so sánh kịch vũ như tô của nguyễn huy tưởng và kịch rừng trúc của nguyễn đình thi từ góc nhìn thi pháp thể loại - Pdf 23


 
Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi là hai tác giả tiêu biểu của
nền văn học Việt Nam hiện đại. Công chúng biết đến Nguyễn Huy Tưởng
và Nguyễn Đình Thi với nhiều vở kịch đặc sắc và ghi nhận những đóng
góp quan trọng của hai ông trong thể loại này.
Nguyễn Huy Tưởng là kịch tác gia tiêu biểu nhất thời kỳ cách mạng
tháng Tám và kháng chiến chống Pháp. Kịch của ông có xu hướng kết hợp
giữa tính thời sự và tính chất lịch sử, chất anh hùng ca và trữ tình, chất hiện
thực và lãng mạn bay bổng. Nguyễn Huy Tưởng nổi tiếng với vở kịch đầu
tay  được sáng tác vào năm 1941. Tác phẩm này được xem là vở
kịch đặc sắc nhất của ông và là vở kịch xuất sắc của Việt Nam. Đây là một
vở kịch lịch sử có giá trị về nhiều mặt, một tác phẩm lớn, đa nghĩa, đã và sẽ
tiếp tục thu hút giới nghiên cứu tìm hiểu nhằm phát hiện ra những giá trị tư
tưởng và nghệ thuật của tác phẩm.
Cùng thời với Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi được biết đến
như một nghệ sĩ đa tài mà sự nghiệp của ông đạt được những thành công
trên rất nhiều thể loại. Ông cũng có những đóng góp quan trọng về nghệ
thuật kịch. Tác phẩm của Nguyễn Đình Thi mang đặc trưng của kịch “tâm
lý - trữ tình”. Trong đó phải kể đến  - tác phẩm được coi là lớn
nhất trong gia tài kịch của Nguyễn Đình Thi, đánh dấu bước chuyển mình
của nền kịch nói Việt Nam nửa cuối thế kỉ XX. Có một điều đặc biệt là:
giống như vở kịch  trải qua nhiều trắc trở mới đến được với
đông đảo công chúng, số phận của vở  cũng gập gềnh không
kém.  gần như bị lãng quên suốt một thời gian dài, mãi đến
những năm 60 của thế kỉ XX mới được các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu
còn  được sáng tác từ năm 1978 nhưng phải trải qua chặng đường
1
long đong suốt 21 năm mới được công diễn trên sân khấu (và đạt Huy
chương vàng tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp năm 1999).
 và  đều là hai vở kịch lịch sử mang tầm tư

pháp thể loại ở hai vở kịch và qua đó làm sáng tỏ dấu ấn phong cách riêng
của từng tác giả. Kịch của Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi vừa
mang hơi thở thời đại vừa mang giá trị lịch sử. Cả Nguyễn Huy Tưởng và
Nguyễn Đình Thi cùng khai thác đề tài lịch sử nhưng lại soi chiếu lịch sử ở
những góc độ khác nhau để gửi gắm tư tưởng và những bài học sâu sắc
mang tính thời đại. Chính sự khác biệt ở góc độ soi chiếu lịch sử đã góp
phần thể hiện phong cách nổi bật của từng tác giả.
Từ những lí do trên, người viết quyết định lựa chọn đề tài: “!
"Vũ Như Tô#$%&'(&')*+%,"Rừng trúc#$
%&'(-).%/- 0

1,2
Do khoá luận của chúng tôi nghiên cứu đề tài “!" Vũ
Như Tô#$%&'(&')*+%,"Rừng trúc#$%&'(-
).%/- 0nênngười viết sẽ bám sát vấn đề này
để khảo sát tư liệu, từ phạm vi rộng đến hẹp.
Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về thi pháp kịch, chúng tôi thấy vấn đề
này đã được đề cập đến từ rất sớm qua một số công trình đáng chú ý như:
từ thời cổ đại, cuốn của Aristote đã đưa ra những nguyên tắc chung
về sáng tạo nghệ thuật, trong đó có bi kịch; sang đến thế kỉ XVII, Boalo
viết cuốn chỉ ra những đổi mới so với thi pháp Aristote.
Qua thời gian, lí thuyết về thi pháp học cũng có nhiều thay đổi. Thi pháp
hiện đại ra đời. Ở Việt Nam, phải kể đến Đỗ Đức Hiểu với cuốn 
 đã có đóng góp giới thiệu thi pháp học một cách khá toàn diện qua
việc xem xét theo phạm vi thể loại.
3
Từ những kết quả trên, chúng tôi tiếp tục khảo sát mảng tài liệu
nghiên cứu về phong cách kịch Nguyễn Huy Tưởng, phong cách kịch
Nguyễn Đình Thi rồi tìm hiểu phạm vi hẹp hơn là các tài liệu nghiên cứu
về vở  và đểxem đã có nhà nghiên cứu nào tiếp cận

