn từ chỉ thời gian là thành phần trạng
ngữ của câu. Chúng tôi cũng nhất trí và lấy ý kiến này làm đònh hướng nghiên cứu cho
toàn luận văn.
Trong lòch sử Việt ngữ học, đã có một số công trình nghiên cứu về câu tồn tại.
Trước hết, có thể kể đến nhà nghiên cứu Việt ngữ học M. B. Emeneau với công
trình “Nghiên cứu về ngữ pháp Việt Nam”(1951). Trong công trình này, ông có bàn về
câu mang ý nghóa tồn tại, ông viết: “có một dạng thức vò ngữ động từ không có chủ từ, dù
là chủ từ tuỳ thích đi chăng nữa. Vò ngữ gồm có động từ ( hay phức cấu động từ) cộng với
đối tượng”. Theo ông, câu mang ý nghóa tồn tại là câu gồm có danh từ chỉ đối tượng và
một động từ ( hay phức cấu động từ) biểu hiện sự tồn tại của đối tượng đó. Có thể nói,
thành công của M. B. Emeneau là ở chỗ, ông đã phác hoạ được khuôn hình cơ bản của
câu tồn tại tiếng Việt là: “vò từ + danh từ”. Nhưng ông đã đặt nó trong một bình diện vô
cùng rộng lớn mà không có một tiêu chí nào để phân biệt câu tồn tại với những loại câu
khác có cùng khuôn hình như trên. Tức là, trong thực tế, không phải tất cả các câu có
khuôn hình “ vò từ + danh từ” đều là câu mang ý nghóa tồn tại.
Đến năm 1967, cuốn “Ngữ pháp Việt Nam” của L. C. Thompson ra đời. Nhìn chung

Trong công trình này, Hoàng Tuệ đã đặt riêng vấn đề về câu chứa từ “là” và câu
chứa từ “có” với ý nghóa sở hữu. Điều này đã làm giảm đáng kể tính chất mơ hồ trên
đường ranh giới của câu mang ý nghóa tồn tại với những câu khác có cùng khuôn hình
hay cùng một động từ biểu thò.
Điểm cuối cùng tác giả đề cập đến là chức năng của danh từ đứng sau động từ làm
vò ngữ. Hoàng Tuệ cho rằng: “cái gì tồn tại cái đó là chủ thể”.
Chuyên luận “Một số vấn đề về câu tồn tại tiếng Việt” của Diệp Quang Ban là
công trình đầu tiên nghiên cứu trực tiếp về câu mang ý nghóa tồn tại. Trong công trình
này, Diệp Quang Ban lần đầu tiên đã vận dụng phương pháp phân tích ngữ nghóa, nghiên
cứu và trình bày khá đầy đủ, bao quát đựơc những phương diện quan trọng của câu tồn
tại tiếngViệt. Tác giả đã nêu ra một số cách hiểu về câu mang ý nghóa tồn tại, chia vò từ
câu tồn tại thành hai nhóm, nhóm vò từ chuyên dùng, như: có, còn, mất, hết,…..và nhóm vò
từ lâm thời mang ý nghóa tồn tại, như: trồng, treo, để, đặt, lác đác,…..đồng thời, ông cũng
phân loại câu tồn tại theo khuôn hình của chúng và phân biệt vò từ “có” tồn tại và vò từ “
có” sở hữu. Diệp Quang Ban đưa ra mô hình chung về câu tồn tại tiếng Việt là: “giới từ
ø+ danh từ vò trí + vò từ + danh từ”.
Trần Ngọc Thêm trong “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt”, ngoài việc khẳng
đònh vò từ tồn tại đầu tiên là “ có”, ông cũng đã chỉ ra những vò từ biểu thò tư thế tồn tại
khác nhau của sự vật nhờ tác động của con người, kiểu: treo, móc, đặt, để, xếp… và những
vị từ ít nhiều chứa nét nghóa tồn tại: xuất hiện, hiện ra, mọc ra, vọng ra, nhảy ra… tác giả
cũng phân biệt câu tồn tại với câu đặc trưng đảo vò – chủ, câu tồn tại với câu quan hệ sở
hữu vì theo tác giả động từ “có” chủ yếu dùng trong câu tồn tại nhưng cũng có thể dùng
trong nòng cốt chỉ quan hệ sở hữu.
Trên đây, là vài nét sơ lược về lòch sử nghiên cứu câu tồn tại tiếng Hán và câu tồn
tại tiếng Việt. Riêng về so sánh đặc điểm ngữ pháp của loại câu này, chúng tôi xin cam
đoan đó là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ, chưa ai nghiên cứu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm ngữ pháp của câu tồn tại tiếng Hán
và so sánh với câu tồn tại tiếng Việt. Tuy nhiên, khi nói đến từ “hiện đại”, luận văn
không có ý đònh phân chia thành một giai đoạn và bao quát tất cả các hiện tượng ngôn

