ii ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN PHÚC TRUNG
HÀNH ĐỘNG HỎI
TRONG NGÔN NGỮ PHỎNG VẤN TRUYỀN HÌNH
(TRÊN CÁC KÊNH CỦA VTV, CÓ SO SÁNH VỚI
KÊNH TV5 CỦA PHÁP) Chuyên ngành: Lí luận ngôn ngữ
Mã số: 62 22 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
1.1.3. Giao tiếp hội thoại trên bình diện giao tiếp ngôn ngữ 20
1.1.4. Giao tiếp và giao tiếp hội thoại trên truyền hình 27
1.2. Hành động ngôn từ 35
1.2.1. Về hành động ngôn từ 35
1.2.2. Phân loại hành động ngôn từ 36
1.2.3. Hành động hỏi 38
1.3. Phỏng vấn báo chí và ngôn ngữ phỏng vấn 41
1.3.1. Phỏng vấn báo chí 41
1.3.2. Phân loại phỏng vấn 45
1.3.3. Ngôn ngữ phỏng vấn 46
1.3.4. Một số yếu tố kèm lời và phi lời ảnh hƣởng đến hoạt động phỏng vấn 51
1.4. Văn hóa trong giao tiếp và giao tiếp hội thoại trên truyền hình 53
1.4.1. Phép lịch sự và quan điểm của G.N.Leech, P.Brown và S.Levinson 53
1.4.2. Phép lịch sự trong hoạt động phỏng vấn truyền hình 57
1.5. Tiểu kết 58
vii
CHƢƠNG 2: HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG PHỎNG VẤN TRUYỀN HÌNH
TRÊN CÁC KÊNH CỦA VTV 60
2.1. Hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình 60
2.1.1. Dẫn nhập 60
2.1.2. Nhận diện hành động hỏi trong hoạt động phỏng vấn trên truyền hình 60
2.1.3. Mối quan hệ giữa câu hỏi và hành động hỏi trong giao tiếp ngôn ngữ
trên truyền hình 61
2.1.4. Hỏi trong hoạt động phỏng vấn truyền hình 65
2.2. Nghiên cứu điển hình (Case Study) về hỏi trong một số dạng phỏng vấn
truyền hình trên VTV 70
2.2.1. Hỏi trong phỏng vấn của các chƣơng trình thời sự 70
2.2.2. Hỏi trong phỏng vấn của các thể loại chân dung 76
2.2.3. Hỏi trong phỏng vấn của các chƣơng trình trò chơi, giải trí 78
4.2.1. Tổng quan về TV5 Monde 151
4.2.2. Tổng quan về VTV 152
4.2.3. Cứ liệu dẫn xuất 154
4.3. Phân tích cứ liệu 155
4.3.1. Về mặt hình thức 155
4.3.2. Về mặt nội dung 163
4.3.3. Về hành động hỏi và kỹ năng đặt câu hỏi 164
4.4. Nhận xét và đề xuất 190
4.4.1. Nhận xét chung 190
4.4.2. Một số ý kiến đề xuất 191
4.5. Tiểu kết 197
KẾT LUẬN 198
TÀI LIỆU THAM KHẢO 202
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 211 ix
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. GTNN Giao tiếp ngôn ngữ
2. THVN Truyền hình Việt Nam
3. VTV Đài Truyền hình Việt Nam
4. TV5 Kênh truyền hình quốc tế TV5 của Pháp
5. STV Speaker on Television
Người nói trên truyền hình
6. SP
1
Speaker 1
Người phỏng vấn
lượng và số lượng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khán giả. Trong sự
lớn mạnh chung đó không thể không nói đến vai trò đặc biệt quan trọng của
phỏng vấn truyền hình.
1.2.1. Phỏng vấn là một hoạt động quan trọng. Với việc kết hợp giữa ngôn
ngữ (mà ở đây là ngôn ngữ lời nói) và những yếu tố phi ngôn ngữ, phỏng vấn
truyền hình được coi là « cuộc nói chuyện nguyên chất, sống động và hấp dẫn
nhất » mà khán giả là người được « tận mắt » chứng kiến.