có tầm khái quát rộng rãi và nhân vật cũng giàu chất sống nội tâm. Ngòi
bút sử thi kết hợp với phong vị lãng mạn, trữ tình là đặc điểm cơ bản trong
kịch Nguyễn Huy Tưởng” [46 ,28].
2.1.2. Nghiên cứu vở kịch của Nguyễn Huy Tưởng
Trong các sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng,  được xem là
vở kịch thành công nhất của ông. Tác phẩm này là đề tài hấp dẫn của các
nhà nghiên cứu trong những năm gần đây.
Trong những bài nghiên cứu về vở kịch này, có bài viết “Bi kịch 
” của Đỗ Đức Hiểu đăng trên &' số 10 năm 1997 đã
tiếp cận tác phẩm này ở góc độ thi pháp học, phân tích về đối thoại - hành
động, không gian - thời gian trong vở kịch . Bài viết đã phần nào
gợi ý cho chúng tôi so sánh kịch  của Nguyễn Huy Tưởng và
 của Nguyễn Đình Thi từ góc nhìn thi pháp thể loại.
Ngoài ra, Phạm Vĩnh Cư trong bài “Bàn thêm về bi kịch ”
đăng trên &' số 7 năm 2000 đã đưa đến một hướng tiếp cận
mới về vở kịch này từ góc độ đặc trưng thể loại qua một số bình diện cơ
bản của bi kịch: xung đột bi kịch, nhân vật bi kịch, tội lỗi bi kịch và hiệu
ứng bi kịch.
11%34&%"%&'(-),
%34&"Rừng trúc
2.2.1. Nghiên cứu phong cách kịch Nguyễn Đình Thi
Số lượng các bài nghiên cứu - phê bình về kịch Nguyễn Đình Thi
đến nay vẫn còn dừng lại ở con số khá khiêm tốn. Điều này càng cho thấy ý
nghĩa khoa học của những bài báo và công trình nghiên cứu góp phần nhận
diện thi pháp kịch của Nguyễn Đình Thi như:
5
Trong cuốn ()*+$% của Nhà xuất bản
Văn hoá thông tin có tập hợp bài viết “Thế giới kịch Nguyễn Đình Thi” của
Tất Thắng. Ở bài viết này, Tất Thắng đã đưa ra nhận xét khái quát về thế
giới kịch của Nguyễn Đình Thi: “thế giới kịch của Nguyễn Đình Thi là một

màu sắc bi kịch, tỏ rõ khuynh hướng tượng trưng và đậm chất triết lý”
[30,544].
Nguyễn Văn Thành chú ý đến sự tìm tòi, sáng tạo của Nguyễn Đình
Thi trong thể loại kịch. Theo ông, các kịch bản của Nguyễn Đình Thi “kịch
bản nào cũng được viết với một bút pháp tân kỳ, táo bạo, thật sự là nỗ lực
cách tân cung cách biên kịch nhằm mở rộng dung lượng, sức chứa cũng
như tăng cường chất văn học, nâng cao tầm khái quát và chiều sâu triết lý
của kịch” [29,237].
2.2.2. Nghiên cứu vở kịch  của Nguyễn Đình Thi
 là một trong những vở kịch thể hiện rõ nét phong cách của
Nguyễn Đình Thi nhưng chỉ đến khi vở kịch được công diễn trên sân khấu
và giành được Huy chương vàng tại hội diễn sân khấu chuyên nghiệp năm
1999 thì các nhà nghiên cứu và công chúng mới bắt đầu tìm hiểu, nghiên
cứu và phê bình về vở kịch này.
Phan Trọng Thưởng với bài “ của Nguyễn Đình Thi và
một số vấn đề lí luận sáng tác về đề tài lịch sử” đăng trên &'
số 11 năm 1999 đã nhận thấy tài năng của Nguyễn Đình Thi qua vở kịch
này là “khả năng khai thác vào các sự kiện lịch sử tưởng như đã cũ để tìm
ra trong đó những bài học mới về đạo đức, nhân sinh, khả năng lí giải
những vấn đề lớn đặt ra cho mọi thời đại”[49,17].
Nhìn chung những bài viết nghiên cứu về vở  còn rất ít và
chưa có nhà nghiên cứu nào tiếp cận vở kịch này một cách toàn diện từ góc
nhìn thi pháp thể loại.
Như vậy điểm qua các bài nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chưa có
bài viết nào so sánh kịch  và . Cách tiếp cận hai vở
7
kịch này từ góc nhìn thi pháp thể loại để so sánh là hoàn toàn hợp lý và mới
mẻ. Điều này khẳng định đóng góp mới của chúng tôi khi quyết định
nghiên cứu đề tài: “!"Vũ Như Tô#$%&'(&')*+%,
"Rừng trúc #$%&'(-).%/5 0

