Ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt ( so sánh với thành ngữ tiếng Anh) - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ BẢO NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ CHỈ ĐỘNG VẬT
TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT
(SO SÁNH VỚI THÀNH NGỮ TIẾNG ANH)

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
TS. HOÀNG DŨNG
TP. HCM - p2003
MỞ ĐẦU
0.1. Lý do chọn đề tài
Mỗi ngôn ngữ, thông qua ngôn từ có những cấu trúc tạo nghóa khác nhau. Những cấu
trúc này thể hiện tư duy văn hoá dân tộc, tâm lý, trí thông minh và sự tài hoa của người bản
ngữ. Thành ngữ là một trong những cấu trúc tạo nghóa ấy. Thành ngữ không chỉ có tác dụng
làm cho lời văn hay, hình tượng đẹp mà còn có tác dụng diễn tả ý tưởng một cách sâu sắc, tế
nhò, hàm súc. Đặc biệt là thành ngữ có thành tố chỉ động vật.

0.2. Lòch sử vấn đề nghiên cứu
Do vò trí quan trọng trong kho từ vựng của một ngôn ngữ, thành ngữ đã thu hút được sự
quan tâm của giới nghiên cứu. Thành ngữ không chỉ là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ

[57].
Ngoài ra, có một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành như:
 Một vài nhận xét về thành ngữ so sánh có tên gọi động vật tiếng Việt (Nguyễn Thúy
Khanh, Ngôn ngữ, số 3, 1994).
 Các con vật và một số đặc trưng của chúng được cảm nhận từ góc độ dân gian và khai
thác để đưa vào kho tàng thành ngữ tiếng Việt (Phan Văn Quế, Ngôn ngữ, số 4, 1995).
 Chú chuột trong kho thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt (Phương Trang, Ngôn ngữ và
đời sống, số 1, 1996).
 Trường nghóa của một thực từ ( Dương Kỳ Đức, Ngữ học trẻ, 1996).
 Mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ qua hình ảnh trâu bò trong thành ngữ Việt – Nga –
Anh (Huỳnh Công Minh Hùng, Hội thảo ngôn ngữ và văn hóa, Hà Nội, 2000).
 Hình ảnh gấu trong thành ngữ (trên cứ liệu tiếng Việt-Nga-Anh-Pháp và một số tiếng
Châu Âu khác) (Huỳnh Công Minh Hùng, T/c Khoa học ĐHSP-TP.HCM, số 24, 2000).
 Ngựa trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Phong Hoá, Ngôn ngữ và đời sống, số 1+2,
2002)
…………
Về tiếng Anh, công trình nghiên cứu thành ngữ có thành tố chỉ động vật trong tiếng
Anh tại Việt Nam được xem là tương đối bao quát nhất cho đến bây giờ có lẽ là luận án phó
tiến só của Phan Văn Quế: Ngữ nghóa của thành ngữ – tục ngữ có thành tố chỉ động vật trong
tiếng Anh (trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt) [86]. Luận án này đã đề cập đến thành
tố chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt khi phân tích bình diện ngữ nghóa và so sánh, đối
chiếu sự khác biệt về nghóa giữa thành tố chỉ động vật trong thành ngữ - tục ngữ tiếng Anh
và tiếng Việt nhưng không vì mục đích nghiên cứu nó mà chỉ nhằm làm sáng tỏ ngữ nghóa
những thành ngữ có thành tố động vật trong tiếng Anh.
Ngoài ra, có một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành có đề cập đến thành
tố chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Anh:
 Sơ bộ tìm hiểu các sắc thái ngữ nghóa của những từ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Anh
(Phan Văn Quế, Nội san Đại học Ngoại ngữ – Đại học quốc gia Hà Nội, số 1/1996).
 Thành ngữ tiếng Anh và dạng đặc biệt của nó: cụm động từø - giới từ (Lê Hồng Lan, Ngôn
ngữ và đời sống, số 2/1996).

