ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VIỆT TIẾN HỎI VÀ CÂU HỎI
THEO QUAN ĐIỂM NGỮ DỤNG HỌC
(Trên cứ liệu tiếng Pháp, có so sánh với tiếng Việt)
Chuyên ngành : LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số : 5.04.08
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học :
GS. TS. Nguyễn Minh Thuyết
PGS. TS. Nguyễn Thị Việt Thanh HÀ NỘI - 2002
chƣơng 2
vấn đề phân loạI câu hỏi : về một số cách phân loại truyền thống và một cách
phân loại mới theo quan điểm ngữ dụng
2.1. Về một số cách phân loại truyền thống 60
4 2.1.1. Câu hỏi với est-ce que, câu hỏi ngữ điệu, câu hỏi đảo chủ ngữ 60
2.1.2. Câu hỏi trực tiếp và câu hỏi gián tiếp 70
2.1.3. Câu hỏi toàn bộ và câu hỏi bộ phận 73
2.2. Một cách phân loại mới theo quan điểm ngữ dụng 78
2.2.1. Câu hỏi - yêu cầu thông tin 80
2.2.2. Câu hỏi - đáp 80
2.2.3. Câu hỏi kiểm tra 86
2.2.4. Câu hỏi - yêu cầu xác nhận 92
2.2.5. Câu hỏi - yêu cầu hành động 102
2.2.6. Câu hỏi tu từ 106
2.2.7. Câu hỏi điều tiết 111
Tiểu kết 2 120
Chƣơng 3
ứng dụng của việc nghiên cứu hành vi hỏi và câu hỏi theo quan đIểm ngữ
dụng
3.1. Một hƣớng tiếp cận mới của việc dạy câu hỏi trong việc dạy
tiếng Pháp cho ngƣời Việt Nam 125
3.2. Một số kiến giải, nhận xét và đề xuất trong lĩnh vực dịch thuật 141
3.3. Phân tích sự khác biệt giữa câu hỏi-phƣơng tiện giao tiếp hàng ngày và
câu hỏi-công cụ làm việc 146
6
Một số ký hiệu được sử dụng trong luận án
*X : Dạng thức sai hoặc không chuẩn mực.
X () X : Chỗ ngưng, nghỉ. Số lượng (), ()(), ()()() chỉ
được phân biệt bằng những nét đặc thù về cú pháp và ngữ pháp ( ). Vậy mà
ba phương thức này chỉ nhằm phản ánh ba cách ứng xử cơ bản của con người
khi nói và tác động đến người đối thoại với mình thông qua diễn ngôn : người
nói muốn chuyển đến người nghe một yếu tố nhận thức, muốn nhận được từ
người nghe một thông tin, hoặc muốn ra một mệnh lệnh cho người nghe. Đó
là ba chức năng liên nhân của diễn ngôn, được thể hiện thông qua ba phương
thức là những đơn vị câu (unitộ de phrase), mỗi đơn vị câu tương ứng với một
thái độ của người nói ằ. [BENVENISTE, 1966 : 130]
1
. Chúng ta có thể diễn
giải ý kiến trên của Benveniste một cách khác nhƣ sau : 1
Khi nói ô ở mọi nơi ằ, có lẽ Benveniste muốn đề cập tới một hiện tượng mang tính phổ
quát đối với nhiều, nếu không muốn nói là với tất cảc các ngôn ngữ. Xem thêm Kerbrat-
Orecchioni [1991 :5] đối với tiếng Pháp, Levinson [1983 :183,184] đối với tiếng Anh và
Cao Xuân Hạo [1991 : 199] đối với tiếng Việt.
Comment [VA1]: Đồng
nghĩa ngữ dụng.
8
Tác động nhằm làm thay
đổi thế giới hiện thực
khách quan Nhƣ vậy, câu hỏi là một trong ba phạm trù câu cơ bản nhằm thực hiện
một trong ba ô chức năng liên nhân của diễn ngôn ằ. Mà đã nói đến chức
năng liên nhân thì không thể không nghiên cứu các giá trị ngữ dụng (valeurs
pragmatiques) của câu, nghĩa là không thể không nghiên cứu hoạt động hành
chức cụ thể của nó trong mối quan hệ tƣơng tác với các thông số tình huống.
