Cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của phép nối trong tiếng Việt( so sánh với tiếng Anh) - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------

Ngô Thị Bảo Châu
CẤU TRÚC, NGỮ NGHĨA, NGỮ DỤNG
CỦA PHÉP NỐI TRONG TIẾNG VIỆT
(SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
loại; còn sự dị biệt lại phản ánh sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ cũng như sự
nghiêng về mặt hình thức ngữ pháp – tiếng Anh hay ngữ nghĩa – tiếng Việt của
hai ngôn ngữ.
Đồng thời, việc nghi
ên cứu đề tài này cũng phục vụ trực tiếp cho việc giảng
dạy phân môn Ngữ pháp văn bản, Tiếng Việt thực hành cũng như việc rèn luyện
ngoại ngữ của người viết.

2. Lịch sử vấn đề
2.1. Ngoài nước

Năm 1976, nhà xuất bản Lodon và Nework đã cho ra đời quyển “Cohesion
in English” –Phép Liên kết trong tiếng Anh của M.A.K Halliday và Ruqaiya
Hassan [108]. Đây có thể xem là công trình đầu tiên đánh dấu lịch sử nghiên cứu
về phép nối. Trong quyển sách, hai tác giả đã trình bày khá kỹ về các phép liên
kết: Quy chiếu (Reference), Phép thế (Substitution), Phép tỉnh lược (Ellipsis),
Phép liên kết từ vựng (Lexical cohesion) và trong đó có Phép nối (Conj
unction).
Về phép nối, Halliday và Hassan nhấn mạnh rằng sự nối kết phải dựa trên mối
quan hệ ngữ nghĩa của chúng. Nhưng đó không phải là mối quan hệ cố định, mà
là “cái theo sau được kết nối một cách hệ thống với cái đã đi trước”. Đây là công
trình nghiên cứu khá kỹ và đi vào chi tiết vào phép nối nói riêng, các phép liên
kết khác nói chung. Sau đi đưa ra khái niệm về phép nối, Halliday và Hassan đã
phân phép nối thành 4 loại chính theo quan hệ ngữ nghĩa của chúng: i.
Bổ sung
(Additive), ii.Đối lập (Adversative), iii.Nhân quả (Causal) và iv.Quan hệ thời
gian. Đồng thời, tác giả cũng thống kê một số liên từ biểu hiện những quan hệ

giả cũng t
rình bày những phép liên kết cơ bản, nhưng sự phân chia có khác
trước. M.K.Halliday nhập tỉnh lược và thay thế làm một; như vậy, từ năm phép
liên kết, trong công trình này chỉ còn bốn. Tác giả phân chia tỉ mỉ Phép nối theo
ba lĩnh vực: i.Chi tiết hóa (Elaboration), ii.Bành trướng (Expantion) và iii.Tăng
cường (Enhancement). Theo chúng tôi, cách nhìn nhận liên kết dựa trên khái
niệm “cú” của M.K.Halliday có nhiều ưu điểm
, nó mang tính khái quát cao. Và
chúng tôi, trong luận văn này, phần lớn theo quan điểm của M.K.Halliday để
nghiên cứu phép nối của tiếng Việt. Đồng thời, trong công trình này, Halliday
cũng trình bày khá kỹ về các quan hệ ngữ nghĩa của phép nối. Trên cơ sở kế

thừa, chúng tôi soi sáng vào phép nối tiếng Việt; đồng thời phân chia
lại, thay
đổi một số thuật ngữ để phù hợp với một ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt.

m lại, Halliday là một trong những người đặt những viên gạch đầu tiên
để xây dựng nền móng cho việc tìm hiểu phép nối nói riêng, liên kết nói chung.

Đến năm
1992, nhà xuất bản Philadelphia ở Amsterdam cho ra mắt bạn
đọc công trình của J.R.Martin [120] về “English Text – System and Structure”
(Văn bản tiếng Anh - Hệ thống và Cấu trúc). Đây có thể xem
là công trình
nghiên cứu khá kỹ về các phép liên kết, trong đó có phép nối. Chính tác giả này
đưa đến bạn đọc khái niệm Nối bên trong (Internal relations) và Nối bên ngoài
(External relations) - điểm mới của tác giả so với Halliday. Và Martine đã đưa ra
những tiêu chí phân biệt hai loại quan hệ nối này. Đặc biệt, tác giả đã dựa vào
ngữ cảnh cụ thể (Circumtaintial identify
ing relationals) để phân biệt Nối bên

