hành động hỏi trong kịch của nguyễn huy tưởng - Pdf 24

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
––––––––––––––––––––

NGUYỄN THỊ HƢỜNG HÀNH ĐỘNG HỎI TRONG KỊCH
CỦA NGUYỄN HUY TƢỞNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM HÙNG VIỆT
THÁI NGUYÊN - 2013

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc
công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hƣờng
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn


DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4. Đối tƣợng và phạm vi tƣ liệu nghiên cứu 5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 5
6. Đóng góp của luận văn 6
7. Bố cục của luận văn 6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1. Lí thuyết về hành động ngôn ngữ 7
1.1.1. Khái niệm hành động ngôn ngữ 7
1.1.2. Điều kiện sử dụng các hành động ở lời 10
1.1.3. Hành động ở lời trực tiếp - gián tiếp 11
1.1.3.1. Hành động ở lời trực tiếp 11
1.1.3.2. Hành động ở lời gián tiếp 13
1.2. Câu hỏi và hành động hỏi 20
1.2.1. Khái niệm câu hỏi 20
1.2.2. Khái niệm hành động hỏi 23
1.2.3. Mối quan hệ giữa câu hỏi và hành động hỏi 23
1.3. Phép lịch sự và hành động hỏi 25
1.3.1. Lí thuyết của R.Lakoff 25
1.3.2. Lí thuyết của G.N.Leech 26
1.3.3. Lí thuyết của Brow và Levinson 26
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn iv
1.4. Tiểu kết 29
v
3.1.9. Hỏi - từ chối - bác bỏ 87
3.1.10. Hành động hỏi đƣợc sử dụng để biểu thị các hành động nói
gián tiếp khác 89
3.2. Nhận xét về cách sử dụng hành động hỏi đƣợc dùng qua các kiểu
câu không mang mục đích hỏi trong hai vở kịch “Bắc Sơn” và “Vũ
Nhƣ Tô” của Nguyễn Huy Tƣởng 90
3.3. Đặc điểm hình thức của hành động hỏi đƣợc sử dụng để biểu thị các
hành động nói gián tiếp 91
3.3.1. Phƣơng tiện thể hiện 92
3.3.2. Kiểu câu 92
3.4. Vai trò của hành động hỏi trong việc biểu thị hành động nói
gián tiếp 92
3.4.1. Hành động hỏi góp phần quan trọng trong việc bộc lộ nội tâm 92
3.4.2. Hành động hỏi phát huy vai trò tích cực trong việc tham gia bình
luận, đánh giá, kể lại sự vật, sự việc một cách khách quan 95
3.5. Tiểu kết 96
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn iv
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Ví dụ
Sp1
(Speaker 1) Ngƣời thực hiện hành động hỏi
Sp2
(Speaker 2) Ngƣời tiếp nhận hành động hỏi S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vào đầu thập niên 1960, cùng với sự xuất hiện của lí thuyết ngôn từ
(speech act theory) do J.L. Austin và J.Searle khởi xƣớng, ngữ dụng học bắt
đầu bƣớc vào thời kì phát triển mạnh mẽ, giải đáp và khám phá rất nhiều những
địa hạt mới mẻ của ngôn ngữ học. Từ đây, ngôn ngữ học đã đƣợc mở rộng
phạm vi quan tâm, bao quát đến từng lời nói cụ thể, từng giao tiếp cụ thể của
con ngƣời.Từ khoảng những năm 70 của thế kỉ 20 tới nay, ngữ dụng học đƣợc
giới ngôn ngữ học quan tâm nhiều. Geoffrey Leech năm 1983 đã nhận xét rằng
15 năm trƣớc (trƣớc 1983) ngữ dụng học hầu nhƣ không đƣợc các nhà ngôn
ngữ học nhắc đến, mà nếu có nhắc đến thì cũng chỉ với tƣ cách là một thứ “sọt
rác”, một thứ "Waste-paper basket", nhƣ cách nói của nhà toán học và triết học
ngôn ngữ Bar-Hillel. Hiện nay thì ngữ dụng học đã là một phân ngành của
ngôn ngữ học. Trong lịch sử ngôn ngữ học thế giới, hiếm thấy một phân ngành
nào trong một thời gian ngắn lại phát triển nhanh đến thế. ngữ dụng học là một
chuyên ngành thuộc ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu các vấn đề liên quan đến
việc sử dụng ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp để đạt tới một mục đích nhất
định. Nó quan tâm đến việc vì sao việc truyền đạt nghĩa không chỉ phụ thuộc