1.2. Cho đến nay, theo những nguồn tƣ liệu mà chúng tôi có đƣợc, các
công trình nghiên cứu về câu hỏi trong tiếng Pháp đều tập trung chủ yếu
nghiên cứu câu hỏi nhƣ một cấu trúc ngôn ngữ và các tiêu chí phân loại câu
hỏi cũng đều tập trung chủ yếu trên bình diện cú pháp (GREVISSE [1969],
DUBOIS và LAGANE [1973], GREVISSE [1975], GARDES-TAMINE
[1988] ) hoặc ngữ âm (GRUNDSTROM [1973], FONTANEY [1987],
[1991] ). Một số công trình có đề cập đến giá trị của câu hỏi nhƣng hoặc chỉ
đi sâu nghiên cứu một loại câu hỏi cụ thể nào đó (MOIGNET [1966],
SZMIDT [1968], FONAGY và BERARD [1973], BORILLO [1978],
9 BERRENDONNER [1981], CORNULIER [1982] ) hoặc có đề cập đến các
giá trị ngữ dụng nhƣng chỉ dừng ở mức độ sơ lƣợc và cũng chỉ ở một khía
cạnh nào đó (ANSCOMBRE và DUCROT [1981], APOSTEL [1981],
FAUCONNIER [1981], JACQUES [1981], BOISSAT [1991], DE
GAULMYN [1991], TRAVERSO [1991] ). Theo chúng tôi, việc mô tả,
phân tích, phân loại câu hỏi theo các tiêu chí ngôn ngữ (ngữ âm, ngữ pháp) là
hành vi hỏi (l’acte d’interrogation)
3
và từ đó ô tìm kiếm xem có mối quan hệ
nào giữa hành động đặt một câu hỏi với việc sử dụng một phát ngôn có hình
thức nghi vấn ằ (DILLER [1984] ). Nhƣ đã biết, hành vi hỏi là hành vi mà
ngƣời nói thực hiện nhằm thu đƣợc thông tin về một điều chƣa biết cần biết,
còn câu hỏi là một cấu trúc ngôn ngữ, một trong những công cụ để thực hiện
hành vi đó. Tuy nhiên, trên thực tế, câu hỏi, với tƣ cách là công cụ ngôn ngữ
chủ yếu để thực hiện hành vi hỏi, còn đƣợc sử dụng để thực hiện một số hành
động lời nói khác, đúng nhƣ nhận định của Searle, ô mọi câu có nghĩa đều có
thể, nhờ vào chính nghĩa của nó, được sử dụng để thực hiện một hoặc một
loạt các hành vi ngôn ngữ cụ thể ằ [SEARLE 1972 : 54]. Ngƣợc lại, để thực
hiện hành vi hỏi, ngƣời nói có thể sử dụng một số cấu trúc ngôn ngữ khác
ngoài câu hỏi. Việc tiếp cận câu hỏi trên bình diện dụng học theo hƣớng của
luận án sẽ cho phép chúng ta nghiên cứu đầy đủ hơn tính lƣỡng diện của câu
hỏi cũng nhƣ của hành vi hỏi. Đó chính là ý nghĩa lý luận của luận án. 3
Về mặt thuật ngữ việc làm này cũng là cần thiết vì hai lý do sau :
1. Trong tiếng Pháp, riêng từ ô interrogation ằ đã có thể chỉ câu hỏi và hành vi hỏi. Từ
điển Le Petit Robert (1996) giải thích nghĩa của từ ô interrogation ằ như sau :
1. Action de questionner, d‟interroger (qqn) (Hành vi).
2. Type de phrase logiquement incomplốte qui a pour objet de poser une question
ou qui implique un doute. (Câu).
Do vậy, trên thực tế nhiều tác giả đã không phân biệt rõ ràng dẫn đến tình trạng mập mờ
hoặc sử dụng lẫn lộn giữa hai nghĩa trên. Xem Dubois et Lagane [đã dẫn] hoặc Trần
Hùng [1991] và một số tác giả khác.
