BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
PHAN ĐÌNH DŨNG
CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG KỊCH
NÓI NGUYỄN HUY TƯỞNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 5-04-33
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :PGS. TS. TRẦN HỮU TÁ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
~ 2003 ~
PHẦN MỞ ĐẦU1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nếu tính từ năm 1941, năm nhà văn Nguyễn Huy Tưởng(1912 – 1960) bắt đầu có
sáng tác được in, cho đến năm 1960, năm ông qua đời, thì tác giả Vũ Như Tô đã cầm bút
trọn vẹn hai mươi năm ròng. Hai mươi năm cần cù, bền bỉ sáng tạo, nhà văn đã để lại một
sáng tác của nhà văn. Đó là tiểu luận “Nguyễn Huy Tưởng nhà văn trưởng thành dưới chế độ
mới” của nhà nghiên cứu Hà Minh Đức(đăng trong Nghiên cứu văn học, tháng 10-1960). Là
một trong hai nhà nghiên cứu(người thứ hai là Phong Lê) có quá trình tìm hiểu, khám phá
nghiêm túc, công phu về con người và sự nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng, Hà Minh Đức đã
công bố một loạt bài viết, công trình [6, 8, 9, 10] về sáng tác của tác giả Sống mãi với thủ đô
trong vòng 24 năm từ 1960 (bài đã dẫn) đến 1984. Hai công trình tiêu biểu của nhà nghiên
cứu về toàn bộ sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng là: 1) Nguyễn Huy Tưởng(1912 – 1960),
Nxb Văn học, 1966(viết chung với Phan Cự Đệ), 2) Tuyển tập Nguyễn Huy Tưởng(Lời giới
thiệu), Nxb Văn học, 1984 (đã đưa vào trong Khảo luận văn chương, in lần thứ hai, Nxb
KHXH, 1998).
Trong công trình 1), các tác giả đã “tự xác đònh và giới hạn cho mình nhiệm vụ bước
đầu đánh giá một cách tổng hợp những sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng”[ 8: 5]. Mở đầu
chương II -Tiểu thuyết và kòch lòch sử của Nguyễn Huy Tưởng trước Cách mạng tháng Tám -
hai tác giả chuyên luận nhận xét: “Trong số các tác giả(trước Cách mạng tháng Tám),
Nguyễn Huy Tưởng là người có thế giới quan tiến bộ nhất và đã cố gắng khai thác đề tài lòch
sử một cách nghiêm túc và sáng tạo”( NVLV nhấn mạnh). Kết thúc chuyên luận, hai ông đã
nhạân đònh về “một đặc điểm trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng”: “Kết hợp
chặt chẽ tính lòch sử và tính thời sự là một đặc điểm trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn
Huy Tưởng thể hiện ở quan điểm nhận thức, biện pháp thể hiện và nội dung hiện tượng được
phản ánh”[8:234 ].
Mười tám năm sau, viết lời giới thiệu cho Tuyển tập Nguyễn Huy Tưởng(Sđd), Hà
Minh Đức đã có ý thức khắc phục một số nhận xét, đánh giá chưa thật phù hợp của mình
xoay quanh con người và sáng tác Nguyễn Huy Tưởng. Khái niệm cảm hứng, cảm hứng lòch
sử nhiều lần xuất hiện trên những trang viết của nhà nghiên cứu [ 10 : 60, 68, 70, 71, 73,
86…]. Có điều ông không quan niệm đó là cảm hứng chủ đạo mà cho đó chỉ là một trong
những yếu tố thuộc về chất sử thi trong sáng tác Nguyễn Huy Tưởng. Tác giả viết: “Cảm
hứng lòch sử sâu sắc, vai trò lớn lao của nhân dân trong không gian và thời gian, chủ nghóa
yêu nước anh hùng thấm đượm trong suy nghó, tình cảm, hành động của các nhân vật và
những bức tranh sinh động, tất cả đã góp phần tạo nên chất sử thi trong tác phẩm của Nguyễn
Huy Tưởng”[ 10: 86-87].
Phong Lê còn gián tiếp khẳng đònh cảm hứng lòch sử như là cảm hứng chủ đạo trong toàn bộ
sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng. Ông cho rằng “có một đường dây gắn nối từ Vũ Như Tô
đến Sống mãi với thủ đô…không phải chỉ do đề tài miêu tả…Mà còn là một cảm hứng sáng
tạo gần như gắn nối và xuyên suốt : trầm hùng và bi tráng”[ 28:358]. Những nhận đònh tinh
tế này có thể gợi ý cho NVLV một số vấn đề về cách tiếp cận lòch sử, cách miêu tả số phận
con người trong lòch sử của Nguyễn Huy Tưởng.