nhất mà chúng tôi lấy làm “tinh thần chính” là 561. Bên cạnh
đó, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học
AB2&CD"&E
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần nội dung
gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
- Chương 2: So sánh kịch  của Nguyễn Huy Tưởng và
kịch  của Nguyễn Đình Thi từ góc nhìn thi pháp thể loại
- Chương 3: Vấn đề thể hiện đề tài lịch sử qua kịch  và

9
FGHI
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
B@+=&E
 )"
1.1.1.1. Khái niệm “thi pháp”
Thuật ngữ “thi pháp” đã được quan niệm một cách hệ thống trong tư
tưởng nhận thức của giới nghiên cứu văn học. “Thi pháp” chính là một bộ
phận của lí luận văn học. Tất Thắng trong cuốn   đã nêu ra
cách hiểu về khái niệm “thi pháp” như sau: “Nếu lý luận văn học ôm trùm
cả một phạm vi lớn rộng những vấn đề của sáng tác và tiếp nhận văn học,
của mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống, giữa nhà văn và người đọc,
giữa văn học và tác phẩm, tóm lại là những vấn đề văn học với tư cách là
một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội… thì đến lượt mình, thi pháp chỉ
nghiên cứu những vấn đề nghệ thuật của thi ca” [42,7]. Còn Trần Đình Sử
trong cuốn /78 thì cho rằng “thi pháp” là “nghiên cứu

xung đột, hành động, nhân vật, ngôn ngữ, không gian và thời gian - đây
được coi là những nội dung cơ bản của thi pháp kịch:
:;:;:;<;:;=>
Xung đột là cơ sở của kịch. Nhắc đến kịch là phải nhắc đến xung
đột. Xung đột có mặt ở hầu hết các thể loại nhưng với kịch, yếu tố xung đột
mang theo một sắc thái thẩm mĩ khác. Đó là tính chất tập trung cao độ của
những khối mâu thuẫn lớn, chi phối trực tiếp của đến cấu trúc tác phẩm và
nhịp độ vận động dồn dập khác thường của cốt truyện. Xung đột là động
lực thúc đẩy sự phát triển của hành động kịch nhằm xác lập những quan hệ
mới giữa các nhân vật vốn được coi là kết thúc tất yếu của tác phẩm kịch.
11
Trong bài viết “Bi kịch ”, Đỗ Đức Hiểu đã đưa ra nhận
định: “Thi pháp cổ điển cho rằng, xung đột là đặc trưng cơ bản, đặc trưng
số một của kịch. Thi pháp kịch hiện đại nhận định xung đột là biểu hiện
bên ngoài, bề mặt của những lực bên trong, những lực này chuyển động tạo
thành những mâu thuẫn, trái chiều nhau, xung đột với nhau. Nó quyết định
sự tiến triển của hành động, đồng thời nó chỉ rõ những mối quan hệ phức
hợp giữa các lực, sự di chuyển của các lực ấy”[51,166].
Qua xung đột có thể thấy những mâu thuẫn lớn của hiện thực xã hội,
đồng thời cũng cho thấy tư tưởng, chủ đề của vở kịch, lập trường quan
điểm của tác giả. Cách thức triển khai và giải quyết xung đột làm thành hạt
nhân của tư tưởng nghệ thuật.
:;:;:;<;?;#>
Kịch là thể loại mang lại sự nhận thức thông qua yếu tố hành động.
Nếu xung đột được coi là điều kiện cần thiết làm nảy sinh tác phẩm thì
hành động lại là yếu tố duy trì sự vận hành của tác phẩm. Hành động kịch
chính là sự thể hiện trực tiếp nội dung của xung đột kịch. Xung đột càng
căng thẳng thì hành động càng trở nên mạnh mẽ, quyết liệt.
Hành động kịch không đơn giản là những hành động đơn lẻ, ngắt
quãng mà là một chuỗi hành động liên tiếp xoáy quanh trục xung đột. Hành