2. Tình trạng trên lại trở nên mập mờ hơn vì danh từ ô question ằ không có tính từ tương
trong các hoạt động phỏng vấn, điều tra xét hỏi, lấy cung
Cách tiếp cận của chúng tôi, nhƣ vừa trình bày ở trên, là hoàn toàn phù
hợp - tuy ở một mức độ hết sức khiêm tốn và ở một phạm vi rất hẹp - với
quan điểm của V.A. Xmirnov và V.K. Phin : ô Cần phải xếp hỏi vào số những
khái niệm có ý nghĩa chung đối với toàn bộ khoa học và toàn bộ văn hoá.
Việc nghiên cứu nó có ý nghĩa cả trên quan điểm nhận thức luận, lẫn trên
quan điểm sử dụng nó vào các mục đích khác ằ (dẫn theo lê đông [1996 : 3]).
12 3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
3.1. Luận án này nghiên cứu câu hỏi trong tiếng Pháp theo quan điểm
ngữ dụng học, nghĩa là nghiên cứu câu hỏi trong các hoạt động hành chức cụ
thể để qua đó nêu đƣợc các giá trị cơ bản của câu hỏi trong tiếng Pháp.
Nhƣ vậy, đối tƣợng nghiên cứu của luận án là câu hỏi, có nghĩa là
những câu mang một trong những dấu hiệu hình thức sau :
1- Est-ce que ,
2 - Đảo trật tự Chủ ngữ - Động từ,
3 - Có ngữ điệu lên ở cuối câu (ở dạng nói),
4 - Kết thúc bằng dấu ? (ở dạng viết).
Những dấu hiệu này có thể tồn tại một cách độc lập với nhau để tạo
thành câu hỏi
tiếng Pháp hiện nay.
Tuy nhiên, do phạm vi hoạt động của câu hỏi trong thực tế giao tiếp là
quá rộng (ô Quan hệ của chúng ta ở trên đời thông qua một tiến trình hỏi ằ
5
),
và khả năng của tác giả còn hạn chế, trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi
chỉ giới hạn việc nghiên cứu ở những giá trị dụng học mà chúng tôi cho là chủ
yếu nhất, những chức năng giao tiếp mà chúng tôi cho là cơ bản nhất của câu
hỏi. Dẫu sao cũng hy vọng rằng kết quả nghiên cứu của luận án này sẽ là cơ
sở để sau này chúng tôi có thể nghiên cứu các giá trị khác nhau của câu hỏi
trong tiếng Pháp một cách đầy đủ hơn và triệt để hơn.
4. Phương pháp và tư liệu nghiên cứu : 5
ô Notre rapport au monde passe par un processus d’interrogation ằ. [JACQUES ; 1985 : 322]
14 4.1. Khác với các quan điểm ngữ pháp học hoặc ngôn ngữ học nội tại
truyền thống theo đó, các nhà nghiên cứu chỉ tập trung và giới hạn việc mô tả,
phân tích câu hỏi nhƣ một phạm trù câu trong một hệ thống ngôn ngữ khép
kín theo một tập hợp các tiêu chí ngôn ngữ (ngữ pháp, ngữ âm, ngữ nghĩa)
nhƣ mô hình câu, các thành phần câu, các qui tắc kết hợp v.v., việc nghiên
cứu câu hỏi theo quan điểm ngữ dụng buộc ngƣời nghiên cứu phải quan sát
câu hỏi trong các tình huống phát ngôn cụ thể. Tình huống ở đây đƣợc hiểu
theo 2 nghĩa :
làm này sẽ cho phép chúng tôi thử nghiệm, kiểm chứng để từ đó, loại trừ các
yếu tố mang tính ngẫu nhiên, cá nhân, rút ra những đặc trƣng bản chất của đối
tƣợng nghiên cứu.
4.3. Vì một trong những mục đích cuối cùng của luận án là tìm ra đƣợc
các giá trị dụng học, hay có thể nói một cách khác là các chức năng giao tiếp
cơ bản của câu hỏi trong tiếng Pháp nên việc tổng hợp, khái quát hoá các kết
quả phân tích thực tế là một việc làm thiết yếu. Chính việc tổng hợp, khái
quát hoá các thuộc tính, đặc trƣng của đối tƣợng nghiên cứu thu đƣợc qua quá
trình quan sát, phân tích thực tế trong các tình huống giao tiếp thực, cụ thể sẽ
cho phép, một mặt, rút ra đƣợc các qui luật hoạt động chung của từng loại câu
hỏi ; mặt khác, xác lập đƣợc các qui tắc điều chỉnh hành vi hỏi.