lược (Ellipsis).
Theo hai tác giả này, 1).trực chỉ (deictic) là những đơn vị định vị các nhân

vật tham gia giao tiếp, định vị không gian, thời gian (ngữ cảnh hội thoại và thời
gian hội thoại). Cụ thể đó là: i.Participant identification (Nhận ra người tham
gia giao tiếp), ii.Place and time indicators (yếu tố chỉ không gian, thời gian),
iii.Temporal ordering expressions (Sự diễn đạt theo trật tự thời gian) và iv.Tense
and aspect (Thì và Thể - cũng là một yếu tố xác định thời gia
n của hành động).
Về 2).Loại thể (Generic), đó là những yếu tố làm cho bố cục của văn bản trở nên
rõ ràng, theo một mẫu thức xác định: “in set patterned ways”, chẳng hạn như
phân chia văn bản thành từng chapter (chương), paragraphs (đoạn)…Về 3).Dấu
hiệu logic (Logical signposts), đó là những dấu hiệu trình bày ngữ liệu t
heo một
chuỗi logic, chuỗi trật tự thời gian như: first (đầu tiên), then (sau đó)…, on one

hand (một mặt), on the other hand (mặt khác)…Tó
m lại, ba ý nghĩa ở cấp độ vĩ
mô trên chính là những quan hệ ý nghĩa chỉ thời gian, không gian và trật tự diễn
đạt.
Và h
ai tác giả đi sâu vào từng khía cạnh: i.Text Orientation (Định hướng
văn bản), ii.Grammatical cohesion (Liên kết ngữ pháp), iii.Logical connectors
(Những yếu tố liên kết logíc) và iv.Lexical Cohesion (Liên kết từ vựng). Trong
mỗi phần vừa nêu, Peter Collins và Carmella Hollo đều có đề cập ít nhiều đến
phép nối. Chẳng hạn, trong phần Text Orientation (Định hướng văn bản), hai tá
c
giả có kể đến: Temporal ordering expression – Diễn đạt trật từ thời gian (Tr164)
và liệt kê liên từ như: First, second, next... Đến mục Logical connectors, tức
những yếu tố liên kết logic, tác giả lại đưa ra bốn loại liên kết logíc: i.Addictive


2.2. Trong nước
Phạm
vi trong nước, cũng có khá nhiều công trình đề cập đến văn bản, l
iên
kết và cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của phép nối.
Năm 1980, Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội đã
giới thiệu với bạn đọc công trình “Ngữ pháp tiếng Việt” của Hoàng Trong Phiến
[66]. Trong công trình này, điểm đóng góp nổi bật của tác giả chính là đưa ra các
mô hình của câu ghép ứng với từng loại quan hệ trong câu ghép - mà theo quan
niệm của chúng tôi là phép nối như: i.câu nhân quả, ii.câu điều kiện, iii.câu nhân
nhượng, i
v.câu mục đích, v.câu so sánh, vi.câu đồng loại, vii.câu tương phản,
viii.câu lựa chọn và ix.câu gộp. Chính những mô hình này là tài liệu vô cùng quí
báu để chúng tôi xem xét các quan hệ ngữ nghĩa cơ bản của phép nối cũng như
bổ sung thêm vào phép nối một hệ thống liên từ thể hiện sự nối kết giữa các cú
hay phát ngôn.
Năm
1985 (tái bản vào 05/04/1999), công trình của Trần Ngọc Thêm [76]
về “Hệ thống liên kết và văn bản Tiếng Việt” đã được công bố. Đây là công trình
có giá trị và đánh dấu một bước phát triển mới của ngữ pháp văn bản nói chung,
phép nối nói riêng. Công trình nghiên cứu sâu rộng các khía cạnh của văn bản;
khái quát cả ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của phép nối. Công
trình trình bày ba phần chính. Phần 1 gồm b
a chương, đề cập về các khái niệm
và cái nhìn khái quát về “Liên kết văn bản”. Ở phần 2, tác giả bắt đầu đi vào
“Các phương thức liên kết giữa các phát ngôn”. Đây là chương đề cập đến các

i.“Bằng phương thức ngữ kết học” và ii.“Bằng phương thức ngữ dụng học”.
Trong phương thức liên kết ngữ kết học lại được chia thành ba tiểu loại: Liên kết
duy trì chủ đề, Liên kết phát triển chủ đề và Liên kết logic. Trong đó, phép nối
thuộc phương thức liên kết logic. Tác giả cũng đã đề cập đến phép nối không có
liên từ: “mặc dù từ nối không được sử dụng nhưng quan hệ ngữ nghĩa vẫn được
xác lập” [74;50]. Nhưng chung qui lại, đóng góp chủ yếu của công trình là
nghiên cứu các phương tiện liên kết trên
ngữ liệu lời nói.