thoại và độc thoại. Đối thoại là các nhân vật nói với nhau, còn độc thoại là
nhân vật tự nói với chính mình. Dù là đối thoại hay độc thoại thì ngôn ngữ
kịch cũng phải phù hợp với tính cách nhân vật. Tóm lại, do ngôn ngữ kịch
chỉ biểu hiện bằng ngôn ngữ của nhân vật nên ngôn ngữ kịch phải đảm bảo
có tính hành động, tính hàm súc, tính tổng hợp và phải phù hợp với tính
cách nhân vật.
:;:;:;<;B;C!"#D!
Không gian và thời gian trong kịch bản văn học có những điểm riêng
tiêu biểu cho thi pháp thể loại. Đặc trưng của kịch là tính giới hạn về không
- thời gian.
13
Không gian của kịch bản bao gồm có không gian sân khấu và không
gian ngoài sân khấu. Không gian sân khấu bao bọc trong nó nhân vật, đồ
đạc, cảnh trí Không gian ngoài sân khấu là không gian tưởng tượng,
không gian tâm tưởng, không gian kí ức… được mở ra theo mạch đối thoại
và sự vận động của cốt truyện.
Thời gian của kịch bản bao gồm thời gian diễn xuất và thời gian
hành động. Thời gian diễn xuất - thời gian sân khấu - tính từ lúc mở màn
đến lúc hạ màn kéo dài khoảng chừng ba tiếng đồng hồ và có thể chia nhỏ
hơn thành thời gian của từng hồi, từng lớp, từng cảnh. Thời gian hành động
được tính bằng năm tháng theo tuổi đời nhân vật. Phá vỡ nguyên tắc hành
động chỉ diễn ra trong một ngày của kịch cổ điển Pháp, thời gian hành động
của nhân vật trong các trường phái, trào lưu kịch sau cổ điển được kéo
thành thời gian của một thời, một đoạn hay một quãng đời dài.
Trên đây chúng tôi đã trình bày những nội dung cơ bản của thi pháp
kịch. Khi thực hiện đề tài so sánh vở kịch  của Nguyễn Huy
Tưởng và  của Nguyễn Đình Thi từ góc nhìn thi pháp thể loại,
chúng tôi sẽ dựa vào các đặc trưng cơ bản đó của kịch và lấy đó làm tiêu
chí để tiến hành so sánh.
1BJ&$K9%C%LC-C"+

dân cho nền kịch nói giai đoạn này.
Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 không chỉ đưa lịch sử dân tộc
sang trang mới mà còn mở ra một giai đoạn văn học tiếp theo với sự trưởng
thành về nhiều mặt. Từ năm 1954 trở đi, quan niệm sáng tác kịch của các
tác giả đã hướng tới đáp ứng yêu cầu thời sự, phản ánh các mâu thuẫn giai
cấp trong thực tiễn và xác định nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn là đề cao
quyền lợi của nhân dân.
Vào những năm :EJB+:EKB, dân tộc ta phải đối mặt với thực tế khó
khăn của thời kì hậu chiến và từ đó đặt ra những yêu cầu nhận thức đối với
15
hiện tại. Ngòi bút kịch của các tác giả một mặt vẫn hướng vào đề tài chiến
tranh, mặt khác hướng vào không khí dân chủ và nhiệt huyết công dân mới.
Đề tài kịch giai đoạn nửa sau thế kỉ XX được mở rộng theo nhiều chiều
hướng khác nhau nên các quan niệm, tư tưởng sáng tác kịch cũng linh hoạt
hơn, đặc biệt là kịch còn mở rộng sang bình diện tâm lý.
1B@+N(
Có thể khẳng định sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình
Thi có cơ sở từ thực tiễn truyền thống kịch Việt Nam trước đó. Tác phẩm
kịch của hai ông chịu ảnh hưởng của sự thay đổi quan niệm sáng tác và thi
pháp học đương thời. Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi đều đã kế
thừa những thành công của kịch nói trong thời kì mà mình đang sống và từ
đó tìm tòi những cách tân, sáng tạo góp phần phát triển nền kịch nói Việt
Nam.
1"/MK$9."-LO9
P:Q
Nền kịch nói Việt Nam ra đời trên nền tảng của nghệ thuật sân khấu
phương Tây. Trong thời kì Pháp thuộc, kịch trường nước ta phát triển trên
cơ sở ảnh hưởng những trào lưu nghệ thuật Pháp một cách sâu sắc. Nhà
nghiên cứu Tất Thắng trong bài viết “Sự đổi mới kịch Việt Nam thế kỷ XX
từ góc độ thể loại” (in trong cuốn )6'!%LM== của