1.2.2. Phỏng vấn hướng đến việc lấy được thông tin dễ hiểu và rõ ràng từ
« đối tác » trong thời gian ngắn nhất bằng cách đối thoại trực diện, trong đó SP
1
sẽ là người chủ động nêu câu hỏi và « đối tượng » - SP
2
trả lời nhằm cung cấp
thông tin cho « một người thứ ba » - chính là khán giả.
2
1.2.3. Thông qua trao đổi hỏi - đáp giữa người phỏng vấn với người được
phỏng vấn, khán giả sẽ có được những thông tin, đồng thời biết được rõ nét
phong cách, văn hóa giao tiếp, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, nghệ thuật ứng xử
của những người tham gia trực tiếp vào quá trình giao tiếp này. Như vậy, phỏng
vấn truyền hình vừa là một thể loại báo chí vừa là một thủ pháp, trong đó việc sử
dụng ngôn từ được coi như là một chiến lược của giao tiếp phỏng vấn.
1.3. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về truyền hình, các nhà nghiên cứu mới chỉ
quan tâm nghiên cứu ở các lĩnh vực khoa học, công nghệ. Và nếu có nghiên cứu
về mặt nội dung thì cũng mới chỉ tập trung vào việc nghiên cứu nghiệp vụ báo
chí, đó là các quy trình, cách thức và kỹ năng về tổ chức, sản xuất tin, phóng sự,
phim tài liệu và các chương trình giao lưu, giải trí v.v mà chưa chú ý một cách
đúng mức đến việc sử dụng ngôn ngữ trên truyền hình, đặc biệt là ngôn ngữ
phỏng vấn.
2 »
(2)
, « N
0
3 »
(3)Hình « N
0
4, N
0
5, N
0
6 »
(4)
2.3. Ở Việt Nam, truyền hình được thành lập vào ngày 07 tháng 9 năm
1970. Tuy là « thế hệ sinh sau » nhưng vì là một tờ báo điện tử hiện đại, THVN
đã có những kế thừa và phát huy những thành tựu của báo chí trước đó, đặc biệt
là ngôn ngữ của báo in và phát thanh để trở thành một tờ báo quan trọng và hữu
hiệu nhất hiện nay.
2.4. Như vậy, từ khi ra đời đến nay truyền hình thế giới đã có hơn 100
năm và truyền hình Việt Nam đã có 41 năm xây dựng và phát triển, nhưng việc
nghiên cứu về các vấn đề thuộc nội dung chương trình, đặc biệt là nghiên cứu về
1
Thiết bị thu đĩa - lớn và những điều khiển truyền hình sử dụng vào ngày 7 tháng 4 năm 1927 tại Mỹ
2
Tổng thư ký Thương mại Herbert Hoover phát biểu
trong quá trình tác nghiệp, nghệ thuật đặt câu hỏi đối với các vị khách mời.
2.4.3. Cũng ở cấp độ luận văn thạc sĩ tác giả Hoàng Lê Thúy Nga đã khảo
sát ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên Huế. Khác với Hà
Nguyên Sơn, Hoàng Lê Thúy Nga không phân chia theo từng chuyên mục,
chương trình mà nghiên cứu một cách tổng quát. Tác giả cũng đã tập trung
5
Nguyên gốc tiếng Anh là: « Game show »
5
nghiên cứu cấu trúc cuộc thoại, câu hỏi phỏng vấn, các phương tiện ngôn ngữ
v.v trong giao tiếp truyền hình.
2.4.4. Ở cấp độ luận án tiến sĩ cũng đã có tác giả đề cập đến yếu tố lời nói
trong truyền hình như luận án của Nguyễn Thế Kỷ (2005) với «Dạng thức nói
trên truyền hính». Trong công trình nghiên cứu này, Nguyễn Thế Kỷ đã nêu lên
những đặc điểm cơ bản của dạng thức nói trên truyền hình, chỉ ra sự khác nhau
giữa dạng nói trên truyền hình với nói trên đài phát thanh, giao tiếp trên báo viết,
điện thoại có hình, Internet
6
. Đồng thời, khảo sát một số hoạt động lời nói trên
truyền hình, phong cách ngôn ngữ trên truyền hình.