Năm 2006, quyển “Văn bản v
à liên kết trong tiếng Việt: Văn bản, Mạch
lạc, liên kết, đoạn văn” của Diệp Quang Ban [6] được tái bản (lần thứ ba). Trong
công trình, tác giả trình bày thành từng bài mục rõ ràng về bốn nội dung đã nêu
trong nhan đề sách, rất tiện cho việc tham khảo. Ở phần 2, tác giả đã đề cập đến
phép liên kết, trong đó có Phép nối (từ tr132-134). Lấy phát ngôn làm cơ sở
nghiên cứu như Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban cũng chi
a phép nối thành hai
loại cơ bản: Phép nối lỏng và Phép nối chặt. Đặc biệt, ở phần một, tác giả đã đưa
ra khoảng 15 cách hiểu về khái niệm về văn bản, phân biệt khái niệm văn bản và
diễn ngôn, ngôn ngữ nói và viết và nêu lên những đặc trưng của một văn bản nói

chung. Trần Ngọc Thêm cũng đã đề cập đến cấu trúc đề thuyết – cấu trúc mang
ý nghĩa thông báo trong văn bản.

Năm
2007, nhà xuất bản Đại học Sư phạm đã cho ra mắt bạn đọc quyển
“Văn bản” của tác giả Diệp Quang Ban [7] theo dự án đào tạo giáo viên THPT
cuả Bộ Giáo dục và Đào Tạo. Phải công nhận đây là công trình viết khá bao quát
về các khía cạnh của văn bản; công trì
nh đề cập hầu hết các phép liên kết, trong

cơ sở của phép liên kết nói chung, phép nối nói riêng.
Nhìn chung, những công trì
nh trên đã đề cập khá toàn diện về những vấn
đề chung về văn bản, liên kết và phép nối.

Năm 1995, Đỗ Thị Ki
m Liên [56] đã đề cập đến “Quan hệ ngữ nghĩa
trong câu ghép không liên từ” - Ngôn ngữ số 2/1995. Trong công trình này, tác
giả đã trình bày khá kỹ về quan niệm của các nhà ngữ pháp đi trước: một là

không đề cập đến loại câu ghép không liên từ, hai là không tách câu ghép không
liên từ thành một đối tượng nghiên cứu riêng. Tác giả cũng đề cập đến “những
nhân tố tạo nghĩa trong câu ghép không liên từ”. Đó chính là cấu trúc chuyền tải
ý nghĩa; các phương tiện liên kết như phụ từ tình thái, trật tự trước sau…; hay ý
nghĩa của các thành tố trong loại câu ghép này. Về quan hệ ngữ nghĩa, vì đánh
giá cao vai trò của vị ngữ trong việc thể hiện quan hệ ngữ nghĩa trong c
âu ghép
không liên từ, nên tác giả xem xét các kiểu quan hệ ngữ nghĩa chính của loại câu
ghép này trên hai phương diện cơ bản: i.Các kiểu quan hệ ngữ nghĩa giữa các vị
ngữ và ii.Số lượng các thành tố trong vị ngữ. Đồng thời, tác giả cũng nêu lên
một số quan hệ ngữ nghĩa trong câu ghép không có liên từ như: i.Quan hệ ngữ
nghĩa đẳng kết, ii.Quan hệ đối
sánh (so sánh đồng nhất, so sánh đối lập - khác
biệt, so sánh đối ứng); và iii.Quan hệ ngữ nghĩa tiếp liên (bao gồm 7 nhóm:

nhóm
ý nghĩa thời gian – hành động, nhóm quan hệ nguyên nhân – kết quả,
nhóm quan hệ điều kiện – kết quả, quan hệ luận chứng – thuyết minh, quan hệ
ngữ nghĩa bao hàm, quan hệ giải thích, và quan hệ kết quả, nguyên nhân). Bên
cạnh đó, Đỗ Thị Kim Liên còn đề cập đến “giá trị của các cú trong chỉnh thể của

Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến “vai trò, ngữ nghĩa, ngữ dụng của các từ ngữ
chuyển tiếp chỉ quan hệ nghịch đối”. Đó là tính kết nối, thông qua việc “phá vỡ
tính hoàn chỉnh vốn có của nó”. Có mâu thuẫn nhưng mức độ không cao nên
câu nghịch đối vừa “tạo lập quan hệ, vừa là dấu hiệu chỉ dẫn hay xác nhận quan
hệ”; và đây là quan hệ thực hiện liên kết “hướng ngoại, gián tiếp, hồi chỉ”. Tó
m
lại, trên định hướng phân loại của Trần Ngọc Thêm, công trình đã cụ thể hóa
tương đối tỉ mỉ chi tiết, đồng t
hời phân chia thêm những tiểu loại mới về các loại
quan hệ ý nghĩa trong phép nối tiếng Việt. Đồng thời, tác giả cũng đi vào một
quan hệ cụ thể - quan hệ nghịch đối để phân tích giá trị về mặt ngữ dụng của loại
quan hệ này. Do đó, công trình có giá trị tham khảo về phương diện ngữ nghĩa,
ngữ dụng của luận văn.

Cũng năm 2004, Tạp chí Ngôn ngữ số 4 đã đăng bài viết của Võ Văn
Chương [16] về “Liên kết hồi qui trong ngôn ngữ học văn bản – Vài kiến nghị về
cách xác định và phân l
oại”. Đóng góp đầu tiên của tác giả là đi vào phân biệt
phép tỉnh lược và phép hồi quy. Sau đó, tác giả đi vào miêu tả các dạng thức của
liên kết hồi qui, dựa trên hai cơ sở chủ yếu sau: 1).dựa vào từ loại của kết tố và
2).dựa vào quan hệ ngữ nghĩa giữa chủ tố và kết tố. Trên tiêu
chí phân loại thứ
nhất, tác giả chia liên kết hồi qui thành hai dạng chủ yếu: i..kết tố hồi qui là một
đại từ - và ii.kết tố hồi qui là một ngữ danh từ. Hai loại này chủ yếu gặp trong
phép thế. Theo tiêu chí phân l
oại thứ hai, tác giả chia liên kết hồi qui thành ba
tiểu loại: i.kết tố hồi qui là sự lặp lại từ vựng của chủ tố, ii.kết tố hồi qui là một

ngữ danh từ đồng nghĩa với ngữ danh từ làm chủ tố, và iii.
kết tố hồi qui là một

phép nối; đóng góp của công trình chủ yếu là ở chỗ gợi mở về chức năng thể
hiện liên kết hồi chỉ, khứ chỉ của phép nối nói chung.

Năm
2004, Lê Thị Minh Hằng [39] đã đóng góp bài viết về “Một đề nghị
phân loại câu điều kiện tiếng Việt” cho tạp chí Ngôn ngữ (số 2). Sau khi thống
kê một số cách phân loại câu điều kiện của một số nhà ngữ pháp Tiếng Việt như
Hoàng Tuệ, Ho
àng Trọng Phiến…; tác giả đã đưa ra kiến nghị về một hướng
phân loại riêng. Đứng trên quan điểm ngữ nghĩa, Lê Thị Minh Hằng phân loại
câu điều kiện theo hai tiêu chí cơ bản: i.Quan hệ nhân – quả và ii.Tính hiện thực.
Theo tiêu chí “quan hệ nhân quả”, tác giả chia câu điều kiện thành hai bộ phận:
Bộ phận nêu quan hệ nhân quả và Bộ phận nêu quan hệ tiền đề - kết luận. Theo

tiêu chí “tính hiện thực”, tác giả chia câu điều kiện thành hai loại: Điều kiện giả
định và phi giả định (hiện thực). Hệ thống phân loại của tác giả được cụ thể hóa
như sau: 1).Điều kiện kết quả: i.Giả định (bao gồm:
Giả thuyết, và Phản sự thật)
và ii.Phi giả định (bao gồm: Tất yếu và Tập quán. 2).Tiền đề - kết luận (gồm ba
tiểu loại: i.Suy đoán, ii.Sóng đôi và iii.Dẫn nhập tình huống). Ngoài ra, công
trình còn cung cấp một số liên từ (mà tác giả gọi là “chỉ tố đánh dấu về mặt hình
thức”) thể hiện những loại câu điều kiện trên. Nhìn chung, công trình xoáy sâu
vào một quan hệ ngữ nghĩa cơ bản của phép nối - cung cấp một tiêu chí mới
đồng t
hời đưa ra một kết quả phân định mới về loại quan hệ này.