được nhìn thấy một cách rõ ràng.
Cả ba phương pháp kể trên đều có tầm quan trọng như nhau và được vận dụng kết hợp
xuyên suốt luận văn.
0.5. Tư liệu nghiên cứu
Một trong những nhiệm vụ của luận văn là nhằm thống kê càng nhiều càng tốt những
thành ngữ có thành tố chỉ động vật trong tiếng Việt, nên chúng tôi cố chọn lựa một số tài
liệu tiêu biểu về thành ngữ làm cơ sở cho mọi sự tập hợp và đối chiếu khác. Tài liệu mà
chúng tôi chọn là: Thành ngữ – tục ngữ Việt Nam do Bùi Hạnh Cẩn, Bích Hằng, Việt Anh
biên soạn; Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam của Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang
Hào; Từ điển thành ngữ Việt Nam của Nguyễn Văn Khang; Thành ngữ tiếng Việt của
Lương Văn Đang, Nguyễn Lực. Nhưng tài liệu chủ yếu là cuốn Từ điển thành ngữ tiếng Việt
phổ thông do Nguyễn Như Ý chủ biên. Đây là cuốn từ điển mới nhất và tương đối đầy đủ về
thành ngữ tiếng Việt (xuất bản năm 2002). Tuy nhiên, chính tác giả cũng không dám khẳng
đònh tất cả những đơn vò trong từ điển này là thành ngữ. Theo ông, trong đó “bao gồm một
vài đơn vò chưa xác đònh rõ là thành ngữ hay tục ngữ, một vấn đề hiện còn để ngỏ trong Việt
ngữ học”[43, tr.7].
Về thành ngữ tiếng Anh, chúng tôi sử dụng cuốn Oxford Learner’s Ditionary of
English Idioms của H. Warren, (Oxford University Press, 1994); Từ điển thành ngữ Anh
Việt của Trần Thanh Giao (Đà Nẵng, 1995); Từ điển Anh Việt của Viện Ngôn ngữ học (Tp.
HCM, 1993).
0.6. Đóng góp của luận văn
Về lý luận
:
Thành ngữ chứa thành tố chỉ động vật là mảng đề tài rất phong phú và lý thú được
nhiều người quan tâm. Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hy vọng đóng góp một phần công
sức của mình vào việc xây dựng bộ môn thành ngữ học. Ngoài ra, đề tài còn nhằm góp phần
chứng minh bản sắc văn hoá riêng biệt ở mỗi dân tộc cũng như tính phổ quát văn hoá ở
nhiều dân tộc thông qua so sánh đối chiếu thành ngữ có thành tố chỉ động vật trong tiếng
Việt và tiếng Anh.
Về thực tiễn

Phan [110], Dương Quảng Hàm [10], các tác giả cuốn Lòch sử văn học Việt Nam [30]), thành
ngữ là cụm từ cố đònh mà các từ trong đó đã mất tính độc lập, kết hợp lại với nhau thành một
khối vững chắc, hoàn chỉnh, khó có thể thay đổi (ví dụ: Thành ngữ mẹ tròn con vuông không
thể đổi thành Mẹ vuông con tròn hay Mẹ cũng tròn con cũng vuông hay Mẹ tròn lắm con
vuông lắm...). Cũng theo các nhà nghiên cứu, thành ngữ thường biểu hiện một khái niệm
tương tự như đơn vò từ, dùng để tạo thành phần câu như từ, nói cách khác, nó có chức năng
như từ; người ta có thể thay thế một thành ngữ bằng một từ tương ứng với nó trong câu. Đây
là một quan niệm phổ biến nhưng không thật thuyết phục. Khái niệm là câu chuyện tư duy,
còn về mặt ngôn ngữ, biểu hiện khái niệm bằng từ hay ngữ là vấn đề khác. Ta có thể thay
Tôi đi guốc trong bụng
nó bằng Tôi rất hiểu nó thì rất hiểu là ngữ, chứ không phải từ.
Trong khoảng vài chục năm gần đây, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ và nghiên cứu văn
học Việt Nam rất quan tâm đến việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ, song ranh giới giữa
chúng vẫn chưa được xác đònh rõ rệt. Bởi lẽ giữa chúng có rất nhiều điểm giống nhau: cả hai
đều là những đơn vò có sẵn, cố đònh, cấu trúc chặt chẽ, giàu hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm
và được tái hiện trong giao tiếp. Thậm chí có nhiều người cho rằng không cần thiết tách
riêng thành ngữ và tục ngữ. Chẳng hạn như Trương Đông San, ông gọi chung thành ngữ và
tục ngữ là ngữ vò. Theo ông “ngữ vò là đơn vò ngôn ngữ trên cấp độ từ vò gồm hai từ vò trở
lên được tái hiện trong lời nói dưới dạng có sẵn, cố đònh về hình thức và nội dung” [105].
Ý kiến đầu tiên đáng chú ý về sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ là của Dương
Quảng Hàm [10]. Ông viết: “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghóa đầy đủ, hoặc
khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng
mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho màu mè”. Còn theo Vũ Ngọc Phan thì:
“Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý,
một công lý, có khi là một sự phê phán. Còn thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ
phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý
trọn vẹn” [110]. Nguyễn Văn Mệnh trong bài Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ [59] cho
rằng “có thể nói nội dung của thành ngữ mang tính chất hiện tượng, còn nội dung của tục
ngữ nói chung mang tính chất quy luật. Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác
nhau về hình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói… Về hình thức ngữ