2.5. Đối tượng của luận án là hành động hỏi nên dĩ nhiên phát ngôn hỏi,
một phương tiện hình thức chuyền tải chủ yếu của nội dung hành động hỏi,
không thể không được đề cập đến. Phát ngôn hỏi đã được các nhà Việt ngữ học
tìm hiểu kỹ, một số công trình gần đây nhất, chú ý tới nhân tố con người và hoạt
động ngôn ngữ ở trạng thái động, trạng thái hành chức của nó. Các tác giả này đã
đi sâu nghiên cứu câu hỏi ở bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng như các nhân tố: vai
giao tiếp, ngữ cảnh, ý đồ… gắn với một kiểu diễn ngôn nhất định như Nguyễn
Thị Thìn (1994) nghiên cứu về «Câu nghi vấn tiếng Việt: một số kiểu nghi vấn
thường không dùng để hỏi»; Lê Đông (1996) với «Ngữ nghĩa - ngữ dụng câu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng
vấn truyền hình trên các kênh của VTV (Việt Nam) và TV5 (Pháp) - với tư cách
là kênh đối chiếu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Như đã trình bày, đối tượng nghiên cứu của luận án là hành động
hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình nên trong khuôn khổ đề tài này chúng
tôi sẽ tập trung vào giải quyết một số nhiệm vụ cụ thể sau:
1. Nhận diện giao tiếp và giao tiếp trong hoạt động phỏng vấn truyền hình.
2. Hành động hỏi và phân loại hành động hỏi.
3. Nghiên cứu hành động hỏi trong hoạt động phỏng vấn truyền hình.
4. Nghiên cứu các nhân tố giao tiếp ảnh hưởng đến hành động hỏi trong
hoạt động phỏng vấn truyền hình.
5. Nghiên cứu các phương tiện ngôn ngữ diễn tả hành động hỏi.
6. Nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa và ứng xử ngôn ngữ đối với hành
động hỏi và phương pháp đặt câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình.
7. Thử nghiên cứu, đối chiếu về hành động hỏi trong hoạt động phỏng vấn
trên các kênh của VTV của Việt Nam và kênh TV5 của Pháp.
7
3.2.2. Tuy nhiên, do dung lượng của luận án và khả năng cá nhân chưa cho
phép nên luận án sẽ không tiến hành so sánh, đối chiếu một cách hệ thống hành động
hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn ở tiếng Pháp và tiếng Việt. Nhưng trong quá trình
phân tích các cứ liệu bằng tiếng Việt trên các kênh của VTV và trên kênh TV5 của
Pháp, luận án sẽ đưa ra một số kiến giải, nhận xét sự tương đồng và khác biệt của
hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn trên kênh VTV và TV5. Điều này sẽ giúp
làm rõ hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn truyền hình trên VTV, đồng thời sẽ
là tiền đề cho đề tài nghiên cứu so sánh, đối chiếu một cách hệ thống, toàn diện hơn
về hành động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình Pháp và Việt Nam.
3.2.3. Cũng cần nói thêm rằng, nghiên cứu hành động hỏi nói chung và
nghiên cứu hành động hỏi trong hoạt động phỏng vấn nói riêng chính là nghiên
tạo nên những lập luận vững chắc, chặt chẽ, đồng thời để kết luận đưa ra có sức
thuyết phục.
4.1.2. Phƣơng pháp riêng
Điền dã tƣ liệu cho đối tƣợng: Đây là phương pháp nhằm thu thập các
tư liệu cụ thể về hành động hỏi trong hoạt động phỏng vấn trên truyền hình của
VTV và TV5. Mặc dù, hàng ngày, hàng giờ trên sóng truyền hình luôn có những
chương trình phỏng vấn, nhưng để có được ngữ liệu người nghiên cứu phải dùng
phương pháp lưu chương trình sang đĩa DVD, sau đó chuyển từ văn bản ở dạng
thức nói sang văn bản viết. Trên cơ sở các cứ liệu đã thu thập, tác giả luận án sẽ
đánh dấu các phát ngôn chứa hành động hỏi để lập hồ sơ xử lý.
