ĐỀ: Suy nghĩ về bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô qua đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng
Đài” trong tác phẩm “Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng.
DÀN Ý PHÂN TÍCH :
1. Mở bài:
- Giới thiệu vở kịch “Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng.
- Giới thiệu nhân vật Vũ Như Tô – nhân vật của bi kịch.
2. Thân bài:
a) Giải thích nhân vật bi kịch:
- Bi kịch là một thể loại kịch thể hiện mối xung đột không điều hoà được giữa thiện và ác,
cao cả và thấp hèn, lí tưởng và thực tại, để dẫn đến kết thúc thường là cái chết bi thảm gây
cảm xúc đau thương mãnh liệt cho người đọc, người xem.
- Nhân vật bi kịch: Nhân vật mắc vào những mâu thuẫn, nghịch cảnh oan trái, éo le dẫn tới
những kết cục bi đát, đau thương.
b) Bi kịch của Vũ Như Tô:
* Biểu hiện:
- Vũ Như Tô có tài, có ước vọng cao cả, niềm khát khao và đam mê sáng tạo cái đẹp. Vũ Như
Tô nhận xây Cửu Trùng Đài không ngoài mục đích sáng tạo một công trình nghệ thuật để tô
điểm cho đất nước.
- Nhưng thực tế phũ phàng, ngang trái của xã hội đã dẫn đến sự vỡ mộng thê thảm: Cửu
Trùng đài bị đốt, Vũ Như Tô và Đan Thiềm bị đưa ra pháp trường chịu chết.
- Tâm trạng vỡ mộng của Vũ Như Tô qua đoạn trích:
+ Trong thời khắc biến loạn dữ dội, Vũ Như Tô vẫn không tỉnh, vẫn say sưa với giấc mơ
Cửu Trùng Đài (phân tích).
+ Chỉ đến khi tận mắt chứng kiến Cửu Trùng Đài bị đốt phá, Vũ Như Tô mới đau đớn kinh
hoàng nhận ra sự vỡ mộng lớn.
* Nguyên nhân bi kịch:
- Mâu thuẫn giữa khát vọng cao cả của người nghệ sĩ với cách thực hiện khát vọng ấy: Mục
đích của Vũ Như Tô là chân chính nhưng con đường thực hiện lại sai lầm khi ông lợi dụng
quyền lực của bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật.
- Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu thuần tuý của muôn đời với lợi ích thiết
thực, trực tiếp của quần chúng nhân dân:
Tình hình càng lúc càng nguy kịch. Lê Tương Dực bị giết; đại thần, hoàng hậu, cung nữ của y cũng vạ lây;
Đan Thiềm bị bắt, .… Kinh thành điên đảo.
Khi quân khởi loạn đốt Cửu trùng đài thành tro, Vũ Như Tô mới tỉnh ngộ. Chàng trơ trọi, đau đớn vĩnh
việt cửu trùng đài rồi bình thản ra pháp trường.
Theo từ điển văn học, bi kịch là mâu thuẫn giữa khát vọng, hoài bão, lí tưởng của cá nhân với thực tại.
Thực tại chưa đủ điều kiện cho cá nhân thực hiện khát vọng, lý tưởng của mình nên rơi vào thất bại, thậm chí
dẫn đến cái chết thảm thương. Hiểu theo nghĩa thông thường là nỗi đau khổ vò xé dai dẳng không có cách
nào giải thoát. Trong Vĩnh biệt cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô là người nghệ sĩ thiên tài có lý tưởng cao đẹp
nhưng lâm vào cảnh ngộ không giải quyết được một cách đúng đắn vấn đề sáng tạo nghệ thuật cho ai và để
làm gì nghĩa là không giải quyết được mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật và đời sống cuối cùng rơi vào bi
kịch đau đớn.