đều từ sự khái quát hiện thực để rút ra bản chất, quy luật.
Chúng ta có thể rút ra một số nét khu biệt giữa thành ngữ và tục ngữ như sau:
Về mặt ý nghóa
:
Thành ngữ miêu tả một sự vật, một hoạt động, một tính chất hay một trạng thái.
Chẳng hạn: cao như sếu; nói hươu nói vượn; lờ đờ như gà ban hôm... Ngược lại, tục ngữ đúc
kết một kinh nghiệm, một quy luật, một chân lý của cuộc sống, hoặc nêu lên một bài
học ở đời. Thí dụ: gần mực thì đen, gần đèn thì sáng; ở hiền gặp lành; thuốc đắng dã tật; nồi
nào vung ấy; một con sâu làm rầu nồi canh; ăn ít no lâu, cày sâu tốt lúa;…
Nội dung của thành ngữ thường thiên về việc thể hiện những cái có tính chất ngẫu
nhiên và riêng lẻ. Còn nội dung của tục ngữ lại thể hiện những cái có tính bản chất, khái
quát, mang tính tất yếu, quy luật.
Về mặt ngữ pháp
:
Mỗi thành ngữ, nhìn chung, chỉ là một ngữ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh vì thành
ngữ chỉ nhằm nêu lên một hình ảnh, một hiện tượng, chẳng hạn như: mèo mả gà đồng; dốt
đặc cán mai; đánh rắn giữa khúc… Ngược lại, tục ngữ là một câu hoàn chỉnh, là một thông
báo trọn vẹn, một kết luận cụ thể, một nhận đònh chắc chắn, một bài học kinh nghiệm. Thí
dụ: Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo,...
Phần lớn thành ngữ tiếng Việt có kết cấu một trung tâm, thường là những thành ngữ
dạng so sánh: chậm như rùa, lừ đừ như ông từ vào đền, nhớn nhác như gà phải cáo, lúng túng
như gà mắc tóc, cao như sếu… Một bộ phận nhỏ các thành ngữ có kết cấu hai trung tâm: nước
đổ đầu vòt, ếch ngồi đáy giếng… Tuy nhiên những thành ngữ này cũng chỉ là một phần của
câu, vẫn dùng để gọi hành động, tính chất sự vật. Thí dụ: nước đổ đầu vòt “phí công, không
có tác dụng”, áo gấm đi đêm “tốn kém mà không ai biết đến”, ếch ngồi đáy giếng “không
nhìn xa thấy rộng”, miệng ngậm hột thò “ở vào thế không thể nói được”.
Về mặt chức năng
:
Đứng về mặt ngôn ngữ học, tục ngữ có chức năng khác hẳn so với thành ngữ. Tục
ngữ cũng như các sáng tác dân gian khác như ca dao, dân ca, đều có chức năng thông báo.