4.4. Nhƣ trên đã nói, việc nghiên cứu câu hỏi và các chức năng giao
tiếp cơ bản của nó có thể cho phép đối chiếu, so sánh câu hỏi, không chỉ trên
bình diện cấu trúc ngôn ngữ mà trong các hoạt động hành chức cụ thể của nó
trong các ngôn ngữ khác nhau. Tuy nhiên, do dung lƣợng của luận án và khả
năng của chúng tôi chƣa cho phép, trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi
không tiến hành so sánh, đối chiếu một cách hệ thống các câu hỏi trong tiếng
Pháp và tiếng Việt. Mặc dù vậy, khi phân tích các cứ liệu bằng tiếng Pháp đã
16 đƣợc dịch và xuất bản bằng tiếng Việt và các cứ liệu bằng tiếng Việt đã đƣợc
dịch và xuất bản bằng tiếng Pháp, chúng tôi sẽ đƣa ra các kiến giải, nhận xét
về các sự tƣơng đồng và khác biệt giữa câu hỏi trong tiếng Pháp và tiếng Việt.
Những kiến giải và nhận xét này sẽ giúp, trong khuôn khổ luận án này, làm rõ
thêm các đặc trƣng của câu hỏi trong tiếng Pháp và sẽ là tiền đề cho một công
trình so sánh, đối chiếu một cách hệ thống, toàn diện hơn về câu hỏi và hành
Câu hỏi và hành vi hỏi :
- Về các giá trị khác nhau của câu hỏi : Nhƣ đã đề cập đến trong phần
[2.1], ngoài chức năng là công cụ để thực hiện hành vi hỏi (giá trị tại
ngôn trực tiếp), câu hỏi, thông qua các giá trị tại ngôn gián tiếp khác
nhau, còn có thể làm công cụ để thực hiện một số hành vi khác. Nhƣ
vậy, nếu coi cấu trúc hỏi (la structure interrogative) là cái biểu đạt
(le signifiant) và các giá trị tại ngôn khác nhau của câu hỏi nhƣ cái
đƣợc biểu đạt (les signifiộs), thì chúng ta có thể gọi đây là hiện
tƣợng đa nghĩa ngữ dụng hay đa nghĩa tại ngôn (la polysộmie
illocutoire).
- Về các công cụ khác nhau để thực hiện hành vi hỏi : Hành vi hỏi
đƣợc thực hiện qua công cụ thứ nhất của nó là câu hỏi. Nhƣng hành
vi này còn có thể đƣợc thực hiện thông qua một số cấu trúc ngôn
ngữ không mang hình thức hỏi nhƣng cũng có hiệu lực tại ngôn nhƣ
câu hỏi. Các cấu trúc ngôn ngữ khác nhau ấy đƣợc coi là đồng nghĩa
ngữ dụng hoặc đồng nghĩa tại ngôn (les synonymes illocutoires). 18 Chƣơng 2 : Vấn đề phân loại câu hỏi : Về một số cách phân loại câu hỏi
truyền thống và một cách phân loại mới theo quan điểm ngữ
dụng.
Mục đích của chƣơng này, nhƣ tiêu đề đã chỉ rõ, là nhằm đƣa ra một
cách phân loại câu hỏi theo các giá trị dụng học của chúng. Chúng tôi sẽ sử
dụng các công cụ đã đƣợc xây dựng ở chƣơng 1 để phân tích, đánh giá một số
giá trị khác nhau của chúng.