và xuất hiện một số tác giả viết kịch am hiểu về kịch cổ điển như Nguyễn
Hữu Kim, Vi Huyền Đắc, Nam Xương… Kịch nói Việt Nam ngay từ khi
mới phát triển, do hoàn cảnh xã hội thúc đẩy, đã nảy sinh khuynh hướng
phê phán hiện thực và khuynh hướng đòi thoát ly lễ giáo phong kiến. Do
vậy, các nhà viết kịch giai đoạn này tìm đến với bi kịch cổ điển Pháp để
học tập và tìm ở đó những yếu tố tâm lý - đạo đức thích hợp với xã hội Việt
Nam đang tư sản hoá.
17
Như vậy, ở giai đoạn đầu từ :E?:+:E<F, kịch Việt Nam hình thành
trên cơ sở tiếp nhận kịch Pháp. Quá trình hoạt động của kịch nói Việt Nam
chưa tách rời khỏi hoạt động của sân khấu ca kịch dân tộc và phạm vi hoạt
động của kịch nói ở giai đoạn này còn hạn chế. Nhưng điểm đáng ghi nhận
là nghệ thuật kịch nói Việt Nam ở giai đoạn này đã được hình thành trên cơ
sở tiếp thu những nhân tố tích cực của kịch trường cổ điển Pháp, pha trộn
với phong cách hài hước, châm biếm sẵn có của sân khấu dân gian cổ
truyền.
Thời kì :E<F+:E<O, hoạt động kịch nói ở sân khấu nước ta bắt đầu
có những chuyển biến theo hướng mới: bắt đầu thể hiện khuynh hướng
muốn tách rời hoạt động sân khấu kịch ra khỏi các hoạt động xã hội công
ích để tiến tới một hoạt động nghệ thuật đơn thuần, tách rời hoạt động kịch
nói với sân khấu và quần chúng rộng rãi của ca kịch để xây dựng một sân
khấu kịch nói thuần tuý phục vụ một lớp công chúng riêng của kịch.
Khuynh hướng này nảy sinh chứng tỏ hoạt động của sân khấu kịch đang
bắt đầu trưởng thành và sân khấu kịch nói đang bắt đầu tiến vào lĩnh vực
nghệ thuật.
Dựa vào những thành công của việc xây dựng nghệ thuật sân khấu
kịch nói ở thời kỳ trước, từ năm 1936 trở đi, kịch ở nước ta đã có những
biến chuyển lớn thể hiện ở quan niệm xây dựng sân khấu kịch mới. Thời kỳ
từ :E<O+:EAF có thể coi là thời kì bắt đầu trưởng thành của kịch nói Việt
Nam. Sự trưởng thành của hoạt động kịch thể hiện trước hết là ở sự kết hợp