Nguyễn Huy Tưởng thành danh không chỉ với kòch, song đúng như nhà nghiên cứu Hà
Minh Đức đã nhận đònh, “trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Tưởng, những tác phẩm
kòch chiếm một vò trí quan trọng”[9:375]. Cũng theo ông, “…vào những năm trước và sau
Cách mạng, Nguyễn Huy Tưởng đã có công thúc đẩy và xây dựng nền kòch nói của nước nhà
phát triển trên một chặng đường mới”[9:375]. Chặng đường sáng tác kòch của nhà văn mở
đầu từ Vũ Như Tô(1941) và đến tập kòch ngắn Anh Sơ đầu quân(1949) thì kết thúc.Theo
nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn không chỉ là “một tác giả tiêu biểu của sân khấu kòch nói
kháng chiến chống Pháp[Nguyễn Văn Thành, 72: 397] mà còn là một kòch tác gia lớn “góp
phần đáng kể vào sự hình thành của nền kòch nói Việt Nam hiện đại, đem đến cho nó phẩm
chất văn học và tầm vóc chuyên nghiệp”[Tất Thắng, 72 : 403].
2.2. Lòch sử vấn đề nghiên cứu kòch nói Nguyễn Huy Tưởng
So với quá trình nghiên cứu Nguyễn Huy Tưởng nói chung, quá trình tìm hiểu, khám
phá kòch nói của nhà văn, một mặt, diễn ra sôi nổi và không kém phần sâu sắc, mặt khác,
lại phải trải qua những ngắt quãng khá dài về thời gian. Những năm 40, nhìn chung, kòch nói
của ông – chủ yếu là Bắc Sơn và Những người ở lại – đã được đón nhận những luồng phê
bình khen chê khá là trái ngược nhau. “Con yêu” là Bắc Sơn nên vở kòch này phần lớn được
người ta vồ vập, săn đón và không tiếc lời ngợi ca. Những người ở lại của cùng tác giả, chỉ
ra đời có sau vài năm, lại phải rơi vào sự ghẻ lạnh của số phận “con ghét” bởi một trong
những lí do, mà đến nay nhiều nhà nghiên cứu đã nhận ra, là dường như nó “sinh bất phùng
thời”. Mãi đến năm 1963, ba năm sau ngày nhà văn, nhà viết kòch Nguyễn Huy Tưởng qua
đời và mười bốn năm tính từ tập kòch ngắn cuối cùng của ông, mới có bài viết đầu tiên trực
diện nghiên cứu về bốn vở kòch chọn lọc(Vũ Như Tô, Cột đồng Mã Viện, Bắc Sơn, Những
người ở lại) của Hà Minh Đức(giới thiệu cho Kòch Nguyễn Huy Tưởng, Nxb Văn học, HN-
1963). Năm sau có bài về Kòch Nguyễn Huy Tưởng của nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ (đăng
người ở lại, nhà biên kòch đã “tiếp tục những thử nghiệm, tìm tòi” về “việc đem vào đời sống
sân khấu kòch nói kháng chiến xu hướng kết hợp yếu tố tâm lí với yếu tố sử thi, anh hùng ca
nhằm mở rộng dung lượng phản ánh của kòch nói trong việc đi vào thể hiện đề tài xã hội
chính trò”
[ 72:396] .
Bổ sung nhận xét của Hà Minh Đức và Nguyễn Văn Thành, nhà nghiên cứu sân khấu
Tất Thắng(bđd) đã đặt vấn đề về cuộc tao ngộ giữa kòch và văn ở Nguyễn Huy Tưởng, người
mà theo ông “giới sân khấu chưa bao giờ coi… là tác giả kòch, là nhà viết kòch thực
thụ”[72:399] song, vẫn theo ông, lại là người có công lớn đối với sân khấu Việt Nam hiện
đại, thậm chí là người đem đến cho nó phẩm chất văn học và tầm vóc chuyên
nghiệp![72:403]. Đánh giá, nhận xét về phẩm chất, tầm cỡ của những kòch bản văn học của
nhà văn, nhà viết kòch , Tất Thắng đã nêu một đặc điểm: bi kòch. Theo nhà nghiên cứu, “tính
bi kòch là đặc điểm nổi bật nhất, rõ rệt nhất và đặc sắc nhất trong kòch Nguyễn Huy
Tưởng”[72:403]. Những vở kòch tiêu biểu của Nguyễn Huy Tưởng nói riêng và toàn bộ kòch
bản của nhà văn nói chung có thuần là bi kòch hay không, ý kiến các nhà nghiên cứu hiện
nay hãy còn phân tán. Có điều nghiên cứu kòch bản văn học nên dựa vào đặc trưng thể loại
(bên cạnh những căn cứ khác) là một phương hướng tiếp cận đúng đắn.
Nhìn chung, các bài viết, công trình nghiên cứu, đánh giá khái quát về kòch Nguyễn
Huy Tưởng vừa nêu trên tuỳ mức độ, góc nhìn, đã gợi mở nhiều hướng đi, luận điểm có ý
nghóa khoa học đối với mục đích nghiên cứu của luận văn. Tuy nhiên, cho đến thời điểm
này, vẫn chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu một cách trực diện, có hệ thống
vấn đề cảm hứng lòch sử trong kòch nói Nguyễn Huy Tưởng.