Quốc Hải, Nguyễn Mộng Giác, Bút Ngữ, Hà Ân, Nguyễn Quang Thân…”.
Cũng theo Nguyên An, Nguyễn Huy Tƣởng “đã gánh việc mở đầu một cách
đích đáng cho dòng văn chƣơng viết về truyền thống, về lịch sử trung đại Việt
Nam trong nền văn chƣơng hiện đại Việt Nam”.
.
Đã có không ít các công trình nghiên cứu khác nhau về các tác phẩm của
Nguyễn Huy Tƣởng, tuy nhiên, bình diện ngôn ngữ chƣa đƣợc chú ý nhiều,
trong đó hành động hỏi trong kịch của ông vẫn là đề tài chƣa từng đƣợc nghiên
cứu. Từ sự khâm phục, trân trọng nhân cách và tài năng của Nguyễn Huy
Tƣởng, và sự yêu thích kịch của ông, nên chúng tôi đã mạnh dạn chọn vấn đề
"Hành động hỏi trong kịch của Nguyễn Huy Tưởng" làm đề tài cho luận văn
của mình.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 3
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Câu hỏi là một trong những kiểu câu phân chia theo mục đích nói
(gồm câu trần thuật, câu hỏi, câu cảm thán và câu cầu khiến).
Đi sâu vào nghiên cứu hành động hỏi trong kịch của Nguyễn Huy
Tƣởng, chính là nghiên cứu một lĩnh vực thuộc vấn đề hành vi ngôn ngữ đã thu
hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam từ cuối những
năm 80 trở lại đây. Hỏi trở thành vấn đề ngữ dụng quen thuộc trong các công
trình: Ngữ dụng học của GS.TS. Nguyễn Đức Dân, Đại cƣơng ngônngữ học,
tập 2 của GS.TS. Đỗ Hữu Châu, Dụng học Việt Ngữ của Nguyễn Thiện Giáp
Đến nay, đã có nhiều công trình khoa học chọn hành động hỏi làm đối
tƣợng nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Có thể kể đến một số công trình nhƣ:
1. Hoàng Trọng phiến, Ngữ pháp tiếng Việt - câu, Nxb Đại học và trung
học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980.

Huy Tƣởng, những tác phẩm kịch chiếm một vị trí quan trọng”. Cũng theo ông:
“Vào những năm trƣớc và sau Cách mạng, Nguyễn Huy Tƣởng đã có công thúc
đẩy và xây dựng nền kịch nói của nƣớc nhà phát triển trên một chặng đƣờng mới”.
Chặng đƣờng sáng tác kịch của nhà văn, mở đầu từ Vũ Nhƣ Tô (1941)
và đến tập kịch ngắn Anh Sơ đầu quân (1949) thì kết thúc. Nguyễn Huy
Tƣởng không chỉ là một tác giả tiêu biểu của sân khấu kịch nói kháng chiến
chống Pháp, mà còn là một kịch tác gia lớn.Góp phần đáng kể vào sự hình
thành của nền kịch nói Việt Nam hiện đại, đem đến cho nó phẩm chất văn học
và tầm vóc chuyên nghiệp.
Nghiên cứu về kịch của Nguyễn Huy Tƣởng phải kể đến những công
trình sau:
1. Hà Minh Đức, Giới thiệu cho kịch của Nguyễn Huy Tưởng,Nxb Văn
học, HN-1963.
2. Phan Cự Đệ, Kịch Nguyễn Huy Tưởng (đăng trong tạp chí Văn học, số
3-1964).
3. Nguyễn Văn Thành, Tìm hiểu kịch Nguyễn Huy Tưởng (đăng trên tạp
chí sân khấu số 1-1984)
4. Tất Thắng, Cuộc tao ngộ giữa kịch và văn (bài trong Hội thảo khoa
học Nguyễn Huy Tưởng, ,một sự nghiệp chưa kết thúc).
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 5
Nhƣ vậy có thể khẳng định, các tác phẩm kịch của Nguyễn Huy Tƣởng
đã đƣợc nghiên cứu ở các góc độ khác nhau.Tuy nhiên hành động hỏi trong
kịch của ông dƣới góc độ ngôn ngữ học thì vẫn chƣa có công trình nào đi sâu
nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích

6. Đóng góp của luận văn
- Về lí luận: làm rõ thêm vai trò của hành động hỏi ở thể loại kịch.
- Về thực tiễn: làm rõ thêm những đóng góp của Nguyễn Huy Tƣởng ở
bình diện ngôn ngữ học thể hiện qua kịch của tác giả.
- Luận văn là tƣ liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh, những ngƣời có
nhu cầu tìm hiểu về Nguyễ Huy Tƣởng và ngôn ngữ kịch của ông.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
Chƣơng 2: Hành động hỏi trực tiếp trong kịch của Nguyễn Huy Tƣởng
Chƣơng 3: Hành động hỏi gián tiếp trong kịch của Nguyễn Huy Tƣởng

S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Lí thuyết về hành động ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm hành động ngôn ngữ
Nói là làm (How to do things with words - Quand dire c’est faire) là
nhan đề một cuốn sách nổi tiếng của J. L. Austin, ngƣời khởi xƣớng ra lí thuyết
hành vi ngôn ngữ (actes de langage), một lý thuyết làm xƣơng sống cho ngữ
dụng học. Vì là một dạng hành động - hành động bằng ngôn ngữ - nên nói năng
cũng chịu những quy tắc chung chi phối hành động nói chung của con ngƣời.
Đặc trƣng của các hành động là ở chỗ hành động phải đƣợc thực hiện theo một
ý định nhất định với công cụ nhất định, nhằm một (hoặc một số) đích nhất định,
đích có khi trực tiếp mà cũng có khi gián tiếp, ngầm ẩn.
Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam dựa trên cơ sở lý thuyết hành vi ngôn

dạng thức cụ thể và một ý nghĩa ít nhiều xác định. Hành động tạo lời là sản
phẩm của một hành động ngữ âm (phonic act) để tạo ra một phát-ngôn-thành-
phẩm (trong chất liệu âm thanh); và một hành động ngữ vựng (phatic act) để
kiến tạo nên một câu cụ thể trong một ngôn ngữ cụ thể.
- Hành động mƣợn lời (perlocutionary act): là những hành động “mượn
phương tiện ngôn ngữ, nói cho đúng là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu
quả ngôn ngữ nào đó ở người nghe,người nhận hoặc ở chính người nói”. Hành
động mƣợn lời nó có tác động xa hơn đến tâm lí, hành vi, thái độ, tình cảm nảy
sinh do ngƣời ta nói.
Ví dụ (1): Bạn A hỏi xin mẹ một trăm nghìn, mẹ bạn không cho luôn mà
hỏi lại bạn A: “một trămnghìn cơ hả con?”. Phát ngôn của mẹ lập tức sẽ khiến
bạn A có những dự đoán về hành động cho tiền của mẹ mình: có thể mẹ sẽ
không cho cả một trăm nghìn; có thể mẹ không cho tiền; có thể mẹ cho một
trăm nghìn. Từ phát ngôn của mẹ khiến bạn A phải có nhiều suy đoán, đây
chính là hiệu quả mƣợn lời của phát ngôn (1).
Hiệu quả mƣợn lời là những hiệu quả ngoài ngôn ngữ (đúng hơn là ngoài
diễn ngôn) và phân tán, không có tính quy ƣớc và khó tìm ra cơ chế chung.
- Hành động ở lời (inlocutionary act): là những hành vi ngƣời nói đƣợc
thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 9
ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng tƣơng ứng với chúng ở ngƣời
nhận. Nói cách khác, đây là hành động mà đích của nó nằm ngay trong việc tạo
nên phát ngôn đƣợc nói ra (hay viết ra). Chính cái đích này phân biệt đƣợc các
hành động ở lời với nhau.
Ví dụ (2): SP1: Em đã học bài cũ chƣa?
SP2: Dạ thƣa cô, em học bài cũ rồi ạ.

Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những
điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với
ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó”. [6, tr 111]
J. L. Austin gọi đó là những điều kiện may mắn, nếu chúng đƣợc đảm
bảo thì hành động mới thành công, đạt hiệu quả.
Searle lại gọi đó là những điều kiện sử dụng hay điều kiện thỏa mãn.
Theo ông, có bốn loại điều kiện sử dụng hành động ở lời sau:
- Điều kiện nội dung mệnh đề: là điều kiện liên quan tới cấu trúc, quan hệ
ngữ nghĩa của nội dung mệnh đề. Điều kiện này chỉ ra nội dung của hành động
ở lời.
- Điều kiện chuẩn bị: Là điều kiện liên quan tới những hiểu biết của
ngƣời thực hiện hành động về lợi ích, trách nhiệm, năng lực vật chất, tinh thần,
cũng nhƣ quyền lực của ngƣời nói đối với ngƣời nghe và đối với hành động ở
lời mà mình đƣa ra.
- Điều kiện tâm lý: đây là điều kiện chỉ ra trạng thái tâm lý của ngƣời
thực hiện hành động ở lời thích hợp với hành động ở lời mà mình đƣa ra.Điều
kiện tâm lý còn có nghĩa là ngƣời nói thực sự, chân thành mong đợi hiệu quả ở
lời của hành động ở lời mà mình thực hiện.
- Điều kiện căn bản: Theo điều kiện này thì ngƣời thực hiện hành động ở
lời (hoặc ngƣời nghe) bị ràng buộc ngay vào kiểu trách nhiệm mà hành động ở
lời tạo ra khi phát ngôn.
Ví dụ (4): Mày cứ giục, mé càng cuống. Để yên mé đang mở đây mà.Mế
lại chả muốn mở ngaycho mày ư? [19, tr 20: đối thoại bà cụ Phƣơng - Phƣơng].
+ Điều kiện nội dung mệnh đề: lời đối thoại trên là hành động hỏi của bà
cụ Phƣơng dành cho Thơm.
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 11
12
Phát ngôn trên của Thơm là câu hỏi dành cho Thái, câu hỏi có sử dụng
đại từ nghi vấn "sao", "phải không?". Thơm ngạc nhiên khi Thái vào nhà Thơm
và tƣởng rằng Thái vào nhà mình là để bắt Ngọc, nên Thơm đã hỏi Thái:
"nhưng sao ông lại vào đây? Ông định bắt Ngọc phải không?". Đáp lại câu hỏi
của Thơm là câu trả lời rất rõ ràng của Thái: "không".Câu hỏi của Thơm và câu
trả lời của Thái đều có đích ở lời, vậy câu hỏi ở ví dụ (5) là câu hỏi thực hiện
hành vi ở lời trực tiếp.
Ví dụ (6): "Biết bao giờ cho cách mạng thành công? Không biết những
hy sinh của quần chúng, của anh, rồi có kết quả gì không?".[19, tr 92: đối thoại
Cửu - Thái]
Đây là câu hỏi của Cửu dành cho Thái. Câu hỏi có sử dụng đại từ nghi
vấn "bao giờ'' và cặp phụ từ nghi vấn "có không", để hỏi về thời gian và kết
quả. Đích ở lời của hành động này là Cửu muốn biết "bao giờ cho cách mạng
thành công?" và những hy sinh của quần chúng, của Thái có kết quả gì không?
Đáp lại câu hỏi của Cửu là lời giải thích trấn an của Thái: " sao lại không có kết
quả? Nếu không chắc thành công thì tranh đấu làm gì? (…) Phải, nhất định
chúng ta thắng, Cửu ạ." .Phát ngôn này cũng thuộc hành vi ở lời trực tiếp.
Ví dụ (7): " Vũ Như Tô, mi không sợ chết sao?" [33, tr 29: đối thoại vua
Lê Tƣơng Dực - Vũ Nhƣ Tô].
Đây là câu hỏi của vua Lê Tƣơng Dực với Vũ Nhƣ Tô. Vua Lê Tƣơng
Dực triệu Vũ Nhƣ Tô vào kinh xây dựng Cửu Trùng Đài, Vũ Nhƣ Tô không vào
Kinh mà bỏ trốn, sau đó Vũ Nhƣ Tô bị lính bắt áp giải vào kinh. Vua Lê Tƣơng
Dực hỏi Vũ Nhƣ Tô một cách thẳng thắn: " Vũ Như Tô, mi không sợ chết sao?"
. Hành động hỏi trên có sử dụng đại từ để hỏi "sao". Trƣớc câu hỏi của vua, Vũ
Nhƣ Tô trả lời rất rõ ràng: "Tâu Hoàng thượng, tiện nhân không sợ chết." Câu
hỏi có đích ở lời, vậy hành động hỏi trên cũng thuộc hành vi ở lời trực tiếp.
Qua những ví dụ đã nêu ở trên, có thể khẳng định rằng hành động ở lời