trúc ngữ pháp để tìm ra những điểm đặc thù về ngữ pháp của câu tồn tại tiếng Hán và các
đơn vò tương đương trong tiếng Việt.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: được sử dụng để tìm ra những nét tương đồng và
dò biệt giữa câu tồn tại tiếng Hán và câu tồn tại tiếng Việt.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày thành ba chương như sau:
* Chương 1: Đặc điểm phần đầu trong câu tồn tại tiếng Hán hiện đại (so sánh với
tiếng Việt)
Trong chương này, luận văn tiến hành miêu tả, phân tích đặc điểm thành tố đứng
đầu trong cấu trúc cú pháp của câu tồn tại tiếng Hán hiện đại. Sau đó, so sánh với thành tố
có vị trí tương đương trong câu tồ
n tại tiếng Việt.
* Chương 2: Đặc điểm phần giữa trong câu tồn tại tiếng Hán hiện đại (so sánh với
tiếng Việt)
Trong chương này, luận văn tiến hành miêu tả, phân tích đặc điểm thành tố đứng
giữa trong cấu trúc cú pháp của câu tồn tại tiếng Hán hiện đại. Sau đó, so sánh với thành tố
có vị trí tương đương trong câu tồn tại tiếng Việt.
* Chương 3: Đặc điểm phần sau trong câu tồn tại tiếng Hán hiện đại (so sánh với
tiếng Việt)
Trong chương này, luận văn tiến hành miêu tả, phân tích đặc điểm thành tố đứng
sau trong cấu trúc cú pháp của câu tồn tại
tiếng Hán hiện đại. Sau đó, so sánh với thành tố
có vị trí tương đương trong câu tồn tại tiếng Việt.

Chương 1
ĐẶC ĐIỂM PHẦN ĐẦU CÂU TỒN TẠI TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
(SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)

1.1 Đặc điểm phần đầu trong câu tồn tại tiếng Hán hiện đại
Trong câu tồn tại tiếng Hán, thành tố đứng trước vị từ là từ chỉ không gian – thời gian.

đang xuất hiện trước mắt người nói và người nghe hoặc khi địa điểm giao tiếp không cần
phải nói đến mà người nghe vẫn hiểu được vấn đề đang được nói.
Trong câu tồn tại tiếng Hán, từ chỉ không gian do các tiểu loại danh từ và cụm danh
từ sau đây biểu thị:
1.1.1 Phương vị từ
Trong Hán ngữ hiện đại, phương vị từ là những danh từ chỉ ph
ương hướng, vị trí. Có
hai loại: Danh từ phương vị đơn và danh từ phương vị kép.
Danh từ phương vị đơn gồm: 上: trên,下: dưới,前: trước,后: sau,左: trái,后:
phải,里: trong,外: ngoài,中: giữa,南: nam,西: tây,北: bắc,东: đông,…
Danh từ phương vị kép gồm: 上 边 (面): phía trên – mặt trên ,下 边 (面): phía
dưới – mặt d
ưới,前 边 (面): phía trước – mặt trước,后 边 (面): phía sau – mặt sau,左
边 (面): phía trái – mặt trái,后 边 (面): phía phải – mặt phải,里 边 (面): phía trong –
mặt trong,外 边 (面): phía ngoài – mặt ngoài,南 边 (面): phía nam – miền nam,西 边
(面): phía tây – miền tây,北 边 (面): phía bắc – miền bắc,东 边 (面): phía đông – miền
đông,…
Trong tr
ường hợp này chúng tôi chỉ bàn đến danh từ phương vị kép.
Ví dụ:
1. 前 面 有 一 个 邮 局 。
Phía trước có một cái bưu điện.
(现 代 汉 语 语 法 - 存 现 句)
2. 台 上 坐 着 一 位 医 生 。
Phía trên có một vị bác sĩ đang ngồi.
(现 代 汉 语 语 法 - 存 现 句)
3. 东 边 走 来 一 个 人.
Phía đông có một người đang tiến lại.
(现 代 汉 语 语 法 - 存 现 句)
4. 后 面 开 过 来 一 辆 汽 车 。