Có lẽ, điều mà các nhà nghiên cứu xưa nay tâm đắc hơn cả là tìm cách lí giải tư tưởng
– nghệ thuật đích thực của Vũ Như Tô, “một tác phẩm lớn của văn học nước nhà”[1:39].
Sáng tạo kích thích sáng tạo, một loạt các nhà nghiên cứu có tên tuổi từ các lónh vực rất đỗi
xa nhau(Hà Minh Đức, Phan Cự Đêä, Phong Lê, Văn Tâm, Đỗ Đức Hiểu, Phan Trọng
Thưởng, Phạm Vónh Cư…) đều hăng hái nhập cuộc tạo ra một cuộc đối thoại thú vò, giàu sức
gợi mở về kòch bản đặc sắc này. Những ý kiến xoay quanh “hai vấn đề mấu chốt của tác
phẩm: hình tượng nhân vật chính Vũ Như Tô và tính chất của mâu thuẫn kòch”[Phạm Vónh
Cư, 1: 39] gợi ra nhiều con đường, cách thức tiếp cận khác nhau qua hai thời kì trước và sau
Huy Tưởng toàn tập, tập I, do Nguyễn Huy Thắng- Nguyễn Thò Hạnh sưu tầm, biên soạn,
Nxb Văn học , HN-1996. Đó là 8 vở sau: Vũ Như Tô, Cột đồng Mã Viện, Bắc Sơn, Vết cũ,
Những người ở lại, Tờ báo, Người vợ, Anh Sơ đầu quân[13]. Những văn bản khác, mặc dù
được xếp vào kòch song lại là nhạc kòch(Đã đứng lên tất cả), hoạt cảnh(Khiêng thuyền), kòch
bản phim(Luỹ hoa), kòch thiếu nhi(Một ngày hè) không nằm trong diện khảo sát của người
viết. Do điều kiện tư liệu hạn chế, người viết sẽ không đưa vào diện tìm hiểu, nghiên cứu
một số vở kòch nói cũng của nhà văn nhưng nằm ngoài toàn tập Nguyễn Huy Tưởng.
Bên cạnh những văn bản thoại kòch đã nêu ở trên, nhằm đạt được mục đích khoa học,
chúng tôi cũng liên hệ tìm hiểu thêm những trước tác thuộc các thể loại khác của tác giả
Bắc Sơn như truyẹân(An Tư, Đêm hội Long Trì, Sống mãi với thủ đô), nhật kí(chủ yếu trong
toàn tập, tập V), tiểu luận(cũng trong tậpV)…
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng quát của luận văn là phương pháp luận duy vật biện chứng và duy
vật lòch sử. Luận văn nghiên cứu cảm hứng lòch sử trong kòch nói Nguyễn Huy Tưởng, vấn
đề này thể hiện trong thoại kòch qua những yếu tố gắn liền đặc trưng kòch bản văn học, do
vậy, phương pháp phân tích – tổng hợp sẽ được sử dụng để phân tích, chứng minh, lí giải hai
yếu tố này trong từng vở kòch chọn lọc làm cơ sở đi đến những nhận đònh tổng hợp, khái quát
về một số đặc điểm chủ yếu của kòch nói Nguyễn Huy Tưởng.
Thoại kòch Nguyễn Huy Tưởng tồn tại như một hệ thống nhỏ trong nhiều hệ thống
tương quan: hệ thống văn xuôi nghệ thuật của nhà văn, hệ thống kòch nói Việt Nam hiện
đại. Vì thế, NVLV cũng dùng phương pháp cấu trúc – hệ thống để làm sáng tỏ vấn đề cảm
hứng lòch sử trong kòch bản văn học của tác giả Những người ở lại.
Bản thân đề tài luận văn là một dạng kết hợp giữa văn học sử và lí luận văn học, do
vậy, khi tìm hiểu, khám phá cảm hứng lòch sử trong kòch Nguyễn Huy Tưởng, người viết
phải kết hợp giữa phân tích và miêu tả, giữa miêu tả và giải thích dựa vào những biểu hiện
cụ thể của hoàn cảnh xã hội - lòch sử trong từng thời điểm, giai đoạn nhất đònh tương ứng với
kòch bản lòch sử. Phương pháp miêu tả - lòch sử sẽ được vận dụng ở đây.
5. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục, phần nội dung luận văn bao gồm ba
chương:
của đề tài luận văn cũng rất gắn bó với sáng tạo văn học song lại là kết quả của sáng tạo ấy.
Nói cách khác, nó là cảm hứng chủ đạo, một bộ phận, một yếu tố thuộc về tư tưởng tác
phẩm nên có khi còn được gọi là cảm hứng tư tưởng.