giao tiếp sử dụng hành động ở lời này nhƣng lại nhằm đạt đích của hành động ở
lơi khác.
Ví dụ (8): " Tôi biết: ông ấy giỏi, ông ấy đánh trận giỏi, ông giấu tôi thế
nào được? [19, tr 85: đối thoại Cửu - Thơm]
Phát ngôn trên của Thơm có hình thức là một câu hỏi nhƣng thuộc loại
hành động không chân thực: hỏi nhằm mục đích khẳng định: lâu rồi Thơm
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 14
chƣa nghe ngóng đƣợc tình hình gì về ông đầu to to, Thơm muốn biết nhƣng
Cửu luôn nghi ngờ lòng trung thành của Thơm với cách mạng (chồng Thơm là
Việt gian), khi Thơm khen ông đầu to to giỏi thì Cửu giấu giếm và nói: "anh ấy
thì giỏi gì?" Thơm biết Cửu không tin mình. Thơm đã khẳng định với cửu rằng:
"Tôi biết: ông ấy giỏi, ông ấy đánh trận giỏi, ông giấu tôi thế nào được?"
Câu hỏi của Thơm còn nhằm mục đích đánh giá, nhận xét về lòng tin của
Cửu dành cho mình, Thơm biết Cửu không tin cô vì chồng cô là kẻ chỉ điểm,
kẻ phản lại Cách mạng.
Câu hỏi của Thơm bộc lộ nỗi buồn man mác mà Thơm không biết nói
với ai, cô bị mất lòng tin ở mọi ngƣời vì chồng cô là Việt gian. Trong lòng
Thơm luôn ẩn chứa những nỗi buồn.
Nhƣ vậy, ở những trƣờng hợp trên, khẳng định, đánh giá, nhận xét, bộc lộ
là những hành động gián tiếp đƣợc thực hiện bằng câu có hình thức của câu hỏi.
Đúng nhƣ các nhà nghiên cứu đã quan niệm: Hành động ở lời gián tiếp là
" hành động được thực hiện thông qua sự thực hiện một hành vi ở lời khác."
1.1.3.2.2. Điều kiện sử dụng các hành động ở lời gián tiếp
Đỗ Hữu Châu đã đƣa ra một số điều kiện tổng quát sau:
1.Hành động ngôn ngữ gián tiếp lệ thuộc rất mạnh vào ngữ cảnh:
Ví dụ (9): Chết chửa! Ở nhà cả à?Sao khéo bảo nhau thế? Ở nhà được thì