Tại buổi triển lãm tranh trừu tượng, có một thằng bé đứng trước một bức tranh và hỏi
mẹ : “chủ đề của bức tranh này có đúng là mục đồng và ngựa như chú thích trên tranh
không?”.
(通 过 237 个 幽 默 笑 话 学 汉 语 - 抽 象 画)
11. 期 末 考 试 的 时 候 , 有 一 个 学 生 对 老 师 说 我 忘 记 带 笔
来 。
Trong kì thi cuối khóa, có một em học sinh nói với thầy giáo : “thưa thầy, em quên
mang bút theo rồi”.
(通 过 237 个 幽 默 笑 话 学 汉 语 - 学 生 的 逻 辑)
12. 屋 角 儿 立 着 一 个 酒 柜 。
Trong góc phòng có đặt một cái tủ rượu.
(中 级 汉 语 听 和 说 - 这 是 谁 的 房 子)
1.1.4 Tổ hợp “đại từ + phương vị từ
” biểu thị nơi chốn
Ví dụ:
13. 这 里, 有 高 大 的 房 屋.
Chỗ này coù moät ngoâi nhà nguy nga.
(通 过 237 个 幽 默 笑 话 学 汉 语 - 呼 吸)
1.1.5 Danh từ chỉ người + danh từ + phương vị từ
Ví dụ:
14. 牧 师 院 子 里 有 一 棵 苹 果 树。
Trong sân của vị mục sư có một cây táo.
(通 过 237 个 幽 默 笑 话 学 汉 语 - 上 帝 不 多 嘴 多 舌)
Ngoài những danh từ và cụm từ chỉ không gian, phần đầu trong câu tồn tại tiếng Hán
hiện đại còn do các từ và cụm từ chỉ thời gian đảm nhiệm. Và chúng được hiển nhiên công
nhận là thành ph
ần trạng ngữ, làm rõ nghĩa cho cả câu về mặt diễn tả thời gian tồn tại, xuất
hiện hay biến mất của người hay sự vật nào đó.
Sau đây là những từ và cụm từ chỉ thời gian xuất hiện trong những mô hình câu tồn tại
cụ thể mà trong quá trình khảo sát chúng tôi ghi nhận được:

thực ( Trung cáo ) là giá trị nhất ”
(天 故 幽 默 故 事 - 讨 价 还 价)
21. 这 时 候,忽 然 丛 天 上 飞 来 一 只 老 鹰,只 见 它 俯 冲 下
来。
Lúc này từ trên trời có một con chim ưng bay đến, chỉ thấy nó bổ nhào xuống.
(中 华 古 代 童 话 宝 库 - 猎 人 海 力 布)
22. 这 时 候,大 山 上 传 来 另 外 一 只 老 虎 的 叫 声。
Lúc này trên núi vọng lại tiếng gầm của một con hổ khác.
(中 华 古 代 童 话 宝 库 - 医 生 和 老 虎)
1.1.8 Số từ + danh từ chỉ thời gian
Ví dụ:
23. 一 个 严 冬 的 黄 昏 , 有 个 男 子 躺 在 大 街 的 行 人 道 上 。
Vào một buổi chiều hồng hơn giữa mùa đơng giá rét, có một người đàn ơng nọ nằ
m
dài trên vỉa hè của một con phố lớn.
(通 过 237 个 幽 默 笑 话 学 汉 语 - 不 怕 冷 的 原 因)