Khảo sát: Đây là quy trình tiếp theo của việc thu thập tư liệu. Mục đích
chính là để xử lý các tư liệu hiện có theo bốn công việc sau đây: 1/ Mô tả chi tiết
hành động hỏi; 2/ Phân tích hành động hỏi trên bình diện cấu trúc, ngữ nghĩa - ngữ
dụng; 3/ Phân tích hành động hỏi trên bình diện văn hóa; 4/ Phân tích hành động hỏi
trên bình diện của các giao diện giao tiếp.
Phƣơng pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học và truyền thông:
Bên cạnh các phương pháp nêu trên, trong luận án này chúng tôi còn sử dụng
các phương pháp nghiên cứu khác của ngôn ngữ học và truyền thông như: Đối với
9
ngôn ngữ học đó là : 1/ Phương pháp phân tích hội thoại, phương pháp phân tích diễn
ngôn ; 2/ Phương pháp phân tích dụng học - văn hóa; Với truyền thông học, chúng tôi
sử dụng phương pháp mô hình truyền thông giao tiếp và phương pháp tiếp thị xã hội
(hay còn gọi là phương pháp tiếp cận công chúng).
4.2. Thủ pháp nghiên cứu
Thống kê, quy loại và phân loại: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả
luận án tiến đã hành thống kê ngữ liệu, chủ yếu là các cuộc phỏng vấn trong các
chương trình thời sự - chính trị - xã hội, văn hóa - thể thao - giải trí trên VTV và
TV5 trong những năm gần đây. Sau đó, chúng tôi phân loại theo dạng câu hỏi và
mục đích của hành động hỏi. Kết quả thống kê được sử dụng để rút ra các đặc
các chương trình phỏng vấn trên sóng Đài THVN trong bối cảnh hội nhập, giao
lưu quốc tế hiện nay.
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bố cục luận án gồm 4 chương.
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày những khái niệm mang tính lí
thuyết làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài. Các vấn đề đó là: Hành
động ngôn từ; Giao tiếp và giao tiếp hội thoại trên truyền hình; Phỏng vấn và
phỏng vấn trên truyền hình; Văn hóa trong giao tiếp.
CHƢƠNG 2: HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG PHỎNG VẤN TRUYỀN HÌNH
TRÊN CÁC KÊNH CỦA VTV
Đây là một trong những chương cơ bản của luận án. Nội dung của chương
này sẽ tập trung giải quyết một số vấn đề sau: 1/ Hành động hỏi trong giao tiếp
trên truyền hình; 2/ Nghiên cứu điển hình (case study) về một số dạng phỏng vấn
trên truyền hình; 3/ Đánh giá về thực trạng của phỏng vấn trên truyền hình: Các
nhân tố của cuộc phỏng vấn.
CHƢƠNG 3: NGÔN NGỮ - VĂN HÓA TRONG PHỎNG VẤN TRUYỀN
HÌNH TRÊN CÁC KÊNH CỦA VTV
Với chương III, luận án sẽ tập trung vào việc khảo sát, đánh giá các yếu tố
văn hóa - ngôn ngữ trong phỏng vấn truyền hình. Chúng tôi chú ý hai vấn đề:
11
Văn hóa giao tiếp và giao tiếp trên truyền hình.
Yếu tố lịch sự, truyền thống dân tộc.
CHƢƠNG 4: BƢỚC ĐẦU SO SÁNH HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG PHỎNG
VẤN TRÊN CÁC KÊNH CỦA VTV-VIỆT NAM VÀ KÊNH TV5-PHÁP
Nội dung của chương IV sẽ bước đầu tiến hành so sánh hành động hỏi
bằng tiếng Việt trên các kênh của VTV và hành động hỏi trên kênh TV5.
Việc phân tích cứ liệu, các đoạn phỏng vấn được phát trên các kênh của
VTV-Việt Nam và kênh TV5-Pháp, sẽ giúp cho tác giả luận án có dịp đưa ra các
S
Sơ đồ 1.1 [24], [35]
Sơ đồ trên đã thể hiện một cái nhìn khá khái quát về hoạt động giao tiếp.