Vũ Như Tô là một nhân vật có thật đã từng được Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép rất tỉ mỉ: "Trước đây,
Vũ Như Tô một người thợ ở Cẩm Giàng, xếp những thanh nứa làm thành kiểu mẫu cung điện lớn trăm nóc,
dâng lên nhà vua; nhà vua bằng lòng phong cho Như Tô làm đô đốc đứng trông nom việc dựng hơn trăm nóc
cung điện lớn có gác, lại khởi công làm Cửu trùng đài. "(Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục
Chính Biên, quyển 26). Tuy nhiên Cửu Trùng Đài đã làm "Dân chúng đau khổ, binh lính mệt nhọc. Quân
năm phủ đắp thành chưa xong được, đến đây lại có lệnh bắt các nha môn ở trong ngoài kinh thành phải làm,
tập hợp nhau lấy hồ, khiêng đất. Vua hàng ngày bất thần ngự chơi các nơi, chỗ nào vừa ý thì thưởng cho bài
vàng, bài bạc. Có chỗ đã làm xong lại phải làm lại, sửa đổi xây đắp lại, hết năm này qua năm khác, liên miên
không dứt. Quân lính đắp thành mắc chứng dịch lệ đến một phần mười."(Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ
thực lục, Quyển XV, Kỷ Nhà Lê, Tương Dực Đế). Sau đó, Trịnh Duy Sản phản nghịch, dẫy binh, Vũ Như
Tô bị thợ thuyền giết chết, xác quăng ngoài chợ, bị mọi người khinh khi nhổ nước bọt. Tuy nhiên, bi kịch đó
của họ Vũ là sự oan khuất bởi ông chỉ là người thừa lệnh của vua làm Cửu Trùng Đài vì thế nhân dân lầm
2
tưởng ông chỉ biết phụng sự cho hôn quân bạo chúa. Năm 1941, Nguyễn Huy Tưởng đã minh oan cho họ Vũ
bằng vở kịch năm hồi này.
Trong vở kịch Vũ Như Tô hiện lên là một kiến trúc sư thiên tài, là hiện thân của niềm khao khát say mê
sáng tạo cái đẹp, “là người ngàn năm dễ có một có thể sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể
xây lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ…chỉ vẩy bút là chim hoa đã hiện
trên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa công”. Qua vài lời của tác giả ta thấy Vũ Như Tô là một nghệ
vạn niên nào? Thành xây xương lính, hào đào máu dân”. Như vậy, Vũ Như Tô đã sai lầm khi lợi dụng quyền
lực của bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật của mình. Chỉ đứng trên lập trường nghệ sĩ thuần tuý nên
đã vô hình chung, trở thành kẻ đối nghịch với nhân dân, gây đau khổ cho nhân dân. Để xây dựng Cửu đài,
triều đình đã ra lệnh tăng sưu thuế, bắt thêm thợ giỏi, tróc nã, hành hạ những người chống đối. Dân căm phẫn
vua làm cho dân cùng nước kiệt; thợ oán Vũ vì nhiều người chết vì tai nạn, vì ông cho chém những kẻ bỏ
trốn. Vì thế cho nên nhân dân căm giận bạo chúa, đồng thời cũng oán trách, nguyền rủa, thậm chí là oán hận
kiến trúc sư đầy tài năng Vũ Như Tô và cuối cùng đã giết chết cả tên hôn quan bạo chúa Lê Tương Dực lẫn
Vũ Như Tô, đốt cháy cả Cửu Trùng Đài.
Mâu thuẫn đỉnh điểm được giải quyết bằng vũ lực. Trịnh Duy Sản cầm đầu bọn phản nghịch đã náo
loạn kinh thành. Chúng tìm Lê Tương Dực và giết chết tên hôn quân ấy. Chúng đốt phá Cửu trùng đài, chúng
3
tìm Vũ Như Tô để rửa hận. Nhưng Vũ đúng là một nhân vật bi kịch. Ông không thể nào trả lời câu hỏi “xây
dựng Cửu Trùng Đài là đúng hay sai, là có công hay có tội?. Thật đau đớn thay, bi kịch thay cho đến khi
cuộc nổi loạn nổ ra, Đan Thiềm mặt cắt không còn hột máu, hốt hoảng đến báo cho Vũ Như Tô, nếu không
chạy trốn thì ông sẽ bị giết, nhưng Vũ Như Tô vẫn không chịu đi và vẫn day dứt một câu hỏi: “Tôi có tội gì?
Tôi làm gì nên tội? Làm gì phải trốn?”. Thậm chí Vũ Như Tô còn khẳng định “ Bà không nên lo cho tôi. Tôi
không trốn đâu. Người quân tử không bao giờ sợ chết. Mà vạn nhất có chết, thì cũng để cho mọi người biết
rằng công việc mình làm chính đại quang minh. Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài.
Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài một bước. Hồn tôi để cả đây!”. Khi được Đan Thiềm giục giã chạy trốn bởi
nguy hiểm cận kề, Vũ Như Tô còn “Ngây thơ” : “Họ tìm tôi nhưng có lý gì họ giết tôi. Tôi có gây oán gây
thù gì với ai”. Câu nói thể hiện sự bảo thủ và có phần mê muội. Ngay cả khi bị bắt Vũ vẫn không tin là sự
thật, vẫn vĩnh biệt Đan Thiềm “đời ta chưa tận, mệnh ta chưa cùng. Ta sẽ xây một đài vĩ đại để tạ lòng tri
kỷ”. Khi bị quân sĩ vả vào miệng Vũ vẫn không ngừng nói về Cửu đài: “…vài năm nữa, Đài cửu trùng sẽ
hoàn thành, cao cả, huy hoàng giữa cõi trần lao lực, có một cảnh Bồng Lai”. Đến chết vẫn hi vọng sẽ thuyết
phục được An Hoà Hầu, một kẻ cầm đầu một phe nổi loạn, song sự thực đã diễn ra một cách phũ phàng tàn
nhẫn, không như ảo tưởng của Vũ Như Tô. An Hoà Hầu đã cho quân đốt phá kinh thành, đốt phá cả Cửu
trùng đài. Cửu Trùng đài tan thành tro bụi.
Tất cả chỉ là ảo vọng. Đan Thiềm và Vũ bị bắt, Cửu Trùng Đài bị thiêu huỷ thì Vũ mới bừng tỉnh, ngửa
mặt lên trời mà cất lên tiếng than ai oán tuỵệt vọng “Đốt thực rồi! Ôi đảng ác! Trời ơi! Phú cho ta cái tài để
làm gì. Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài! Thôi thế là hết! Dẫn ta đến pháp trường”. Trong
Trong cảm xúc tha thiết đối với văn hóa dân tộc, nhà văn gửi gắm vào nhân vật người trí thức những suy tư
chiêm nghiệm đối với vận mệnh lịch sử và văn hóa của đất nước.
2.Trong hình tượng về người trí thức, Vũ Như Tô là nhân vật tâm đắc của nhà văn, là con người “to lớn”
vượt ra ngoài khuôn khổ thể loại bi kịch, là kiểu loại “nhân vật anh hùng của bi kịch” ( Phạm Vĩnh Cư).Vũ
Như Tô có sự tương đồng với các nhân vật trong bi kịch cổ điển phương Tây như Hamlet, vua Lia, thuộc
mẫu người không chịu sự áp chế Hành động của Vũ Như Tô mang ý thức phản kháng , không hiền từ yếu
đuối, có ý thức chủ động chống lại số phận.
Vũ Như Tô trở thành thiên tài đến mức huyền thoại là nhờ vào lòng ham muốn sáng tạo, tự học hỏi trau dồi
nghề nghiệp: “,nghe tiếng ai giỏi là tìm đến thụ giáo”. Niềm đam mê nghề được đền đáp xứng đáng bằng tài
năng xuất chúng: ” vẩy bút là chim, hoa hiện lên…, thần tình biến hóa như cảnh hóa công“; “Sai khiến gạch
đá như ông tướng cầm quân”. Nhà văn gửi vào nhân vật cảm hứng ngợi ca như huyền thoại: “ngàn năm
chưa dễ có một”, bởi thiên tài ấy mới xứng đáng với Cửu Trùng đài lộng lẫy.
Đặc điểm của nhân vật bi kịch là những tính cách đã định hình, thì nổi bật ở Vũ Như Tô là niềm say mê
nghệ thuật . Khát vọng nghệ thuật nung nấu trong tâm hồn, nên khi gặp người “đồng bệnh” Đan Thiềm
khuyên nên “tô điểm non sông” thì tài năng bung nở với một sức bật không gì có thể ngăn cản. Vũ Như Tô
xây Cửu Trùng Đài với một quyết tâm lớn, mặc cho “ dân gian lầm than”. Chà đạp lên tính mạng dân chúng
không phải là tính cách của người thợ cả đôn hậu Vũ Như Tô. Vậy vì sao quyền sống của dân lại bị hy sinh
một cách không thương xót? Bởi vì trong cuộc đấu tranh vì nghệ thuật thì con người nghệ sĩ đã chiến thắng
con người đời thường. Niềm ham mê nghệ thuật của Vũ Như Tô không hề thay đổi trong suốt diễn biến
kịch, mọi can ngăn đều không có tác dụng, mọi khó khăn đều được tìm cách vượt qua. Với Vũ Như Tô, cuộc
sống chỉ có ý nghĩa khi được sáng tạo nghệ thuật, Vũ Như Tô và niềm say mê không giới hạn là trạng thái
gây ra bi kịch. Sự chủ động là tính cách xuyên suốt và chi phối mọi hành động của Vũ Như Tô .Say mê với
khát vọng về công trình vĩ đại có thể sánh với hóa công, nghệ sĩ miệt mài sáng tạo ngay cả khi đang bị quân
nổi loạn đang truy bắt, khi biết dân chúng nổi loạn để “ giết ông và phá Cửu Trùng đài”. Bởi vì tâm trí
nghệ sĩ bị cuốn hút bởi cảnh quan tráng lệ của Cửu Trùng đài. Phải chăng chính Vũ Như Tô cũng là bi kịch
đối với gia đình? Và Vũ Như Tô là hiện thân của bi kịch của người nghệ sĩ khi luôn cô đơn trong hành
trình sáng tạo nghệ thuật?