khán giả bằng một số biện pháp sân khấu như những sự việc đột biến, bất
ngờ, chú ý đến khung cảnh chung của sân khấu. Các tác giả đã khắc phục
được khá nhiều bệnh thuyết pháp trên sân khấu, không còn đem những bài
học luân lí, mượn nhân vật để giáo huấn công chúng. Tuy nhiên, hiện
tượng thuyết pháp hay đối đáp dài dòng vẫn thấy như trong một số vở kịch
như C%>L"!, C% . Sự tiến triển của hành động của các
19
vở kịch đã đỡ bị chậm chạp, nặng nề như trước. Những điểm mạnh trên đây
đều được Nguyễn Huy Tưởng thể hiện trong . Sự tiến bộ về
nghệ thuật viết kịch so với giai đoạn trước thể hiện ở lời văn kịch bản. Nếu
trước kia các kịch tác gia còn chú ý đến mặt “làm văn” trong kịch thì bây
giờ người ta không những đã bỏ được lối văn biền ngẫu, những sáo ngữ mà
đã bắt đầu coi trọng nhiệm vụ mô tả tính cách nhân vật và thúc đẩy sự tiến
triển của hành động bằng đối thoại.
Nguyễn Huy Tưởng là kịch tác gia tiêu biểu nhất của thời kì cách
mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp: “Điểm dễ nhận trong kịch
của ông là chất sử thi dựa trên cơ sở khai thác những mâu thuẫn cơ bản của
thời đại, những xung đột quyết liệt liên quan đến vận mệnh cả dân tộc.
Hoặc chí ít cũng là những vấn đề xã hội được đặt ra để làm nền cho hoạt
động tâm lý, cho sự giãi bày tâm trạng thông qua số phận từng nhân vật.
Do vậy vấn đề ông đặt ra trong kịch thường có tầm khái quát rộng rãi và
nhân vật cũng giàu chất sống nội tâm. Ngòi bút sử thi mang màu sắc lịch sử
kết hợp với phong vị lãng mạn, trữ tình là đặc điểm cơ bản của kịch
Nguyễn Huy Tưởng”[46,28]. Kế thừa những đổi mới của kịch giai đoạn
này, Nguyễn Huy Tưởng nỗ lực tìm tòi để khám phá ra những cách thể
nghiệm mới. Ông đi sâu khắc hoạ suy nghĩ nội tâm của nhân vật. Trong vở
, kịch tính không chỉ biểu hiện trong các xung đột của những
mâu thuẫn mà ít nhiều còn thể hiện ngay trong những suy nghĩ giằng xé
của nhân vật chính. Qua đó, Nguyễn Huy Tưởng thường đặt ra những vấn
đề có chiều sâu về tư tưởng.

tác kịch ở giai đoạn này có khuynh hướng trở về miêu tả trực tiếp những
tấm gương anh hùng như vở kịch R7S vừa giàu chất hiện thực,
vừa giàu tính kịch và chất trữ tình.
Cuộc họp về vấn đề hiện thực và truyền thống trong nghệ thuật sân
khấu năm 1970 đã đánh dấu bước phát triển mới về lý luận nghệ thuật sân
khấu khi đề cao ý thức chọn lọc, khai thác những xung đột từ đời sống, đòi
21
hỏi kịch phải chọn lọc, tập trung, là nơi xung yếu của hiện thực, có ý nghĩa
tượng trưng và khái quát hoá, ý nghĩa đột xuất và bộc lộ khá rõ tính chủ
động sáng tạo của người viết.
Trên đây là những tiền đề truyền thống kịch giai đoạn từ :EAB+:EJB
có ảnh hưởng không nhỏ đến sáng tác kịch của Nguyễn Đình Thi. Những
năm Nguyễn Đình Thi bắt tay sáng tác kịch là những năm phát triển của thể
loại ca kịch lịch sử với những vở như 2!%R/TU!9S!9
V!WCác tác giả đều có ý thức tôn trọng hoàn cảnh lịch sử, biểu
dương những gương yêu nước trong quá khứ và trình bày, giải thích các
hiện tượng, nhân vật lịch sử theo quan điểm quần chúng sáng tạo ra lịch sử.
Thời kỳ này nhiều tác giả kịch có ý thức khai thác những đề tài lịch sử để
phục vụ trực tiếp cho những yêu cầu của hiện tại. Đề tài lịch sử lại rộ lên
trong những sáng tác nghệ thuật những năm 70, đầu những năm 80 của thế
kỉ XX. Cùng trong khuynh hướng đó, Nguyễn Đình Thi viết 
(1978) và X(V! (1979), mượn tư tưởng và nhân cách
của người xưa để gửi gắm những khát vọng về cuộc sống hôm nay, mong
gắn kết các thời đại, gắn kết các nhân vật đương đại với các nhân vật trong
quá khứ. Cùng với thành công về nghệ thuật tổ chức xung đột, về ngôn
ngữ,  có thể coi là tác phẩm thành công nhất của Nguyễn Đình
Thi, góp phần làm sang trọng cho sân khấu kịch nói Việt Nam nửa cuối thế
kỉ XX: “Sức hấp dẫn của  ngoài tính chọn lọc và tiêu biểu của
xung đột và tính cách còn ở khả năng miêu tả và bộc lộ tâm lý các nhân vật
sâu sắc và giàu tính văn học”[10,8]. Ông luôn tôn trọng tính khách quan