Tuy nhiên, những thành tố như nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, phương
tiện và kênh giao tiếp lại chưa được thể hiện tường minh. Chúng tôi thấy cần bổ
sung thêm một số thành tố khác theo sơ đồ dưới đây: A: Người nói (Speaker)
B: Người nghe (Hearer)
C: Mã (Code)
E: Chu cảnh (Environment)
N: Nhiễu (Noise)
13 Sơ đồ 1.2
14
thành viên xã hội theo quy tắc, luật lệ, phong tục, tập quán của xã hội; Còn loại
giao tiếp mà ở đó con người tìm hiểu lẫn nhau và tìm hiểu thế giới bên ngoài là
giao tiếp nhận thức.
Giao tiếp cũng được phân chia ra thành giao tiếp có nghi thức và giao tiếp
không có nghi thức. Hoạt động giao tiếp được diễn ra theo một chương trình, kế
hoạch tổ chức nhất định trong một không gian, thời gian được ấn định gọi là giao
tiếp có nghi thức. Giao tiếp có nghi thức thường được thực hiện bởi mối quan hệ
giữa cá nhân với tập thể, giữa tập thể với nhau, ví dụ: diễn đàn, hội thảo, mít tinh
hay lớp học v.v Giao tiếp không có nghi thức thường được hình thành bởi mối
quan hệ giữa cá nhân không bị ràng buộc bởi những nghi thức định sẵn. Những
cuộc trò chuyện, tâm sự, những hoạt động đối thoại hàng ngày đều thuộc loại
giao tiếp này.
Các loại quan hệ trên thường tác động quan lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau
làm cho mối quan hệ giao tiếp của con người vô cùng đa dạng và phong phú.
1.1.1.2. Giao tiếp với hoạt động nhận thức
Một hoạt động giao tiếp bao giờ cũng là tổng hợp của các quá trình tri
giác, hoạt động, tương tác, thông tin, tâm lí v.v Giao tiếp là tri giác, khởi đầu
của hoạt động nhận thức « phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật,
hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan » [18, tr.100]. Mức độ
nhận thức sẽ tuỳ thuộc vào khả năng tri giác của con người đối với các sự vật và
hiện tượng mà họ muốn hiểu biết.
Giao tiếp là quá trình hoạt động, một quá trình xác lập và duy trì sự tiếp xúc
có mục đích, trực tiếp hoặc gián tiếp bằng phương tiện này hay bằng phương tiện
khác làm cho các nhân vật cùng tham gia có những biến đổi nhất định. Hoạt động
giao tiếp bao giờ cũng là sự liên kết hai chiều giữa bên « phát » và bên «nhận »,
cái « tôi » của mỗi vai có sự luân phiên theo lượt lời. Trong suốt quá trình này,
vai giao tiếp luôn thay đổi, các nhân vật giao tiếp thay phiên nhau giữ vai trò là
người « phát » và người « nhận ». Đó là sự tương tác giao tiếp. Hoạt động tương
được thông tin ấy qua quá trình giải « mã ». Khi lí thuyết thông tin được ứng
dụng để nghiên cứu các quy luật giao tiếp giữa con người và con người (qua
7
Nguyên gốc tiếng Anh là: « Linguistics and Poetics »
Ngƣời nhận
Ngƣời phát
ời phát
B N
g
ô
S
P
STV
MC
mời
B
Ngƣời phát
A
Ngƣời nhận 16
17
của hoạt động giao tiếp trước sẽ làm tiền đề và góp phần điều chỉnh hoạt động
giao tiếp sau đó.
Để thực hiện giao tiếp, con người sử dụng nhiều phương tiện khác nhau,
nhưng ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp cơ bản, cũng là phương tiện
giao tiếp có nhiều ưu thế nhất. Chính vì vậy khả năng ứng dụng của giao tiếp
ngôn ngữ rất cao, nhất là trong lĩnh vực truyền thông.
1.1.2. Giao tiếp ngôn ngữ
1.1.2.1. Khái niệm
Giao tiếp ngôn ngữ (GTNN) hay giao tiếp bằng ngôn ngữ là hình thức giao
tiếp cơ bản và quan trọng nhất của xã hội loài người. Nó lấy ngôn ngữ (nói và
viết) làm phương tiện. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt vừa có tính đơn
trị vừa có đa trị. Đồng thời, ngôn ngữ là loại phương tiện vừa có khả năng miêu tả
đúng với hiện thực lại vừa có thể chuyển tải được chính xác kể cả những tư tưởng,
tình cảm vốn rất khó xác định của con người.