Đối với nghệ sĩ, Cửu Trùng đài quý hơn tính mạng bản thân. Cơn nguy biến ập đến, cái chết kề cận, nhưng
Vũ Như Tô vẫn bình thản: “Tôi sống với Cửu Trùng đài chết cũng với Cửu Trùng đài Hồn tôi để cả ở đấy
thì tôi chạy đi đâu” ( hồi V). Với Vũ Như Tô sự sống và cái chết phụ thuộc vào việc còn hay mất Cửu Trùng
Trong kịch VŨ NHƯ TÔ, vấn đề số phận nghệ sĩ và hành trình sáng tạo nghệ thuật được nhà văn quan tâm
sấu sắc , nhân vật xoay trở trong các mối quan hệ không đơn giản. Với thợ thuyền và dân chúng, Vũ Như Tô
là “Ông Cả” gần gũi, thân thiện. Ngược lại, khi với mục đích xây Cửu Trùng Đài lộng lẫy, “ Ông Cả” sẵn
lòng để cho “ vua xa xỉ, công khố hao hụt, dân gian lầm than, thần nhân trách móc”. Phải chăng Vũ Như Tô
đứng về phía nhà vua? Lê Tương Dực là vị quân vương tồi tệ, nhưng có tiền bạc và quyền lực. Vũ Như Tô
chỉ có thể dựa vào vương quyền mới có cơ hội thực hiện khát vọng nghệ thuật , để cho tài năng được phát
triển tận độ. Nhận lời xây Cửu Trùng đài, hành động của Vũ Như Tô mang phẩm chất của người nghệ sĩ luôn
tôn vinh và coi nghệ thuật là cao quý hơn tất cả mọi giá trị khác trong cuộc sống. Trong xã hội phong kiến,
đây là khuynh hướng nghệ thuật thoát ly cuộc sống, các nhà Nho thường tìm nơi ở ẩn, các nghệ sĩ thường
trốn vào tháp ngà của văn chương.
Nghệ thuật xứng đáng được tôn vinh vì nó là sản phẩm cao quý trong sáng tạo. Nhưng vì nghệ thuật mà
hy sinh và chà đạp lên những giá trị khác của cuộc sống thì cần phải xem xét lại. Xuất phát từ mục đích cao
cả là sáng tạo nghệ thuật, nhưng Vũ Như Tô đã làm cho “ dân lầm than, man di oán giận”, vì thế trở thành
đối tượng cho dân chúng dồn nỗi căm hận. Dù đưa ra lý do biện hộ cho nghệ sĩ là” xây một cái đài vĩ đại
làm vinh dự cho non sông” thì cũng không thể tha thứ cho tội ác . Mang niềm đam mê nghệ thuật nên đã
không bỏ lỡ cơ hội được sáng tạo cái Đẹp, về điều này có thể cảm thông với nghệ sĩ . Nhưng vấn đề là ở chỗ
Vũ không nhận thức được sáng tạo cái Đẹp lại gây tai họa cho dân chúng. Bài học rút ra là không thể coi
trọng nghệ thuật mà chà đạp lên những giá trị khác trong cuộc sống. Cái chết bi thảm là bài học vô cùng đau
xót, là sự trả giá cho sự nhận thức không đầy đủ của người nghệ sĩ.
Vì giá trị của cái Đẹp mà coi thường những giá trị khác của cuộc sống, đó là điều đáng tiếc cho người
nghệ sĩ .Tài năng của nghệ sĩ làm ta khâm phục, nhưng tội lỗi lại gây phẫn nộ và tiếc nuối, khi: “ dân gian
đói kém nổi lên tứ tung…Trịnh Duy Sản mượn tiếng đi dẹp giặc rồi quay binh về làm loạn” . Vì cái Đẹp,
Vũ Như Tô đã coi Cửu Trùng Đài quý hơn sự sống muôn dân, cho nên cái Đẹp không có chỗ tồn tại. Bản
chất con người vốn hướng thiện, không thừa nhận cái Đẹp được xây dựng bằng cái ác, nên Vũ Như Tô phải
trả giá bằng mạng sống của mình. Trong “ chữ người tử tù” Nguyễn Tuân cũng thể hiện quan niệm cái Đẹp
phải đi cùng cái Thiện. Nhân vật Huấn Cao là anh hùng, là nghệ sĩ viết chữ đẹp, cảm phục tấm lòng “biệt
nhỡn liên tài” nên nhận lời viết chữ với lời khuyên quản ngục : “Hãy thay đổi nghề đi rồi hãy nghĩ đến
chuyện chơi chữ “. Phải chăng đây là sự gặp nhau trong tư tưởng của nhà văn khi thể hiện mẫu nhân vật tài
hoa nghệ sĩ?