Ngoài ra, có một số công trì
nh đánh dấu về việc nghiên cứu về ngữ dụng
trong phép nối.
Năm

gian – đồng thời và nối tiếp. Đây chính là cơ sở để chúng tôi xem xét ý nghĩa
ngữ dụng của một số liên từ đa chức năng trong phép nối tiếng Việt. Trên
tạp chí ngôn ngữ số 12, năm 2008 có bài đăng của Nguyễn Đức Dân
[23] về “Logic ngữ nghĩa của từ thì”. Trong bài viết, tác giả đã đề cập đến những
hàm ý ngữ dụng của cấu trúc nếu…thì, tức quan hệ điều kiện kết quả như: bác
bỏ, bác bỏ để khẳng định, giải thích, khuyên, từ chối, đánh giá, khuyên, …Đặc
biệt, Nguyễn Đức Dân đã trình bày những quan hệ điều kiện hệ quả không chứa
liên từ, m
à ý nghĩa điều kiện của chúng vẫn được thể hiện.12 trang báo đã đi sâu
vào khai thác ý nghĩa ngữ dụng của phép nối nói chung, một quan hệ ngữ nghĩa
cơ bản của phép nối – quan hệ điều kiện – kết quả nói riêng. Điểm nổi bật của
tác giả này là đi vào khai thác ý nghĩa ngữ dụng của các quan
hệ chủ yếu trong
nội bộ một phát ngôn.

Ngoài ra, năm
2005, công trình “Bắt buộc” và “tùy ý” về hai cách biểu
đạt nghĩa trong ngôn ngữ của Cao Xuân Hạo [37] đã gợi mở về vấn đề so sánh
đối chiếu về phép nối giữa tiếng Anh và tiếng Việt. Và tác giả đã khẳng định,
chính từ vựng và ngữ pháp là công cụ để xoay quanh trung tâm duy nhất là nghĩa
học: “Ta thường thấy có những ngữ nghĩa mà trong ngôn ngữ này thì biểu đạt
bằng phương tiện từ vựng mà trong ngôn ngữ kia lại biểu đạt bằng phương tiện
ngữ pháp” [37;6]. Tác giả cũng chỉ ra một cách khái quát những sự khá
c biệt về
đặc điểm của loại hình ngôn ngữ có biến đổi hình thái và ngôn ngữ đơn lập, qua
đó, tác giả khẳng định cấu trúc nội bộ của từng ngôn ngữ đóng vị t
rí trung tâm

cứu
Do sự hạn hẹp về kiến thức, thời gian cũng như quy mô của công trình,
chúng tôi chỉ tập trung chú ý vào những khía cạnh cơ bản sau:
- Như đã xác định, phép nối được chúng ta khảo sát trên ba bình diện: cấu
trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng. Và có thể phép nối có liên quan mật thiết với với một

số phép li
ên kết khác, nhưng đối tượng tiếp cận chính của chúng tôi vẫn là phép
nối.
- Hình thức là hình thức của một nội dung, tuy nhiên, trong cách tiếp cận
của chúng tôi, mặt hình thức của phép nối được chú ý nhiều hơn mặt nội dung.
- Khi nghiên cứu về phép nối, chúng tôi chỉ chú ý đến những đơn vị có
chức năng nối hai hay nhiều cụm câu (cú), phát ngôn với nhau, mà không xem
xét những trường hợp liên kết trong nội bộ một phát ngôn, chẳng hạn: Nam và

An là bạn thân. Như vậy, chúng tôi chỉ khảo sát nối giữa các cú, không chú ý đến
nối trong nội bộ một cú.

5. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài một số thủ pháp nghiên cứu mà bất kỳ công trình nào, dù khoa học
tự nhiên hay khoa học xã hội đều phải sử dụng như sưu tập, miêu tả, phân loại;
luận văn này sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Tính hệ thống, mặt cấu trúc bên trong
và các loại quan hệ trong phép nối được l
uận văn quan tâm, vận dụng.
- Phương pháp ngữ nghĩa – cú pháp: Nói tới phép nối, là nói tới các loại
quan hệ ngữ nghĩa, do vậy phương pháp này được ưu tiên phân tích.
- Phương pháp phân tích ngữ dụng: Phép nối chỉ được thực hiện một cách
rõ ràng trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Do vậy, các yếu tố như ngữ
cảnh, thể loại, tính tương tác được luận văn vận dụng một cách tổng hợp.