Cảm hứng tư tưởng, theo Trần Đình Sử, là một phương diện chủ quan thuộc về nội
dung tư tưởng tác phẩm, vì thế, muốn tìm hiểu hàm nghóa của nó trước tiên cần nắm thế nào
là tư tưởng và tư tưởng tác phẩm? Trong Bút kí triết học, Lênin đã từng đònh nghóa một cách
ngắn gọn mà đầy đủ: “Tư tưởng – đó là nhận thức và khát vọng(mong muốn) (của con
người)”[Dẫn theo 41: 44]. Đònh nghóa này đã chỉ ra bản thân nội hàm của tư tưởng có chứa
đựng sự tổng hoà giữa lí trí và tình cảm. Tư tưởng trong tác phẩm văn học cũng bao gồm hai
mặt đó, do vậy, có nhà lí luận đã dùng khái niệm tư tưởng – cảm xúc để đònh danh nó. Cụ
thể, ông khẳng đònh: “Tư tưởng của tác phẩm văn học là sự thống nhất tất cả các mặt nội
dung của nó như hệ đề tài, hệ vấn đề và sự đánh giá tư tưởng – cảm xúc đối với cuộc sống, đó
là tư tưởng khái quát, tư tưởng bằng hình tượng, bằng cảm xúc của nhà văn, tư tưởng đó được
thể hiện cả ở sự lựa chọn, cả ở sự lí giải và cả ở sự đánh giá các tính cách”[ 40: 124]. Là hạt
nhân tạo ra sự thống nhất cho chỉnh thể nghệ thuật, do vậy, có thể thấy tư tưởng đóng vai trò
quan trọng nhất trong tất cả những yếu tố tạo thành tác phẩm văn học, là linh hồn của tác
phẩm văn học như nhà văn Kôrôlencô từng nói. Nó “bao gồm khuynh hướng triết học, chính
trò, đạo đức, thẩm mó, khuynh hướng nhận thức và đánh giá; chiều hướng tình cảm thể hiện
trong tác phẩm….Nó có liên quan chặt chẽ với quan niệm về thế giới, quan niệm về nhân sinh,
với tình cảm, nhân cách, thái độ của nhà văn trước những vấn đề của xã hội như chiến tranh,
cách mạng, hoà bình; những vấn đề của con người như tình yêu, hạnh phúc, đức tin tôn giáo,
cái chết… ”[11:207] .
Với tư cách là một trong những yếu tố chính hợp thành tư tưởng của tác phẩm, cảm
hứng chủ đạo- theo Huỳnh Như Phương – đã được Hêgel xem như là trung tâm điểm, là
vng quốc thật sự của nghệ thuật, nhân tố của mối tác động hữu cơ giữa chủ thể sáng tạo
và chủ thể tiếp nhận nghệ thuật còn Biêlinski thì yêu cầu phải nghiên cứu cảm hứng chủ
đạo của nhà văn trong tác phẩm nếu muốn tìm hiểu đặc điểm sáng tác của ông ta:”Công
việc đầu tiên, nhiệm vụ đầu tiên của người phê bình là phải giải đoán cảm hứng chủ đạo của
tác phẩm”.[Dẫn theo 11:209]
Lí giải về cảm hứng chủ đạo(Huỳnh Như Phương, sđd), cảm hứng tư tưởng(Trần Đình
gian, thời gian, tính cách nhân vật, vào xung đột và cốt truyện, vào ngôn từ và giọng
điệu…”[11: 210]. Từ đó, tác giả Dẫn vào tác phẩm văn chương nhấn mạnh muốn “tìm hiểu
cảm hứng chủ đạo không phải chỉ căn cứ trên một bộ phận, một thành tố nào, mà phải căn cứ
trên toàn bộ lô gích nghệ thuật của tác phẩm”[11: 210].
Cảm hứng chủ đạo không chỉ toát ra từ tác phẩm mà còn xuyên suốt toàn bộ sáng tác
của một tác giả, thấm sâu vào từng thể loại mà tác giả ấy sử dụng. Nhận đònh về bài thơ
Tùng của Nguyễn Trãi, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã dưa ra một ý kiến có tính khái
quát: “Tùng trước hết là một nhiệt tình tự khẳng đònh phẩm giá, tài năng, công lao của người
anh hùng kinh bang tế thế”[41: 49]. Chúng ta hiểu nhà nghiên cứu đang nêu cảm hứng chủ
đạo tác phẩm này. Khái niệm cảm hứng chủ đạo còn được vận dụng để đánh giá khái quát
về toàn bộ sự nghiệp sáng tác của một nhà văn, nó làcảm hứng tư tưởng sáng tạo của nhà
văn[E.G.Rneva, 40: 141]. Biêlinski đã dùng khái niệm cảm hứng ấy để phân tích tác
phẩm của một số nhà văn Nga thế kỉ XIX, chẳng hạn như “mặt trời thơ ca Nga”: Puskin.