6
-
+ "Bệnh Đan Thiềm" (như chữ của Nguyễn Huy Tưởng) là bệnh mê đắm người tài hoa, hay bệnh của kẻ
"biệt nhỡn liên tài" (như chữ của Nguyễn Tuân). Nhưng Cái Tài ở đây không phải Cái Tài nói chung mà là
Cái Tài siêu việt, siêu đẳng.
+ Đan Thiềm có thể quên mình để khích lệ, bảo vệ Cái Tài ấy, nhưng nàng luôn tỉnh táo, sáng suốt trong
mọi trường hợp vì nàng hiểu người, điều đời hơn, thức thời, mềm mại và dễ thích ứng với hoàn cảnh hơn Vũ
Như Tô. Hai lần nàng khuyên nhủ Vũ Như Tô đều hết sức sáng suốt, nhưng lần thứ nhất lời khuyên có hiệu
lực; lần thứ hai thì không và bi kịch của Đan Thiềm chủ yếu gắn với thất bại này. Tất nhiên, nàng chỉ đau xót
và tiếc thay cho Vũ Như Tô chứ không oán trách ông. Giữa nàng với người đồng bệnh Vũ Như Tô vẫn có
một khoảng cách không thể vượt qua. Tâm lí của Đan Thiềm ở hồi V tập trung diễn biến theo sự thành bại
của lời - cũng là hành động - khuyên can này.
7
b) Diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm
Ở hồi cuối, cả Vũ Như Tô và Đan Thiềm đều lâm vào trạng thái khủng hoảng với một nỗi đau chung; sự
vỡ mộng thê thảm. Nhưng diễn biến tâm trạng của họ có chiều hướng vận động và biểu hiện khác nhau.
- Đan Thiềm cũng đau đớn nhận ra thất bại của giấc "mộng lớn" xây Cửu Trùng Đài, nhưng nhạy bén,.
sớm sủa kịp thời hơn Vũ Như Tô. Tâm trí của nàng giờ đây không còn hướng vào thành bại của việc xây
Cửu Trùng Đài, mà hướng vào sự sống còn của Vũ Như Tô, người nghệ sĩ tài ba "ngàn năm chưa dễ có
một". Nàng khẩn khoản khuyên Vũ đi trốn và khi thấy lời khuyên của mình vô hiệu thì hốt hoảng, đau đớn
tột cùng. Trong mấy lớp liên tiếp của hồi V, Đan Thiềm đã nhiều lần khuyên Vũ Như Tô "trốn đi". Đến lúc
nhận ra ngay việc đổi mạng sống của mình ("Tướng quân nghe tôi. Bao nhiêu tội tôi xin chịu hết. Nhưng xin
tướng quân tha cho Ông Cả. Ông ấy là một người tài ") để cứu Vũ Như Tô cũng không được nữa thì Đan
Thiềm đành buông lời vĩnh biệt tất cả (Lưu ý: nàng nói: "Đài lớn tan tành! Ông Cả ơi! Xin cùng ông vĩnh
biệt!", mà không nói : "Vĩnh biệt ÔNg Cả!"). Đó cũng là lời vĩnh biệt mãi mãi Cửu Trùng Đài, vĩnh biệt một
"giấc mộng lớn" trong máu và nước mắt.
- Vũ Như Tô, trái lại,vẫn không thể thoát ra khỏi trạng thái mơ màng, ảo vọng của chính mình. Ông
không tin rằng, cái việc cao cả mình làm lại có thể bị xem là tội ác, cũng như không thể tin sự quang minh
chính đại của mình lại bị rẻ rúng, nghi ngờ. Sự vỡ mộng của Vũ Như Tô vì thế đau đớn, kinh hoàng gấp bội
so với Đan Thiềm. Nỗi đau ấy bộc lộ thành tiếng kêu bi thiết mà âm điệu não nùng, khắc khoải của nó thành
âm hưởng chủ đạo bao trùm đoạn kết đã đành, nó còn thành một thứ chủ âm dội ngược lên toàn bộ những