hỏi: "Tại sao em không học bài?" thay vì câu hỏi: "Em lƣời học bài quá Xuân
Hà à?'' Câu hỏi thứ nhất gần với câu hỏi thông thƣờng hơn là câu hỏi thứ hai. Ở
câu hỏi thứ hai, ngƣời bị hỏi "Xuân Hà" là ngữ nghĩa của thành phần mệnh đề
(chủ từ) của câu hỏi nên hiệu lực trách móc gián tiếp của câu hỏi rõ hơn.
3. Muốn nhận biết hành động ở lời gián tiếp, trƣớc hết phải nhận biết
phát ngôn nghe đƣợc, đọc đƣợc qua biểu thức ngữ vi cốt lõi cho nó, do hành
động ở lời trực tiếp nào tạo ra.
Một phát ngôn trực tiếp có thể thể hiện một số hành động gián tiếp. Nói
nhƣ Nguyễn Thiện Giáp: "cùng một phát ngôn có thể tiềm tàng nhiều hành
động ngoài lời".
Ví dụ (10): Bắt những người ấy thì có tội chứ không phải chơi đâu.
Người ta bỏ cả nhà đi làm cách mạng, có thù hằn gì với ai, chả giúp thì thôi,
S
ố hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn 16
cứ mặc kệ người ta với Tây, việc gì lại đi bắt người ta? [19, tr 74: đối thoại
Ngọc - Thơm].
Căn cứ vào phƣơng tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời "gì", ta có thể xác định
phát ngôn trên đây của Thơm do hành động ở lời trực tiếp tạo ra.
Hành động ở lời trực tiếp này đƣợc dùng để thực hiện một số hành động
khác nhƣ: khẳng định: Thơm khẳng định với Ngọc, bắt những ngƣời làm cách
mạng nhƣ ông Thái là có tội chứ không phải chơi đâu. Những ngƣời nhƣ ông
Thái là những ngƣời bỏ cả cửa nhà đi làm cách mạng, có thù hằn gì với ai, chả
giúp thì thôi, cứ mặc kệ họ với Tây, việc gì mà phải bắt những ngƣời làm cách
mạng; Bộc lộ thái độ không hài lòng với Ngọc về hành động Ngọc đi bắt những
ngƣời làm cách mạng cho Tây. Bên cạnh đó, còn thể hiện đƣợc tình thƣơng và
sự bênh vực của Thơm dành cho những ngƣời làm cách mạng; Thơm trách
Ngọc về việc Ngọc đi bắt những ngƣời làm cách mạng : "Bắt những người ấy

+ Dựa vào các thao tác suy ý
Suy ý là hành động của trí não, nhằm vận dụng sự hiểu biết để xem xét,
đánh giá tính đúng sai, hợp lí hay không hợp lí, khách quan - không khách quan
của một vấn đề nào đó.
Để nhận diện loại nghĩa không tƣờng minh, ngƣời ta thƣờng xuyên phải
vận dụng thao tác suy ý để phát hiện ra nghĩa hàm ngôn không đƣợc biểu thị ra
bằng câu chữ.
Ví dụ (11): Nam tới vay tiền Tuấn, vì Nam vay quá nhiều lần và không
trả,nên lần này sự xuất hiện của Nam kèm theo lời vay tiền khiến Tuấn bực tức
không thể chịu đƣợc và phát ngôn: " Thóc đâu mà đãi gà rừng?"
Bằng sự hiểu biết thực tế, và bằng sự suy ý, Nam nghe bạn nói xong thì
sẽ nhận ra rằng: Thóc tức là tiền, gà rừng tức là mình. Từ đó Nam suy ra: hành
động hỏi của Tuấn chỉ là hình thức. Tuấn dùng hình thức của câu hỏi để nhằm
khẳng định rằng: tôi không thừa tiền để cho anh vay.
+ Dựa vào các ƣớc định xã hội (lẽ thƣờng - topos)
Mỗi dân tộc thƣờng có những ƣớc định, những điều đƣợc coi là lẽ
thƣờng, là hiển nhiên, đƣợc cộng đồng chấp nhận, nên không cần bình luận,
bàn cãi đúng sai. Với ngƣời Việt, hình thức chào - hỏi đƣợc coi là một ƣớc

Trích đoạn Hỏi trách Hỏi than Hỏ i khuyên Hỏ i đánh giá, nhận xét (bình luận) Đặc điểm hình thức của hànhđộng hỏi đƣợc sử dụng để biểu thị các
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status