Về một cách phân loại mới :
Nhƣ chúng ta đã thấy trong các cách phân loại truyền thống, phƣơng
pháp phổ biến cho đến nay trong cách phân loại câu hỏi trong tiếng Pháp là
phân loại lƣỡng phân. Ƣu điểm của phƣơng pháp này là cho ta một bảng phân
loại rõ ràng, mạch lạc nhƣng nhƣợc điểm lớn nhất của nó là không đầy đủ vì
không bao gồm đƣợc tất cả các loại câu hỏi khác nhau. Để có đƣợc một hệ
thống phân loại triệt để theo phƣơng pháp lƣỡng phân, chúng ta sẽ buộc phải
tiến hành phân chiết theo tầng bậc và ở mỗi tầng bậc, chúng ta sẽ phải sử
dụng các tiêu chí khác nhau. Nhƣ vậy, chúng ta sẽ lại rơi vào tình trạng nhƣ
đã nêu trong các nhận xét ở trên (tiêu chí phân loại không thống nhất, dẫn đến
tình trạng giằng chéo giữa các tiểu loại ).
Xuất phát từ định nghĩa câu hỏi nhƣ một yêu cầu thông tin mà ngƣời
nói chƣa biết và muốn biết, chúng tôi đƣa ra một cách phân loại câu hỏi theo
các thang giá trị của chúng trên một trục phân bố nhƣ sau :
Câu hỏi thực 20 1. Câu hỏi - yêu cầu thông tin
2. Câu hỏi - đáp
3. Câu hỏi kiểm tra
4. Câu hỏi - yêu cầu xác nhận
1. Đƣa ra một hƣớng tiếp cận mới của việc dạy câu hỏi trong giáo học
pháp ngoại ngữ, cụ thể là trong việc dạy tiếng Pháp cho ngƣời Việt
Nam ;
2. Đƣa ra một số kiến giải, nhận xét và đề xuất liên quan đến câu hỏi
trong lĩnh vực dịch thuật ;
3. Phân tích sự khác biệt giữa câu hỏi-phƣơng tiện giao tiếp hàng ngày
và câu hỏi-công cụ làm việc trong các hoạt động mà ở đó câu hỏi là
công cụ chủ yếu và đóng vai trò quyết định để đánh giá lại kết quả
một cuộc điều tra thăm dò (enquờte) về khả năng kể chuyện của trẻ
em ở lứa tuổi tiền học đƣờng.
Đây sẽ là những ví dụ cụ thể cho thấy việc nghiên cứu hành vi hỏi và
câu hỏi theo quan điểm ngữ dụng không chỉ cho phép chúng ta tiếp cận và tìm
hiểu câu hỏi trong hoạt động hành chức cụ thể của nó mà qua đó còn cung cấp
cho chúng ta một công cụ nghiên cứu trong một số lĩnh vực liên quan.
22
nghiên cứu câu hỏi và hành vi hỏi. Một số nhà nghiên cứu khác, tuy không
phát biểu một cách hiển ngôn về sự cần thiết phải dựa vào cặp câu hỏi - trả lời
23 trong quá trình nghiên cứu câu hỏi và hành vi hỏi, nhƣng lại viện đến câu trả
lời để định nghĩa, phân loại câu hỏi và ngƣợc lại, dùng câu hỏi để định nghĩa,
phân loại câu trả lời. (FRANỗOIS, 1984, nguyễn Chí Hoà, 1993). Quan điểm
phổ biến hơn cả cho rằng cần phải coi cặp câu hỏi - trả lời nhƣ ô chu cảnh
6
của diễn ngôn trong đó câu trả lời cũng có vị trí và ý nghĩa của
nó ằ.[BORILLO, 1978 : 78]. Trong số những ngƣời theo quan điểm này có
thể kể đến Milner. Theo tác giả này, ô bản thân việc tạo thành các câu hỏi
phải được xem xét trong cặp yêu cầu-trả lời tiềm ẩn ằ và ô thực vậy, chỉ riêng
việc là có nhiều cách khác nhau để hỏi ai ?, tại sao ?, thế nào ? đã cho thấy là
cần phải liên kết các yêu cầu được thể hiện bằng các câu hỏi này với các tiên
lượng khác nhau về các câu trả lời được người hỏi chờ đợi, giả định và/hoặc
