1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Ngƣời Thái là dân tộc thiểu số đông thứ hai ở Việt Nam.Với tên gọi
“phủ Táy” (ngƣời Thái), họ đã có một ý niệm thống nhất về những ngƣời đồng tộc
của mình; họ ý thức rất rõ về nguồn cội của mình “Cốc mướng té chụa pảu/Hảu
mướng té chụa lang/Cai lai pang cái chiến thâng khạy” (Gốc mường từ thời cổ/Rễ
mường từ thời xưa/Truyền bao đời để lại đến ngày nay). Ý thức này còn đƣợc thể
hiện rất rõ trong tâm lý “hặc bản, panh mướng” (yêu bản, mến mường), quyết tâm
xây dựng quê hƣơng thành một vùng đất giàu có của đất nƣớc. Theo thống kê mới
nhất năm 2009, dân tộc Thái ở nƣớc ta có hơn một triệu năm trăm nghìn ngƣời, cƣ
trú tập trung dọc dải miền Tây của tổ quốc, ở các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn
La, Hoà Bình, Yên Bái, Lào Cai, miền tây Thanh Hoá và Nghệ An. Sau năm 1954
có một số bộ phận đồng bào Thái di cƣ vào sinh sống tại các tỉnh Đắc Lắc, Lâm
Đồng.
Nhờ có chữ viết riêng, có ngôn ngữ, có văn tự, đồng bào Thái đã xây dựng
đƣợc một nền văn học phong phú, lƣu truyền đƣợc nhiều tác phẩm, sổ sách, truyện
kể ghi trên giấy bản hoặc trên lá cây. Đó là những tác phẩm do các nghệ nhân dân
gian sáng tác, truyền thuyết dã sử về những nhân vật xuất chúng nhƣ Lò Lẹt, Lạng
Chƣợng…truyện thơ nổi tiếng nhƣ “Xống chụ xon xao”,“Ý Nọi - Nàng
Xưa”…những cuốn sách ghi lại phong tục, tập quán, đạo lý làm ngƣời nhƣ “Quám
tô mương”, “Tay pú xấc”, “Quám xon cốn”, “Quám chiến láng” Văn học Thái
là sự tổng kết quá trình tƣ duy về những sự vật, hiện tƣợng khách quan của tự
nhiên và xã hội; có thể xem nó nhƣ một bức tranh lịch sử xã hội sinh động đƣợc
khái quát hoá trong các hình tƣợng của nghệ thuật ngôn ngữ. Ngôn ngữ của ngƣời
Thái nói chung và “quám chiến láng” nói riêng là một phần quan trọng trong nền
văn hóa Thái. Vì vậy, nghiên cứu “quám chiến láng” của dân tộc Thái trƣớc hết là
để hiểu sâu hơn về đặc điểm ngôn ngữ Thái và bản sắc văn hoá của dân tộc Thái ở
Việt Nam, đồng thời góp phần giới thiệu và tôn vinh nền văn hóa độc đáo của dân
Việt.
1.3. Hơn nữa, vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ trong quan hệ với văn hoá các
dân tộc; dạy tiếng Việt cho học sinh các dân tộc đang là vấn đề nhận đƣợc sự quan 3
tâm rất lớn của các nhà Việt ngữ học nói chung và của các nhà giáo dục Việt Nam
hiện nay.
Ngày 3 tháng 2 năm 1997, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Thông tƣ 01
hƣớng dẫn việc dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số, trong đó có
đoạn: “ Sở Giáo dục đào tạo các tỉnh, thành phố có đồng bào các dân tộc thiểu số
chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ để cụ thể hoá xây
dựng chƣơng trình cho phù hợp với từng thứ tiếng và biên soạn tài liệu, đào tạo bồi
dƣỡng giáo viên dạy tiếng dân tộc ”
Theo chúng tôi nghĩ, muốn xây dựng đƣợc chƣơng trình, tài liệu dạy tiếng
nói, chữ viết dân tộc thiểu số cho phù hợp với từng dân tộc thì đòi hỏi đầu tiên là
phải hiểu đƣợc phong tục, tập quán, văn hoá truyền thống cũng nhƣ ngôn ngữ của
dân tộc mà mình trực tiếp giảng dạy. Điều quan trọng nhất là chúng ta phải xây
dựng đƣợc tài liệu giảng dạy đúng với ngôn ngữ của từng dân tộc. Có nhƣ vậy,
việc dạy tiếng nói và chữ viết dân tộc thiểu số mới mang lại kết quả cao.