24. 20 世 纪 初, 有 一 位 以 写 讽 刺 幽 默 小 说 而 出 名 的 作 家。
Đầu thế kỷ XX, có một nhà thơ có tài viết chuyện châm biếm khôi hài mà trở
thành nổi tiếng.
(天 故 幽 默 故 事 - 提 前 报 道)
25. 一 天 清 早,一 只 喜 鹊 在 树 杈 上 悲 伤 地 哭。
Một buổi sáng tinh mơ, có một con chim khách đậu trên cành cây khóc thảm thiết.
(中 华 古 代 童 话 宝 库 -英 武 鸟 灭 火)
1.1.9 Danh từ chỉ thời gian mang tính cụ thể
Ví dụ:
26. 晚 上 八 点 半 来 过 两 个 干 部 .
Lúc 8h30 tối, có hai người cán bộ đến.
(现 代 汉 语 语 法 教 程 - 存 现 句)
27. 昨 天, 死 了 一 个 人 。

(通 过 237 个 幽 默 笑话 学 汉 语 - 别 那 么 孩 子)
1.1.12 Kết cấu (C + V) + từ chỉ thời gian
Ví dụ:
34. 我 们 一 家 人 在 沙 滩 晒 太 阳 的 时 候 , 突 然 有 一 个 美
丽 的 少 奴 走 来。
Khi cả nhà tôi đang tắm nắng trên bãi cát, bỗng nhiên có một thiếu nữ xinh đẹp đi qua.
(通 过 237 个 幽 默 笑 话 学 汉 语 - 别 那 么 孩 子)
35. 走 出 车 站 时 , 有 人 拍 了 一 下 我 的 肩 膀 说 “你 奇 信 了
吗?”
Khi tôi ra khỏi trạm xe, có một người vỗ vào vai tôi và nói : “Anh đã gửi thư chưa?”.
(通 过 237 个 幽 默 笑 话 学 汉 语 - 良 方)
36. 当 我 走 近 邮 筒 时 , 有 一 人 对 我 叫 别 忘 了 那 封 信 。
Khi tôi đi đến gần thùng thư thì lại có một người gọi tôi và nói : “Đừng quên gởi thư
nhé ông bạn”.
(通 过 237 个 幽 默 笑 话 学 汉 语 - 良 方)
1.1.13 Từ chỉ thời gian + từ
chỉ không gian
Cũng có trường hợp, tại vị trí phần đầu trong câu tồn tại tiếng Hán hiện đại có cả từ
chỉ không gian và từ chỉ thời gian.
Ví dụ:
37. 这 时, 门 外 跑 进 来 一 个 人 。
Lúc này, bên ngoài cửa có một người vừa chạy đến.
(现 代 汉 语 语 法 - 存 现 句)
38.很 久 很 久 以 前,蒙 古 草 原 上, 有 个 放 羊 娃 名 字 叫 苏 和。
Ngày xửa ngày xưa, trên thảo nguyên Mông Cổ có một em bé chăn dê tên là Tô Hòa.
(中 华 古 代 童 话 宝 库 - 马 头 琴)
Tại vị trí phần đầu trong câu tồn tại tiếng Hán phần nhiều là từ ngữ
chỉ không gian. Từ
chỉ không gian trong câu tồn tại tiếng Hán có nhiều phương thức biểu hiện, chúng có chức
năng hữu hạn hóa vị trí (địa điểm) tồn tại, xuất hiện, biến mất của người hay sự vật. Trong