hy vọng ở ngay tại thời điểm khi người hỏi đặt câu hỏi ằ [MILNER,
1973 :19]. Nguyễn Thị Thìn thì cho rằng : ô Việc xem xét mối quan hệ tương
tác giữa câu hỏi (chân chính) với câu hồi đáp và chỉ ra một số hình thức,
phương thức hồi đáp của nó là một gợi ý tốt về một chỗ dựa quan trọng cho
việc giải thích ý nghĩa của câu nghi vấn kích thích đồng thời cũng là cố gắng
hữu ích cho sự nghiên cứu hoạt động của câu nghi vấn trong đối thoại trực
tiếp. ằ [nguyễn Thị Thìn, 1994 : 17]. Về điểm này, quan điểm của Lê Đông và
Võ Đại Quang rất gần với nhau. Lê Đông cho rằng : ô Hỏi - trả lời thực chất
là hai mặt của một quá trình thống nhất, là tiền đề tồn tại của nhau. Được trả
lời là mục đích, là lý do của việc đặt câu hỏi. Ngược lại, làm sáng tỏ điều
chưa biết, chưa rõ và cần rõ trong câu hỏi lại là mục đích phát ngôn của câu
câu hỏi trong chu cảnh ô câu hỏi - trả lời ằ, chúng tôi còn xuất phát từ những
lý do sau :
1/ Sự phân biệt giữa câu và phát ngôn của Ducrot, theo đó câu ô là một
bản thể ngôn ngữ trừu tượng, luôn đồng nhất trong mọi trường hợp ằ và phát
ngôn ô là một trường hợp cụ thể, là sự hiện thực hoá trong một hoàn cảnh cụ
thể (hic et nun) của câu. ằ [DUCROT, 1984 : 95]. Nhƣ vậy, theo quan điểm
này, trong giao tiếp hàng ngày, chúng ta tiếp xúc không phải là với ô các bản
25 thể ngôn ngữ trừu tượng ằ mà là với các phát ngôn cụ thể, trong một hoàn
cảnh giao tiếp cụ thể.
2/ Khi nghiên cứu câu hỏi trong các hoạt động hành chức cụ thể của nó,
chúng ta không thể dừng ở việc mô tả câu hỏi thông qua các quan sát bề mặt,
hay nói một cách khác, ở việc mô tả cấu trúc cú pháp - ngữ nghĩa của nó.
Thêm nữa, nhƣ chúng ta đều biết, việc hiểu một phát ngôn phải gắn kết chặt
chẽ với tình huống trong đó phát ngôn ấy đƣợc sản sinh. Tình huống, theo
quan điểm của chúng tôi nhƣ đã nêu trong phần Mở đầu của luận án (Xem
mục 4.1), bao gồm chu cảnh (contexte) và ngữ cảnh (cotexte). Nhƣ vậy, việc
nghiên cứu câu hỏi trong cặp câu hỏi - trả lời thực chất là đặt câu hỏi vào ngữ
cảnh của nó vì câu trả lời chính là môi trƣờng ngôn ngữ trực tiếp, gần nhất
của câu hỏi.
3/ Khi nghiên cứu hành vi hỏi và câu hỏi trong các tƣơng tác hội thoại,
chúng ta không thể chỉ quan tâm đến câu hỏi mà phải xem xét cặp câu hỏi -
trả lời vì hai lý do sau :
3.a/ Các nhà nghiên cứu theo các trƣờng phái ngữ pháp hình thức, dù là
- Đoạn thoại (Sộquence)
- Cặp thoại (Echange)
- Tham thoại (Intervention)
- Hành vi ngôn ngữ (Acte de langage)
Nhìn bề ngoài, hai lƣợc đồ này có vẻ giống nhau nhƣng thực ra có một
sự khác biệt rất lớn. Nếu nhƣ nguyên tắc tổ chức nội tại là nhƣ nhau (các đơn
vị ở một tầng nhất định kết hợp với nhau theo các qui tắc cụ thể để tạo thành
một đơn vị ở tầng cao hơn), ở lƣợc đồ thứ hai, chúng ta có thể và cần phải đặt
7
Thực ra các nhà nghiên cứu hội thoại trường phái Genève chỉ thừa nhận đoạn thoại là
đơn vị hội thoại lớn nhất và không xếp cuộc thoại vào số các đơn vị cấu trúc hội
thoại.(Xem Roulet 1981, Moeschler 1985).