1.4. Là các cán bộ giảng dạy tiếng Việt ở Trƣờng Đại học Tây Bắc - đóng
trên địa bàn tỉnh Sơn La, nơi có nhiều đồng bào Thái sinh sống, có nhiều sinh viên
là con em dân tộc Thái, chúng tôi có nhiều điều kiện để tiếp xúc với vốn văn hoá,
vốn ngôn ngữ của dân tộc Thái. Qua sự tiếp xúc này, chúng tôi nhận thấy nhiều
điểm thú vị, ngôn ngữ và văn hoá của dân tộc Thái vừa có những điểm tƣơng đồng
vừa có những nét khác biệt so với ngôn ngữ và văn hoá của các dân tộc khác đặc
biệt là dân tộc Kinh (dân tộc Việt). Đây cũng chính là một trong những lý do quan
trọng để chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm khám phá những điểm tƣơng đồng và
khác biệt trong ngôn ngữ của hai dân tộc này.
Thực tế giảng dạy tiếng Việt cho đồng bào Thái cũng nhƣ việc giảng dạy
tài hoa của ngƣời bản ngữ. Tục ngữ là một trong những cấu trúc tạo nghĩa ấy. Tục
ngữ không chỉ có tác dụng làm cho lời văn hay, hình tƣợng đẹp mà còn có tác dụng
diễn tả ý tƣởng một cách sâu sắc, tế nhị, hàm súc. Đặc biệt là tục ngữ có yếu tố chỉ
động vật.
Tục ngữ không chỉ là đối tƣợng nghiên cứu của ngôn ngữ học mà còn là
đối tƣợng nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác. Việc sử
dụng thành tố chỉ động vật trong các kết cấu tục ngữ thể hiện nét độc đáo của nhân 5
dân lao động, phản ánh tâm lý - văn hoá một dân tộc, góp phần tạo nên tính dị biệt
trong cách diễn đạt bằng ngôn từ, trong cách nhìn, cách nghĩ của mỗi dân tộc đối
với hiện thực khách quan. Cùng chỉ một khái niệm, một hiện tƣợng, một trạng thái
tình cảm nhƣng mỗi dân tộc sử dụng những yếu tố động vật khác nhau để diễn đạt.
Những yếu tố chỉ động vật này thể hiện nét ngữ nghĩa - văn hoá của từng dân tộc
và thƣờng đƣợc gọi là thành tố văn hoá.
Riêng về mảng thành ngữ có thành tố động vật trong tiếng Việt, Trịnh Cẩm
Lan (1995) khi nghiên cứu “Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa và những giá trị biểu
trưng của thành ngữ tiếng Việt trên cứ liệu thành ngữ có thành tố cấu tạo là tên
gọi động vật” có đề cập đến thành ngữ động vật tiếng Việt nhƣng chƣa đi vào
miêu tả cụ thể các nghĩa khác nhau của mỗi từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ.
Nguyễn Thuý Khanh trong" Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa tên gọi động vật
(trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga") (luận án phó tiến sĩ, 1996), đã
nghiên cứu khá sâu ngữ nghĩa tên gọi các động vật trong tiếng Việt và có đề cập
một phần “ý nghĩa biểu trưng của các thành ngữ so sánh có tên gọi động vật” [57].
Ngoài ra, có một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành nhƣ:
- Một vài nhận xét về thành ngữ so sánh có tên gọi động vật tiếng Việt
(Nguyễn Thúy Khanh, Ngôn ngữ, số 3, 1994).
- Các con vật và một số đặc trưng của chúng được cảm nhận từ góc độ dân
gian và khai thác để đưa vào kho tàng thành ngữ tiếng Việt (Phan Văn Quế, Ngôn
Hồng Lan, Ngôn ngữ và đời sống, số 2/1996).
- Gà, khỉ, chuột, ngựa trong tục ngữ và thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
(Phan Văn Quế, Ngôn ngữ và đời sống, số 2, năm 2000).
- Hình ảnh con chó trong thành ngữ và tục ngữ tiếng Anh (Phan Văn Quế,
Ngôn ngữ và đời sống, số 2, năm 2000). . .
Chúng tôi đã tiến hành khảo cứu nhiều công trình nghiên cứu về tục ngữ nói
chung, về “quám chiến láng” Thái nói riêng, kết quả cho thấy: 7
- Có rất nhiều công trình nghiên cứu tục ngữ dựa trên cơ sở lí luận về tục
ngữ của dân tộc Việt, có rất ít công trình nghiên cứu lấy “quám chiến láng” của
dân tộc Thái làm đối tƣợng nghiên cứu một cách độc lập, riêng biệt.
- Những công trình nghiên cứu tục ngữ Thái một cách độc lập, riêng biệt
chƣa nhiều nếu không nói là quá ít ỏi. Những công trình nghiên cứu này chủ yếu
đề cập đến phƣơng diện nội dung của tục ngữ Thái (ở góc độ này hay góc độ
khác).