Theo ông thì “trung tâm cảm hứng của Puskin là ở sự tôn trọng vô cùng danh dự, phẩm giá
của con người với tư cách là con người”[dẫn theo 11: 209].
Cảm hứng của tác phẩm và cảm hứng sáng tạo của tác giả hết sức gắn bó với nhau.
Những sáng tạo xuất sắc của một nhà văn thường kết tinh cảm hứng chủ đạo xuyên thấm
toàn bộ tác phẩm của nhà văn ấy. Các nhà nghiên cứu về Truyện Kiều trong và ngoài nước
ngày càng nhất trí với nhau rằng tư tưởng nhân đạo chủ nghóa chính là cảm hứng chủ đạo
trong kiệt tác này của Nguyễn Du. Và đó cũng chính là cảm hứng tư tưởng của toàn bộ
những sáng tạo văn chương của nhà thơ thiên tài dân tộc, góp phần khẳng đònh ông với tư
cách là một nhà tư tưởng nhân đạo chủ nghóa lớn. Mặt khác, cảm hứng sáng tạo của một tác
giả, đặc biệt là tác giả tiêu biểu cho một giai đoạn văn học nhất đònh, cũng lại thống nhất,
hài hoà với cảm hứng của thời đại tác giả sống và sáng tạo. Bởi vì, nói như Hêgel, cảm hứng
chủ đạo là tinh thần thời đại xuất hiện trong một cá nhân[dẫn theo 41: 53]. Do vậy, một số
các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đã sử dụng khái niệm cảm hứng chủ đạo như là một
tiêu chí quan trọng(bên cạnh những tiêu chí khác) để phân kì giai đoạn văn học Việt Nam.
Phát biểu tại Hội thảo bàn về phân kì lòch sử văn học Việt Nam tại thành phố Hồ Chí
Minh(ngày 2-8-2001), nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá đã “đồng ý với GS. Nguyễn Lộc là thời kì
văn học Trung đại nên chia ra làm bốn giai đoạn: giai đoạn đầu từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ thứ
9-1932 của ông có viết:”Tôi lắm khi băn khoăn không biết có nên làm sách mà tư tưởng quốc
gia là cốt yếu không?”[18:299]. Những tác phẩm xuất hiện từ sau Cách mạng trở đi của nhà
văn đều in đậm dấu ấn của cảm hứng sử thi vốn là một khuynh hướng chủ yếu của nền văn
học cách mạng 1945-1975. Như vậy sự khác nhau giữa cảm hứng lòch sử và cảm hứng sử thi
trong văn xuôi nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng là sự khác nhau giữa một bên là cảm
hứng sáng tác của nhà văn, một bên là cảm hứng của cả giai đoạn văn học cách mạng. Để
thấy rõ nội hàm khái niệm sử thi, chúng ta có thể tham khảo một đoạn giới thuyết của nhà
nghiên cứu Trần Đình Sử:”Khái nòêm sử thi hoá ở đây không phải là khái niệm thể loại mà là
khái niệm loại hình nội dung thể loại hay đúng hơn là loại hình văn học.Khi M. Bakhtin đem
đối lập sử thi với tiểu thuyết là ông đối lập hai loại hình văn học. Do đó khái niệm sử thi ở
đây không hề đồng nhất với sử thi cổ đại với tính chất tự sự khách quan, dung lượng lớn, kể
hết mọi biểu hiện phong phú của đời sống như bách khoa thư. Sử thi ở đây hiểu là khuynh
hướng ưu tiên cho chủ đề dân tộc, mâu thuẫn đòch ta, xây dựng những con người tiêu biểu cho
ý chí, phẩm chất cao đẹp của dân tộc”[65:10 ]. Chỉ xét riêng kòch nói Nguyễn Huy Tưởng,
chúng ta thấy những khía cạnh nội dung trên(NVLV gạch chân) rất khó áp dụng cho kòch
bản Vũ Như Tô – một vở kòch tiêu biểu của nhà văn kiêm kòch tác gia này.
Phân tích, lí giải sáng tác Nguyễn Huy Tưởng, một số nhà nghiên cứu hay dùng các
khái niệm cảm hứng khác nhau như cảm hứng lòch sử, cảm hứng yêu nước, cảm hứng dân tộc,
cảm hứng bi kòch, cảm hứng lãng mạn…tuỳ thuộc vào từng phạm vi, góc độ mà họ quan tâm.
Người viết nghó rằng chúng có thể là những biến thể khác nhau của cảm hứng lòch sử vốn là
cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm của nhà văn. Các nhà lí luận quan niệm những biến thể
của cảm hứng chủ đạo có đặc trưng riêng của chúng đồng thời chúng có liên quan với nhau,
cùng tồn tại và tác động hỗ tương, chuyển hoá lẫn nhau; ở từng tác phẩm cụ thể, một cảm
hứng này có thể trở thành một phương diện của cảm hứng kia[40:141-144]. Do vậy, đi vào
tìm hiểu, khám phá đề tài cảm hứng lòch sử trong kòch nói Nguyễn Huy Tưởng cần khảo sát tỉ
mỉ cảm hứng chủ đạo trong những biến thể ấy.