mà người nói muốn truyền tải, ngữ cảnh ấy có thể sẽ là:
39’. (Trên sân quần) Có ba phóng viên của ba tờ nhật báo đã tranh nhau phỏng vấ
n nó,
một vị giáo sư quần vợt,…
40’. (Ngoài kia) Có lệnh thu nhanh vũ khí và rút nhanh vào ven đường.
41’. (Trong vườn nhà Nam) có một giàn thiên lí và dây hoa Cẩm Tú.
42’. (Tại vườn bách thú thành phố) có một cô diễn viên dạy gấu, cắp tay chú gấu
khiêu vũ tay đôi.
Trạng ngữ chỉ không gian, thời gian là cơ sở cần yếu cho việc tạo thành câu tồn tại, là
một điều kiện tối cần thiết để cho một từ
có thể thực hiện chức năng trung tâm cú pháp của
câu tồn tại, là cái nội dung có liên quan đến vị trí không gian, thời gian của vật thể. Đối với
vị từ, nội dung này thường tiềm ẩn trong nó, chỉ nhờ cách sắp xếp của các yếu tố trong
khung hình câu mới bộc lộ ra được. Như vậy đối với toàn bộ câu, trạng ngữ không gian, thời
gian là cái hiển hiện. Nói cách khác, nó được hiện thực hoá trong lời nói, còn đối với vị từ nó
là cái không hiển hiện, ch
ỉ có sự phân tích nội dung, ý nghĩa của từ thì mới làm cho nó bộc
lộ ra.
- Đối với câu tồn tại có vị từ chuyên dùng thì trên bề mặt của câu chúng ta thấy có khi
loại trạng ngữ này xuất hiện có khi chúng vắng mặt, nhưng bất luận hình thức như thế nào
thì trong cấu trúc ngữ nghĩa câu tồn tại cũng ngầm chứa ý nghĩa không gian và thời gian.
Trong trường hợp này, Ngữ pháp chức năng tiế
ng Việt gọi là câu tỉnh lược khung cảnh hiện
hữu của Đề.
Chẳng hạn có một phát ngôn: “Có khách”. Người tiếp nhận phát ngôn này phải đặt
chúng trong một ngữ cảnh cụ thể để hiểu chúng.
Người nghe có thể hiểu là:
Trong nhà, có khách.
Hay:
Hôm qua, trong nhà có khách.

tóc tiên, …
(Tô Hoài – Quê người)
52. Trên trần nhà rũ xuống ba dây xích treo hai cái bô và một cái quạt trần gãy cánh.
(Tô Hoài – Quê người)
Cấu tạo cụ thể của các thành tố này là:
1.2.1.1 Danh từ, ngữ danh từ có thành tố chính là những danh từ chỉ không
gian, thời gian
(nơi, chỗ, chốn, bên, phía, đằng, hướng, khi, lúc, hồi, dạo, …)
Ví dụ:
53. Phía cuối cầu, có một người đội mũ vải vàng, da tai tái, mặt hầm hầm, mắt đeo
kính đen.
(Tô Hoài - Anh đưa em đến Hiền Lương)
54. Giữa trời, có đám mây trắng trông hệt dáng điệu một nhà hiền triết.
(Tô Hoài – Quê người)
55. Giữa khoảng đất phẳng trước cửa đồn, có cái h
ố tròn to bằng cái nong sâu như cái
giếng.
(Tô Hoài - Hoa Sơn)
56. Một ngày mưa bụi đầu xuân, có một đàn vành khuyên bay về và nhặt sâu trong lá
thiên lý.
(Tô Hoài - Mải vui quên hết)
57. Hôm sau, vào quãng giờ ấy, có tiếng gõ cửa buồng.
(Tô Hoài - Suối Khỉ)
58. Một chốc, có con trâu bồn từ phía dưới tới.
(Tô Hoài - Kim Đồng)
1.2.1.2 Giới từ + danh từ, ngữ danh từ chỉ nơi chốn (ở, tại,…)
Ví dụ :
59. Ở dưới cái hố giam bốc lên những mùi bùn lầy hôi thối.
(Tô Hoài – Quê người)
60. Ở quầy bên cạnh, từ ấy trở đi chỉ còn nghe thấy tiếng đũa bát lạch cạch, vì hai