Mỗi tín hiệu ngôn ngữ vừa truyền tải nội dung sự vật, hiện tượng vừa có
khả năng biểu hiện các sắc thái tình cảm (yêu, ghét, hờn, giận…) của chủ thể đối
với sự vật, hiện tượng mà nó biểu hiện. Và, vì là một hệ thống tín hiệu có tính xã
hội cao, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện tư duy, giao tiếp của những con người
trong cùng một thời đại mà còn ở các thời đại khác nhau, lứa tuổi và nền văn hoá
khác nhau.
Hoạt động GTNN có hai quá trình: tạo lập văn bản và lĩnh hội văn bản. Văn
bản (hay ngôn bản) vừa là sản phẩm vừa là phương tiện của hoạt động giao tiếp.
Tác giả Phạm Văn Nam (2009) đã khái quát hóa hoạt động GTNN qua sơ đồ:
Sơ đồ 1.5 [40]
Tạo lập văn bản là hoạt động của người phát tin. Một văn bản (nói và viết)
ra đời nghĩa là một thông điệp đã được người phát « mã » hoá bằng ngôn ngữ.
19
Như vậy, muốn hoạt động giao tiếp ngôn ngữ có hiệu quả, các nhân vật
giao tiếp không chỉ căn cứ vào bản thân văn bản mà còn cần chú ý đến các yếu tố
khác trong quá trình giao tiếp có ảnh hưởng chi phối nội dung thông điệp.
1.1.2.2. Mục đích, hiệu quả của giao tiếp ngôn ngữ
- GTNN không chỉ nhằm mục đìch thông tin mà chủ yếu là tác động tới
người nhận về tư tưởng, tính cảm và hành động:
Chức năng cơ bản của ngôn ngữ là thông báo, biểu hiện và tác động v.v
có khi thể hiện riêng rẽ, lại có khi được hoà trộn chặt chẽ trong một đơn vị ngôn
ngữ. Vì vậy, người nhận chỉ ở trong một ngữ cảnh cụ thể, đối mặt trực tiếp, cảm
nhận được đầy đủ nét mặt, cử chỉ, giọng điệu v.v của người phát mới có thể
lĩnh hội đầy đủ thông điệp mà người phát muốn gửi đến. Nhiều khi ý nghĩa thông
báo của hoạt động GTNN được ẩn đi mà chỉ còn sự tác động đến người nhận về
tư tưởng, tình cảm và hành động. Hành động là chức năng thông qua giao tiếp,
nói đúng hơn là với mục đích thông qua các diễn ngôn mà các đối ngôn tự ràng
buộc mình và ràng buộc nhau vào một hành động nào đó. Theo Đỗ Hữu Châu
(2003): « Có lẽ hành động là chức năng đầu tiên của con người đặt ra cho việc
giao tiếp bằng ngôn ngữ và bằng những phương tiện khác » [5, tr.135].
- « Mã » hoá đúng quy tắc ngôn ngữ là điều kiện cần thiết để đạt đến mục
đìch giao tiếp chứ không phải là mục đìch giao tiếp:
Các đơn vị ngôn ngữ được hình thành bởi những quy tắc từ vựng, ngữ
pháp và ngữ nghĩa. Hoạt động GTNN không phải nhằm mục đích chuyển tải các
quy tắc đó, trừ khi quy tắc ngôn ngữ chính là nội dung giao tiếp. Một GTNN
thông thường chỉ thật sự thành công khi cả người phát và người nhận đều lĩnh
hội thông điệp theo cùng một nội dung. Sử dụng đúng các quy tắc ngôn ngữ
chính là điều kiện căn bản để chuyển tải đúng nội dung giao tiếp mà người phát
mong muốn. Ví dụ: dấu thanh trong tiếng Việt là một quy tắc, các phép hoán dụ,
ẩn dụ v.v là những quy tắc để chuyển nghĩa của từ. Nhưng người nhận tin nhiều
khi không quan tâm đến những quy tắc ấy, mà chỉ cần biết người « phát » muốn
nói gì, mong muốn gì.