Không còn nghi ngờ gì nữa, vấn đề cảm hứng lòch sử trong toàn bộ văn xuôi nghệ
thuật nói chung, kòch bản văn học nói riêng của Nguyễn Huy Tưởng đã là một tồn tại thực.
Phần lòch sử vấn đề cho ta một vài điều gợi mở hữu ích. Một số nhà phê bình, nghiên cứu đã
mạnh dạn đặt ra và bước đầu thử lí giải vấn đề này. Một số tác giả khác tuy không “đònh
yêu q non sông phơi phới, trong lúc thán phục các vò anh hùng, muốn nêu các vò vào khúc
anh hùng ca để truyền về hậu thế, cho muôn nghìn đời sau soi vào”(ngày 12-10-
1933)[18:301] Mơ ước trở thành nhà biên kòch thực sự đã lôi kéo ông tìm đọc, nghiền
ngẫm Corneille, Racine – những tác gia bi kòch lòch sử của văn học cổ điển Pháp thế kỉ
XVII, những người đã sáng tạo ra những bi kòch lòch sử đặc sắc như Le Cid, Andromaque.
Ông biết q và ghét các vai kòch và cách miêu tả của hai nhà viết kòch này một cách có lí
lẽ, kết quả của sự đọc và ngẫm nghó nhiều: “Tôi q Corneille vì các vai chủ động trong
những tấn kòch của ông đều là những người có nghò lực. Tôi q Racine vì cái cách tả tình của
ông rất sâu sắc. Tôi ghét Corneille vì ông tả toàn bộ một lối văn. Tôi ghét Racine vì vai chủ
động của ông không có nghò lực mà chống lại với dục tình”(ngày 16-4-1932)[18:298-299].
Những suy cảm của ông về kòch của hai tác giả này có thật sự thoả đáng không, điều đó còn
phải bàn thêm, tuy nhiên, những quan niệm về kòch, về con người trong kòch rồi sẽ chi phối
không nhỏ đến cách thức biên kòch, đến đặc trưng kòch nói Nguyễn Huy Tưởng.
1.2. VỀ ĐẶC TRƯNG KỊCH BẢN VĂN HỌC
Dưới cái nhìn của lí luận văn học, thuật ngữ kòch xét theo cấp độ loại hình là một
trong ba phương thức biểu hiện của văn học nghệ thuật(tự sự, trữ tình và kòch). Kòch vừa
thuộc nghệ thuật sân khấu – một loại nghệ thuật mang tính chất tổng hợp bao gồm nhiều
hoạt động của đạo diễn, diễn viên, đạo cụ, hoá trang, ánh sáng, trang trí v.v.trong đó kòch
bản chỉ là một thành tố – vừa thuộc nghệ thuật ngôn từ với một thành tố duy nhất là kòch bản
văn học. Hai loại hình nghệ thuật này có liên quan chặt chẽ như hình với bóng nên có nhà
nghiên cứu quan niệm rằng chỉ khi nào được biểu diễn thì văn bản kòch mới trở thành tác
phẩm hoàn chỉnh. Có điều thực tế sáng tác và biểu diễn kòch hết sức đa dạng muôn màu
muôn vẻ. Có những vở kòch sớm sống trọn vòng đời trên trang giấy và dưới ánh đèn sân
khấu. Có những vở phải nằm dài trên trang giấy mỏi mắt chờ đợi lọt vào mắt xanh đạo diễn
sân khấu như nàng công chúa ngủ trong rừng…Kòch bản Vũ Như Tô của nhà văn Nguyễn
Huy Tưởng từ lúc viết xong(sớm nhất là 1941) cho đến khi được ra mắt sân khấu lần đầu(
năm 1995) phải mất năm tư năm ròng!
Nói như vậy để thấy một điều là tiềm năng sân khấu của một vở kòch cụ thể không
phải bao giờ cũng được nhận diện một cách sớm sủa, dễ dàng. Ngay cả một số vở kòch được
mệnh danh là kòch chỉ để đọc(Lesedrama), theo V.E. Khalizep, “cũng tiềm tàng tính sân
1
Cụ thể là các văn bản sau(theo thứ tự tên tác giả ở trên): Nghệ thuật viết kòch, Nxb Văn hoá, HN-1973; Lí luận văn học tập
II, chương XIX, Nxb GD – 1987, từ tr. 244 đến tr. 272; Văn học 11, tập II, SGV, Nxb GD – 1991, 100- 104; Năm bài giảng về
thể loại, Nxb GD – 1999, 25 -39; Đổi mới đọc và bình văn, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội – 1999, 9- 78; Chuyên đề Lí thuyết kòch
nói hiện đại Việt Nam, bản chép tay, đánh số từ 1 đến 13; Cảm thụ và giảng dạy văn học nước ngoài, Nxb GD – 2002, 43-66;
Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nxb GD – 1998, 299- 322.