(Anh Đức – Hòn đất.)
1.2.1.4 Từ chỉ thời gian + giới từ + danh từ, ngữ danh từ
Ví dụ :
71. Bấy giờ ở ngoài sân, xung quanh ngọn đèn hoa kì tù mù, có một cuộc nói chuyện
nho nhỏ, nhưng đầy vẻ sợ hãi, bí mật.
(Tô Hoài – Quê người)
72. Hôm ở hội Gióng, có bà quận chúa họ Trần nổi tiếng kiêu kì, võng lọng nghênh
ngang, coi người như rơm rác.
(Tô Hoài – Quê ng
ười)
1.2.1.5 Từ chỉ thời gian + động từ + danh từ, ngữ danh từ
Ví dụ :
73. Lúc ra khỏi gốc đồi, xuất hiện một cỗ máy kéo đỏ gắt.
(Tô Hoài - Cánh đồng yên vui)
74. Lúc tan sương, thấy dạt vào bờ một cái cột buồm và những mảnh ván.
(Tô Hoài – Quê người)
1.2.1.6 Giới từ + ngữ danh từ + giới từ + danh từ
Ví dụ :
75. Tại một làng kia ở Cao Bằng, có hai thiếu niên dân t
ộc Tày, xấp xỉ 14, 15 tuổi.
(Tô Hoài – Hoa Sơn
1.2.1.7 (giới từ + chỉ định từ) + (giới từ + danh từ chỉ nơi chốn)
Ví dụ :
76. Lúc ấy, trên gác chỉ có ông Hai và cô Nga là con gái ông ta.
(Vũ Trọng Phụng – Số đỏ)
77. Lúc ấy, trên sân quần có hai cô đầm đang tranh cái giải vô địch phụ nữ Pháp nên
những người của hiệu Âu hóa đứng xem cũng không sốt sắng mấy.
(Vũ Trọng Phụ
ng – Số đỏ)
78. Chốc sau, đằng cụm vườn, có bóng người liên tiếp chạy vọt ra.

Trong mô hình câu tồn tại do Diệp Quang Ban đưa ra: “giôùi töø ø+ danh töø vò trí (danh
từ chỉ không gian)+ vò töø + danh töø”, chúng ta thấy phần đầu trong câu tồn tại do một tổ
hợp: “giôùi töø ø+ danh töø vò trí” cấu thành. Có trường hợp có một giới từ đứng đầu thành phần
trạng ngữ: “Ở quầy bên cạnh có tiếng hai người xì xào bàn tán:…” (Vũ Trọng Phụng – Số
đỏ) (“
Ở” là một giới từ), cũng có trường hợp có tới hai giới từ xuất hiện trong thành phần
trạng ngữ của câu, một đứng đầu và một đứng ở giữa: “Tại một làng kia ở Cao Bằng, có hai
thiếu niên dân tộc Tày, xấp xỉ 14, 15 tuổi”. (Tô Hoài – Hoa Sơn) (Câu này có hai giới từ
:“Tại” và “Ở”)
Ngược lại, trong câu tồn tại tiếng Hán hiện đại, thành tố chỉ khơng gian đứng đầu câu
chính là chủ ngữ, vì vậy trong các yếu tố cấu tạo nên thành tố này khơng thể xuất hiện của
giới từ. Vì giới từ (đúng hơn là kết cấu giới từ ) cùng với tân ngữ của nó không thể làm
chủ ngữ trong câu.
Người ta chỉ nói:
80. 桌 子 上 摆 满 了 书 。(+)
(现 代 汉 语 语 法 - 存 现 句)
Nhưng khơng ai nói:
80’. 在 桌 子 上 摆 满 了 书 。(-)
Ở câu (80) (là một câu tồn tại), phần đầu của câu do “桌 子 上” đảm nhiệm, đây là
một tổ hợp gồm danh từ ch
ỉ sự vật (桌 子)và phương vị từ (上)tạo thành. Ngồi hai yếu tố
trên, chúng ta khơng thấy có sự xuất hiện của giới từ. Trong khi đó, ở câu (80’), tại vị trí
phần đầu, ngồi hai yếu tố danh từ chỉ sự vật (桌 子)và phương vị từ (上),lại có thêm giới
từ “在”, điều này khơng đúng với mơ hình chung của câu tồn tại nên nó khơng được xem là
một câu tồ
n tại.
1.2.2.4 Về việc chuyển dịch từ Hán sang Việt (và ngược lại)
Phần đầu trong câu tồn tại của hai ngơn ngữ có vị trí và chức năng ngữ pháp giống
nhau. Tuy nhiên, do trật tự của các thành tố cấu tạo nên đoản ngữ (đặc biệt là ngữ danh từ)
trong hai ngơn ngữ khác nhau nên khi chuyển dịch từ một câu tiếng Hán sang câu tiếng Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status