chỉ động vật” (sếu, chạch, mèo, chuột). Qua tìm hiểu các từ điển thành ngữ, các bài báo, bài
nghiên cứu thành ngữ, chúng tôi thấy số lượng thành ngữ động vật tiếng Việt ở các tài liệu
khác nhau là rất khác nhau. Nhưng điều chắc chắn là loại thành ngữ này chiếm một tỷ lệ
không nhỏ trong toàn bộ vốn thành ngữ tiếng Việt.
Theo kết quả thống kê được miêu tả trong luận án thạc só của Trònh Cẩm Lan [102],
mức độ sử dụng các thành tố động vật trong thành ngữ tiếng Việt theo thứ tự như sau: chim
(157, kể cả các loài chim cụ thể), cá (113, kể cả các loài cá cụ thể), chó (110), gà (79), bò
(40), chuột (37), ngựa (30), mèo (23), ong (11), ruồi (9), lợn (8), khỉ (6), vòt (5), sói (2), sư tử
(2), thỏ (2)… (Trònh Cẩm Lan, luận án thạc só, 1995) [102]. Theo Phan Văn Quế thì mức độ
sử dụng các thành tố động vật trong thành ngữ tiếng Việt có khác: chó (123), gà (90), cá
(68), trâu (54), voi (53), mèo (52), cọp (51), ngựa (49) chim (39), bò (37), chuột (30), cò (24),
vòt (23), cua (22), cóc (18), đỉa (16), lợn (16), ong (16), rắn (14), ruồi (12) [81].
Trong khuôn khổ khối tư liệu về thành ngữ đã tiếp cận và xử lý
, tác giả luận văn tổng
kết được trong tiếng Việt có 1555 thành ngữ động vật với 157 thành tố chỉ động vật (kể cả
tên của 29 loại cá, 34 loại chim).
Danh sách cụ thể được sắp xếp theo ABC như sau:
 Ba ba, beo, bò, bò cạp, bọ, bọ chó, bọ mạt, bọ ngựa, bọ xít, bướm (ngài)
 Cá (cá bống, cá chày, cá cháy, cá chép, cá chi chi, cá chuối, cá diếc, cá đối, cá gáy, cá
kình, cá lăng, cá lóc, cá lòng tong, cá mài mại, cá mè, cá mòi, cá ngão, cá nghê, cá nheo,
cá rô, cá săn sắt, cá sấu, cá thia, cá thờn bơn, cá trắm, cá trê, cá trôi, cá vàng, cá vược),
cà cuống, cáo, cáy, cầy hương, chạch, châu chấu, chấy, chẫu chuộc, chim ( bìm bòp, bồ
câu, bồ nông, chào mào, chèo bẻo, chim chích, choi choi, cò, cú, chim cuốc, giẻ cùi, dẽ,
diệc, diều hâu, én, hạc, hét, hồng, chim két, khứu, nhạn, ó, oanh / hoàng anh, phượng, loan,
quạ, sáo, chim sẻ, sếu, tu hú, uyên ương, vạc, vẹt, yến), chó, chuồn chuồn, chuột, cóc, cọp,
cốc, công, cua, cun cút
 Dã tràng, dê, dơi
 Đỉa, đom đóm, đười ươi
 Ếch, ễnh ương
 Gà, gấu, giải, giun

39
Chim
232

113

68

149
Chó
110
Chó
123
Chó
149 Trâu
54
Trâu
123

79

90

113

40


30
Chuột
47
Bảng 1
1.3. Thành tố chỉ động vật được dùng trong thành ngữ tiếng Anh
Kết quả thống kê của chúng tôi cho thấy có 463 thành ngữ động vật tiếng Anh với
khoảng 74 tên các con vật được sử dụng.
Danh sách cụ thể xếp theo trật tự ABC như sau:
 Ant (kiến), ape (đười ươi), ass (lừa cái)
 Badger (lửng), bat (dơi), bear (gấu), bee/hornet (ong), bird (chim), bug (rệp), bull (bò
đực), butterfly (bướm)
 Calf (bê), camel (lạc đà), cat (mèo), chicken (gà con), cock (gà trống), cow (bò cái),
crocodile (cá sấu), crow (quạ)
 Dog (chó), donkey (lừa), dove/pigeon (bồ câu), duck/drake (vòt), duckling (vòt con)
 Eagle (đại bàng), eel (lươn), elephant (voi)
 Fish (cá), flea (bọ chét), fly (ruồi), fox (cáo)
 Goat (dê), goose (ngỗng)
 Hare (thỏ rừng), hawk (diều hâu), hen (gà mái), herring (cá trích), horse (ngựa)
 Jackdaw (quạ xám), kitten (mèo con)
 Lamb (cừu non), lark (sơn ca), leech (đỉa), leopard (báo), lion (sư tử), lobster (tôm)
 Mackerel (cá thu), mare (ngựa cái), magpie (chim ác là), monkey (khỉ), mouse/rat (chuột),
mule (la)
 Owl (cú), ox (bò thiến), oyster (sò, hàu)
 Parrot (vẹt), peacock (công), pig (lợn)
 Rabbit (thỏ)
 Sardine (cá mòi), sheep (cừu), snail (sên), snake/serpent (rắn), sprat (cá trích cơm), stag
(nai đực, hươu đực), swallow (én), swan (thiên nga).
 Tiger (hổ), toad (cóc), turkey (gà tây)
 Vixen (chồn cái), whale (cá voi), wolf (chó sói), worm (giun, sâu).
Những thành tố động vật có tần số xuất hiện nhiều nhất:

 Lợn (pig), lươn (eel)
 Mèo (cat)
 Ngỗng (goose)
 Ong (bee)
 Quạ (crow, jassdow)
 Rắn (snake), ruồi (fly)
 Sâu (worm), sên (snail), sư tử (lion)
 Tôm (lobster)
 Vẹt (parrot), vòt (duck), voi (elephant)
Có 46 tên con vật cùng xuất hiện trong cả hai thành ngữ Việt – Anh, nhiều hơn so với
33 con vật theo thống kê của Phan Văn Quế [86].
1.4.2. Các thành tố động vật chỉ có trong thành ngữ tiếng Việt
 Ba ba, bò, bò cạp, bọ, bọ chó, bọ mạt, bọ ngựa, bọ xít
 Cá chép, cá chuối, cá diếc, cá đối, cá gáy, cá nghê, cá mè, cá rô, cá thia, cá chày, cá
lóc, cá trôi, cá vàng, cá lăng, cá vược, cá ngão, cá trê, cá nheo, cá lòng tong, cá săn sắt,
cá cháy, cá bống, chi chi, cá mại, cá thờn bơn, cá trắm
 Cà cuống, cáy, chạch, châu chấu, chấy, chẫu chàng
 Chim bìm bòp, bồ nông, chào mào, chèo bẻo, chim chích, cò, chim cuốc, dẽ, giẻ cùi, hạc,
hét, chim két, khướu, loan, ó, oanh, phượng, sáo, sẻ, sếu, vạc, yến
 Chuồn chuồn, cóc, cốc, cua, cun cút
 Dã tràng
 Đom đóm
 Ếch, ễnh ương
 Gà, giải, giòi
 Hến
 Liu điu, lừa
 Mang, muỗi
 Nai, nắc nẻ, nhái, nhện, nhộng, nòng nọc
 Ốc
 Rái cá, rận, rồng, rùa, rươi

chúng (việc xác đònh môi trường nước dựa vào Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên,
1997)[14]:
TT TÊN CÁ T.VIỆT T. ANH MÔI TRƯỜNG
1 cá bống +

nước ngọt
2 cá chày +

nước ngọt
3 cá cháy +

biển
4 cá chép + – nước ngọt
5 chi chi + – nước ngọt
6 cá chuối + – nước ngọt
7 cá cơm

+ biển
8 cá diếc +

nước ngọt
9 cá gáy + – nước ngọt
10
cá kình/ cá
voi
+ + biển
11 cá lăng +

24 cá thia +

nước ngọt
25 cá thờn bơn +

nước ngọt
26 cá thu

+ biển
27 cá trắm +

nước ngọt
28 cá trê +

nước ngọt
29 cá trích

+ biển
30 cá trôi +

nước ngọt
31 cá vàng + – nước ngọt
32 cá vược + – biển + nước ngọt
Bảng 2
Về chim, chỉ có khoảng 9 loài chim xuất hiện trong thành ngữ tiếng Anh. Đa số là các
loài chim lớn và hung dữ (như: đại bàng, quạ, diều hâu, cú…). Thức ăn chủ yếu của chúng là
thòt. Trong thành ngữ tiếng Việt có đến 34 tên gọi các loài chim khác nhau, trong đó có rất
nhiều loài chim dùng sâu bọ làm thức ăn chính. Sau đây là bảng về các loài chim và thức ăn
của chúng (dựa vào Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, 1997)[14]:


giun
14 diệc +

cá, tép
15 diều hâu + + thòt
16 đại bàng

+ thòt
17 én +

sâu bọ và
ngũ cốc
18 giẻ cùi + –
sâu bọ và
ngũ cốc
19 hạc +

không rõ
20 hét +

giun
21 hồng +

không rõ
22 két +

sâu bọ, ngũ
cốc, thòt
23 khướu + – sâu bọ
24 loan + – không rõ

Ngoài những loại chim sinh trưởng ở vùng khí hậu ẩm và ưa nước như trên, rất nhiều
côn trùng và động vật sống ở đồng ruộng, ao hồ và ở vùng nhiệt đới cũng xuất hiện trong
thành ngữ tiếng Việt nhiều hơn trong thành ngữ tiếng Anh.
Bảng các con vật liên quan đến đồng ruộng và vùng khí hậu nhiệt đới (dựa theo tài
liệu Cơ sở sinh thái học của Dương Hữu Thời, ĐHQG, Hà Nội, 1998) [73]:
STT TÊN CON VẬT T. VIỆT T. ANH MÔI TRƯỜNG
1 bọ chét

+ nhiệt đới
2 bọ chó +

nhiệt đới
3 bọ mạt +

nhiệt đới
4 bọ ngựa +

đồng ruộng
5 bọ xít +

nhiệt đới
6 châu chấu +

đồng ruộng
7 chẫu chuộc +

ao hồ
8 chấy +

nhiệt đới

nhiệt đới
22 ruồi + + nhiệt đới
23 sâu + + đồng ruộng
24 sên + + ao hồ
25 thằn lằn +

nhiệt đới
26 thiêu thân +

nhiệt đới
Bảng 4
Trong số 26 con vật, có đến 24 con xuất hiện trong thành ngữ tiếng Việt và chỉ có 11
con xuất hiện trong thành ngữ tiếng Anh.
Việt Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc, thuận lợi cho các loài động vật ưa nước (cá
nước ngọt, cóc, ếch, nhái, v.v.) phát triển mạnh. Hơn nữa, là nước thuộc vùng nhiệt đới, khí
hậu ẩm, Việt Nam có rất nhiều loài, sâu bọ và côn trùng. Theo quy luật cân bằng sinh thái:
nơi nào có nhiều loài sâu bọ và côn trùng gây hại cho mùa màng, nơi đó sẽ có rất nhiều loài
chim, động vật ưa ăn sâu bọ và côn trùng. Những con vật này “làm người canh đồng” rất
quan trọng cho người nông dân (Trần Kiên, Đời sống các loài bò sát, 1983) [101]. Thật lý
thú khi thấy rằng trong thành ngữ tiếng Việt xuất hiện rất nhiều tên gọi các loài sâu bọ và
côn trùng gây hại cho mùa màng, đồng thời cũng xuất hiện rất nhiều từ ngữ chỉ các loại
chim, các động vật ưa ăn sâu bọ và côn trùng.
1.4.5. Một số tên gọi các con vật truyền thuyết, mang đặc trưng văn hoá phương Đông như:
phượng, loan, hồng, hạc và rồng chỉ xuất hiện trong thành ngữ tiếng Việt.
1.4.6. Nước Anh và nhiều nước phương Tây khác đi lên từ nền kinh tế đồng cỏ và du mục,
sống chủ yếu bằng nghề chăn nuôi, có điều kiện gắn bó với các động vật nuôi. Điều này thể
hiện khá rõ trong việc phản ánh phong phú tên gọi các gia súc trong thành ngữ:

Ngựa: mare (ngựa cái), horse (ngựa đực)
Cừu : sheep (cừu lớn), lamb (cừu non)

là “chuột”, cùng thiên về nghóa tiêu cực như trong tiếng Việt, nhưng sắc thái biểu cảm của
hai từ này có khác nhau. Mouse là người lặng lẽ, nhút nhát (as quiet as a mouse - lặng lẽ như

Trích đoạn Ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ động vật Trong thành ngữ tiếng Anh BỤNG/ DẠ/ LỊNG/ RUỘT/PHÈO Bụng cĩc ngỡ bụng bị Như rồng bay phượng múa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status