Trong luận văn này, người viết chủ yếu dùng các khái niệm có nghóa đồng nhất như
kòch bản hay kòch bản văn học, kòch bản kòch nói, kòch bản thoại kòch (tức là dùng theo nghóa
thứ hai) để chỉ chung cho một đối tượng là tác phẩm văn học kòch.
Khác với phân tích truyện ngắn và tiểu thuyết, nội dung tư tưởng của tác phẩm kòch
phải được phân tích gắn liền với kết cấu các hồi, các cảnh, với không gian và thời gian đặc
thù, với tính chất lời thoại của các nhân vật, với hành động và xung đột kòch, với các chỉ dẫn
sân khấu…Tìm hiểu một số khái niệm có tính chất công cụ để thâm nhập, khám phá kòch bản
văn học như hồi, lớp, cảnh, những chỉ dẫn sân khấu, hành động và xung đột kòch, không gian,
thời gian, ngôn ngữ kòch.v.v luôn luôn là việc cần làm trước tiên.
Tác phẩm kòch thường được chia thành các hồi, mỗi hồi bao gồm hai hay nhiều lớp,
mỗi lớp có thể chia ra nhiều cảnh. Hồi là “những phần được chia ra trong một vở kòch, về
hình thức sân khấu, được đánh dấu bằng việc hạ màn để khán giả giải lao và để trang trí; về
nội dung, là thể hiện xong một bước ngoặt lớn của vở kòch”[45:102]. Mỗi hồi tách biệt nhau
nhờ có mở màn và hạ màn nên hồi còn gọi là màn, dù rằng theo phong cách dàn dựng hiện
đại, nhiều khi nhà đạo diễn tước bỏ hình thức này đi. Qui phạm của kòch cổ điển là mỗi vở
kòch phải được xây dựng thành năm hồi. Kòch nói hiện đại của Nguyễn Huy Tưởng, gồm
kòch dài và kòch ngắn, số lượng hồi của từng vở rất linh hoạt. Kòch dài có vở năm hồi(Vũ
Như Tô, Bắc Sơn), có vở ba hồi(Cột đồng Mã Viện, Những người ở lại). Kòch ngắn vở thì
một hồi(Vết cũ, Tờ báo, Người vợ), vở lại hai hồi(Anh Sơ đầu quân)…
Mỗi hồi thường chia thành các lớp. Đó là “một bộ phận của hồi kòch mà thành phần
nhân vật trên sân khấu không thay đổi. Khi thành phần nhân vật thay đổi thì kòch chuyển sang
lớp khác. Mỗi lớp thể hiện một diễn biến của hành động kòch”[45:130]. Nếu như hồi còn gần
ngoài sân khấu(bàng thoại)…Lời nói của nhân vật trong Kòch giàu tính hành động hơn trong
Truyện, nó thường chứa đựng những yếu tố có khả năng gây mâu thuẫn, thúc đẩy câu chuyện
kòch phát triển, tạo ra sự biến trong kòch”[54:102]. Như vậy, phân tích hành động kòch là
“đụng chạm” cả những yếu tố như nhân vật, ngôn ngữ, xung đột kòch.
Tính xung đột là một trong những nét nổi bật của kòch xét về phương diện cốt truyện.
Lê Ngọc Trà cho rằng “mỗi vở kòch thường có một xung đột chính, xuyên suốt tác phẩm, gắn
liền với tư tưởng cơ bản của tác phẩm”[54:102]. Xung đột kòch bao gồm xung đột bên
ngoài(giữa các nhân vật, biến nhân vật thành những tuyến đối lập nhau) và xung đột bên
trong(nội tâm của nhân vật). Đi liền với khái niệm xung đột là khái niệm sự biến, gồm có sự
kiện làm nảy sinh xung đột(sự biến mở đầu), làm xung đột trở nên căng thẳng(sự biến trung
tâm) hay mở ra lối thoát khiến cho xung đột được giải quyết(sự biến kết thúc). Nhà lí luận
nhận đònh“kòch thường hấp dẫn là nhờ tạo ra được những sự biến bất ngờ”[54:103] Những
sự biến này, tương tự sự kiện trong truyện, thường tồn tại trong không gian, thời gian của
kòch bản văn học.