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Văn bản
1.1.1. Khái niệm
Có nhiều quan niệm khác nhau về văn bản. Một số tác giả cho rằng văn
bản là sản phẩm của cả hoạt động viết và nói, tức giao tiếp nói chung.
Sách giáo khoa Tiếng Việt 9 (NXBGD – 1995) định nghĩa văn bản như
sau: “Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, nó là một
thể thống nhất có tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức”.
D.Crystal cũng quan niệm rằng “Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn
xuất hiện một cách tự nhiên dưới dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ,
được nhận dạng vì những mục đích phân tích. Nó thường l
à một chỉnh thể
ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một
cuộc thoại, một tờ áp phích.” [97;72]
.
Nhưng một số tác giả lại cho rằng văn bản chỉ thuộc dạng viết.
Theo David Nunan: “…tôi sẽ sử dụng thuật ngữ văn bản để chỉ bất kì
cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp.”[64;21]
, bởi tác giả phân
biệt khái niệm văn bản với khái niệm diễn ngôn - văn bản trong ngữ cảnh, tức
văn bản nói.
Theo G. Cook thì
“Văn bản: một chuỗi ngôn ngữ giải quyết được ở mặt
hình thức, bên ngoài ngữ cảnh.” [95;158].
G.Brown và G.Yule cũng khẳng định: “Chúng ta sẽ sử dụng văn bản
như một thuật ngữ chuyên mô
n, để nói đến việc ghi lại bằng ngôn từ của một
hành động giao tiếp.” [10;6].


hể thống nhất); hay – “a text is a unit of
language in use” (văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ tồn tại trong quá trình
sử dụng – giao tiếp hay tư duy).
Theo Halliday, khái niệm văn bản không phải bao giờ cũng được xác
định một cách rõ ràng. Theo tác giả, mọi người hay hiểu lầm rằng chúng ta có
thể dễ dàng xác định những bộ phận (câu, cụm câu) nào sẽ cấu thành nên một
văn bản. Nhưng thật sự thì văn bản được xác định tùy theo văn cảnh và nội
dung của những câu, cụm câu đi trước va sau nó: “…We can consider that a
new text begins where a sentence shows no cohesion with those that have
preseded.” (Một văn bản được đánh dấu ở chỗ bắt đầu một câu mà câu đó
không hề có mối quan hệ nào với những câu trước đó) [108;295]
.
Như vậy, theo Halliday nếu cụm câu (bao gồm nhiều câu – phát ngôn)
có mối quan hệ về ý nghĩa sẽ tạo thành một văn bản. Theo cách hiểu này,
Halliday chỉ quan tâm đến mội dung ý nghĩa mà không quan trọng hóa về mặt
hình thức của văn bản. Đồng thời, việc giải mã văn bản không phải là chuyện
dễ dàng và đơn giản, nó không
chỉ đòi hỏi tri thức về ngôn ngữ học mà còn là
những kiến thức liên quan đến văn hóa, xã hội, tâm lí…

1.1.2. Đặc điểm
Bùi Tất Tươm đã đưa ra những đặc điểm của văn bản như: Tính mục
đích, tính hoàn chỉnh (nội dung và hình thức) và tính mạch lạc.
- Tính mục đích: Đó là ý định tác động của người nói, viết đư
ợc cụ thể
hoá qua văn bản bằng lực ngôn trung của nó (ví dụ: miêu tả, tường thuật, nghi
vấn, yêu cầu, ra lệnh, khẳng định, thuyết phục, đề nghị…).
Tác giả Bùi Tất Tươm lại khẳng định: “Văn bản là sản phẩm của hoạt
động ngôn ngữ - một trong những công cụ của hoạt động ứng xử” mà lực
ngôn trung có thể thực hiện được hoàn toàn hay một phần mục đích giao tiếp.

m lại: “Mạch lạc là tập hợp những quan hệ có ý nghĩa dùng cho mọi
văn bản, phân biệt văn bản với “phi văn bản” và làm phương tiện liên hệ phụ
thuộc lẫn nhau về nội dung giữa các câ
u, các đoạn văn cụ thể. Mạch lạc
không nêu văn bản thông tin cái gì, mà nêu văn bản tổ chức thành chỉnh thể
ngữ nghĩa như thế nào?” [84;370].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status