 là vở kịch có cấu trúc logic, nghiêm ngặt chịu ảnh hưởng
theo kiểu bi kịch cổ điển Pháp gồm 5 hồi, mỗi hồi lại gồm nhiều lớp nhỏ.
Cấu trúc của kịch  thuộc loại cấu trúc theo xung đột kịch: Giao
đãi (hồi I), thắt nút (hồi II), phát triển và xuất hiện trở ngại, sự biến (hồi
III), gợi ra hướng giải quyết (hồi IV) và kết thúc (hồi V).
* Hồi thứ nhất: Trình bày - giao đãi
- Lớp I: Tại cung cấm, Lê Tương Dực thổ lộ với Kim Phượng về mộng
xây Cửu Trùng Đài và may mắn đã tìm thấy người tài là Vũ Như Tô. Qua lời kể
của Lê Tương Dực, Vũ Như Tô được giới thiệu là “một người thợ có hoa tay
tuyệt thế” nhưng lại bỏ trốn không chịu xây Cửu Trùng Đài cho vua nên đã bị
đóng cũi giải về kinh.
- Lớp II: Đan Thiềm vào bẩm với vua rằng quan thượng thư Lê An xin
vào tâu việc Vũ Như Tô.
- Lớp III: Lê An tâu với Lê Tương Dực về việc Vũ Như Tô tỏ ra khinh vua
quan, dám lên án vua là hôn quân bạo chúa nên nhất quyết không chịu giúp
vua xây Cửu Trùng Đài. Lê Tương Dực tức giận cho giải Vũ Như Tô vào để trị
tội.
- Lớp IV: Nội giám mời hoàng thượng lâm triều để tiếp sứ thần Trung
Quốc.
- Lớp V: Lê Tương Dực lệnh cho Đan Thiềm chờ đến khi Vũ Như Tô vào
thì dẫn một đội nữ binh gác điện.
24
- Lớp VI: Bọn lính giải Vũ Như Tô vào. Một người lính báo với Đan
Thiềm rồi cả bọn lui.
- Lớp VII: Đan Thiềm đối thoại với Vũ Như Tô để bộc lộ tấm lòng “đồng
bệnh”. Đan Thiềm kể cho Vũ Như Tô về cuộc đời mình, bày tỏ sự cảm thông
cho bi kịch Tài - Sắc và Lụy và cái nợ tài hoa của Vũ Như Tô. Cả hai cùng bất
bình với việc triều đình đối đãi bạc ác với người tài. Ban đầu Vũ Như Tô kiên
quyết không xây Cửu Trùng Đài cho hôn quân nhưng Đan Thiềm đã thuyết
phục được ông mượn tay quyền thế xây Cửu Trùng Đài để làm vẻ vang dân

đầu những thợ bỏ trốn. Khi Phó Độ, Phó Cõi, Phó Bảo cùng đang kêu ca vì xây
Cửu Trùng Đài khiến nhiều người thiệt mạng, hao tốn tiền của của dân và tố
cáo bọn vua quan sa đoạ thì có tiếng một phần đài bị đổ. Hai Quát hoảng hốt
vào báo có nhiều người chết.
- Lớp II: Tên lính đao phủ dẫn vào một người thợ bị tội bỏ trốn. Người
thợ lên án Vũ Như Tô nhẫn tâm và kêu ca việc xây Cửu Trùng Đài khiến dân
khổ cực. Thấy tên lính đánh đập và giải người thợ đi chém, Phó Bảo và Phó
Cõi can ngăn và đau khổ vì không giúp gì được.
- Lớp III: Trước cảnh thợ chết nhiều, Vũ Như Tô đau xót nhưng vẫn
quyết xây bằng được đài cao. Khi các thợ xin Vũ Như Tô tha cho người thợ bỏ
25

Trích đoạn Lớp I: Đan Thiềm báo tin có bạo loạn cho Vũ Như Tô và giục ông đi trốn nhưng Vũ Như Tô nghĩ mình không làm gì nên tội nên nhất định không đi, Xung đột kịch Ngôn ngữ kịch Khôn g thời gian kịch Khuynh hướng lựa chọn đề tài lịch sử
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status