So với tiểu thuyết, “kòch bản văn học chủ yếu là để diễn trên sân khấu – xét từ cả hai
mặt trình diễn cũng như thưởng thức – phải chòu nhiều hạn chế về không gian và thời
gian”[41: 244]. Không gian của kòch bản, theo Đỗ Đức Hiểu, bao gồm nhân vật, đồ đạc, bài
trí và không gian ngoài sân khấu hay không gian tưởng tượng, do đối thoại gợi lên. Cũng
theo nhà nghiên cứu, thời gian(của kòch bản) bao gồm thời gian diễn xuất(khoảng hai hoặc
ba tiếng đồng hồ) và thời gian của hành động kòch(ở Vũ Như Tô, mười tháng). Có thể tìm
hiểu không gian, thời gian của kòch bản nhờ những chỉ dẫn sân khấu(như đã nói ở trên) hay
dựa vào ngôn ngữ nhân vật kòch.
Ngôn ngữ nhân vật kòch chủ yếu là ngôn ngữ đối thoại. Gorki, trong bài Bàn về kòch,
đặc biệt nhấn mạnh:”Ngôn ngữ đối thoại có ý nghóa to lớn và thậm chí có ý nghóa…quyết đònh
đối với việc sáng tác kòch”[dẫn theo 37:160]. Đối thoại trong kòch, như Đỗ Đức Hiểu nhận
xét, có đầy đủ khả năng: Kể chuyện, diễn đạt cảm xúc, ý nghóa triết lí, xã hội của tác gia
kòch bản. Phương Lựu lưu ý kòch tính trong đối thoại. Ông viết:”Đối thoại trong kòch phải
mang nội dung tấn công – phản công, thăm dò – lảng tránh, chất vấn – chối cãi, thuyết phục
– phủ nhận, đe doạ – coi thường, cầu xin – từ chối .vv ”[41:258].
Nhà lí luận sân khấu Hồ Ngọc đã minh hoạ, cắt nghóa những đặc điểm có tính chất
văn học phức tạp, hấp dẫn này.
1.3. HƯỚNG TIẾP CẬN, LÍ GIẢI CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG KỊCH NÓI
NGUYỄN HUY TƯỞNG
Đề tài luận văn chứa đựng hai yếu tố: một là cảm hứng lòch sử và yếu tố kia là kòch
nói Nguyễn Huy Tưởng. Cảm hứng lòch sử, như đã giới thuyết, vừa là một bộ phận của nội
dung tư tưởng tác phẩm vừa là một phương diện của phong cách nghệ thuật Nguyễn Huy
Tưởng. Kòch nói Nguyễn Huy Tưởng tồn tại như một trong những hệ thống biểu hiện tư tûng
và phong cách nghệ thuật của nhà văn. Như vậy, đề tài luận văn sẽ có những xác đònh và
liên hệ cơ bản giữa phong cách và thể loại. Đây chính là con đường, là cách thức tiếp cận
thế giới kòch nói Nguyễn Huy Tưởng nói chung và từng vở kòch của nhà văn nói riêng. Bởi
vì, theo nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến, “nghiên cứu một tác phẩm, tất cả vấn đề là tìm
được những xác đònh và liên hệ cơ bản. Đây là những điểm nút, từ đó có thể lần ra được toàn
bộ những xác đònh và liên hệ khác”[21:151]. Nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng trong văn
chương “có những nguyên tắc hệ thống hoá khác nhau; thể loại, phong cách có thể coi là hai
nguyên tắc căn bản”[21:179]. Từ đó, ông khẳng đònh “đặc trưng của thể loại, của phong
cách là những phạm trù hết sức cơ bản”[21:180] mà phân tích văn học cần chú ý. Chú ý đến
chúng tức là chú ý những quan hệ xác đònh cấu trúc của hình tượng văn học, “tế bào” của
văn học mó thuật”. Chia sẻ quan niệm này, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, kết thúc chương
XIV bàn về kết cấu của tác phẩm văn học, cũng lưu ý chúng ta về mối quan hệ giữa thể loại
và phong cách nhà văn. Theo ông, “khi nghiên cứu phân tích phải kết hợp với đặc điểm kết
cấu thể loại và phong cách nhà văn, và nhất là phải xem xét theo chức năng biểu hiện nội
dung của tác phẩm. Chỉ có như vậy mới phát hiện được nội dung sâu sắc của tác phẩm và
nắm bắt được những hình thức kết cấu có giá trò”[41:116].
Thế giới kòch nói Nguyễn Huy Tưởng, đặc biệt là những vở kòch chọn lọc, mỗi vở sẽ
tồn tại một quan hệ đặc thù giữa phong cách nhà văn và thể loại. Bản thân cảm hứng lòch sử
trong từng vở với tư cách là cảm hứng chủ đạo cũng là một phức hợp với nhiều biến thể khác
nhau; kết cấu thể loại của từng vở cũng có những nét riêng biệt bên cạnh những nét chung
của thể tài kòch nói. Do vậy, NVLV, trên cơ sở những gợi ý chung, sẽ cố gắng tìm ra con
đường, cách thức riêng biệt thâm nhập, lí giải cảm hứng lòch sử trong từng kòch bản cụ thể
của kòch tác gia này