- Cầm Trọng, tác giả ngƣời dân tộc Thái, với tác phẩm “Ngƣời Thái ở Tây
Bắc Việt Nam” - một tác phẩm đƣợc đánh giá “là tác phẩm tốt, đem lại nhiều bổ
ích cho khoa học” đã đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng trong đời sống kinh tế,
văn hóa, xã hội của ngƣời Thái ở Tây Bắc Việt Nam. Trong cuốn sách này, tác giả
Cầm Trọng đã đề cập đến những đặc trƣng cơ bản của ngôn ngữ Thái nhƣ vấn đề
nguồn gốc, loại hình ngôn ngữ, đặc điểm cấu tạo chữ Thái, hệ thống nguyên âm -
phụ âm của chữ Thái. Tuy nhiên, nhƣ chính tác giả đã viết trong lời tựa cuốn sách,
vấn đề mấu chốt mà tác giả muốn nêu lên ở đây là những nét lớn về cơ cấu kinh tế
- xã hội cổ truyền, yếu tố chủ chốt đã cấu tạo nên cộng đồng Thái cho nên vấn đề
ngôn ngữ chỉ đƣợc tác giả đề cập đến một cách chung chung. “Quám chiến láng”
chƣa có vị trí riêng trong nghiên cứu của tác giả.
- Tác giả Cầm DZịn trong bài “Tìm hiểu lời khuyên truyền thống về lao
động nông nghiệp qua tục ngữ Thái” in trong cuốn “Văn hóa và lịch sử ngƣời Thái
- Trong chƣơng 3 luận văn thạc sĩ “Tục ngữ Thái Việt Nam: vần, nhịp và hệ
thống hình ảnh”, tác giả Lò Thị Hồng Nhung đã thống kê và đƣa ra nhận xét về 9
nhóm hình ảnh thƣờng xuất hiện trong tục ngữ Thái trong đó có nhóm hình ảnh về
động vật (291câu /1355 câu tục ngữ đã khảo sát có chứa các hình ảnh động vật).
Tác giả luận văn cũng đã chỉ ra một số ý nghĩa biểu trƣng trong nội dung ngữ
nghĩa của tục ngữ Thái thông qua hệ thống hình ảnh đó là tính cộng đồng bền
vững, tính truyền thống bền chặt gia tộc, đề cao họ ngoại và các tàn dƣ mẫu
hệ…Tuy nhiên đó là những biểu trƣng chung của tục ngữ Thái chứ tác giả chƣa đi
sâu khám phá giá trị biểu trƣng của từ ngữ chỉ động vật trong tục ngữ Thái.
Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã hƣớng đến kho tàng
tục ngữ Thái, đã sƣu tầm và giới thiệu một số lƣợng rất lớn các câu tục ngữ Thái 9
và coi đó nhƣ những nguồn cứ liệu cực kì phong phú và sống động về phong tục,
tập quán, tín ngƣỡng, về đời sống vật chất, đời sống tinh thần mà đồng bào dân tộc
Thái đã lƣu giữ và truyền tụng qua nhiều thế hệ. Có thể kể đến một số tài liệu sau:
- Trần Trí Dõi, Vi Khăm Mun (2012), Tục ngữ và thành ngữ người Thái
Mương ở Tương Dương, Nghệ An. H., Nxb Lao động.
- Phan Kiến Giang, Văn Pánh (2010), Thành ngữ, tục ngữ dân tộc Thái, Nxb
Văn hóa dân tộc.
- Quán Vi Miên (2010), Tục ngữ Thái: Giải nghĩa, Nxb Dân trí.
- Thành ngữ, tục ngữ, câu đố các dân tộc Thái, Giáy, Dao, Nxb VHDT.
- Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (tập 1+ 2), Viện
nghiên cứu văn hóa (2008), Nxb KHXH.
Đây thực sự là những nguồn tƣ liệu quý giá giúp cho chúng tôi có nhiều điều
kiện để đi sâu nghiên cứu “quám chiến láng”.
Qua khảo cứu các tƣ liệu nói trên chúng tôi nhận thấy một số vấn đề đáng
chú ý sau:
Thứ nhất, “Quám chiến láng” Thái là một thể loại quan trọng trong kho tàng
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu đề tài “Trường nghĩa chỉ động vật
trong “quám chiến láng” của dân tộc Thái ở Việt Nam”, chúng tôi hƣớng đến các
mục đích sau:
- Xác lập trƣờng nghĩa động vật trong tục ngữ của dân tộc Thái ở Việt Nam
Từ việc xác lập trƣờng nghĩa, tìm hiểu quan hệ ngữ nghĩa và hoạt động ngữ nghĩa
trong nghĩa động vật. Đồng thời đề tài nhằm làm rõ lý thuyết về trƣờng nghĩa.
- Chỉ ra những giá trị biểu trƣng của trƣờng nghĩa động vật trong “quám
chiến láng” của dân tộc Thái ở Việt Nam để hiểu rõ hơn những kinh nghiệm sống,
về đặc trƣng văn hóa dân tộc, về triết lí nhân sinh đƣợc thể hiện trong “quám chiến
láng”. 11
- Góp phần khẳng định giá trị độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa truyền
thống của kho tàng “quám chiến láng” của dân tộc Thái nói riêng, của ngôn ngữ
dân tộc nói chung.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Từ các qua điểm trong nghiên cứu ngôn ngữ, hình thành các khái niệm cơ
bản dùng trong đề tài: trƣờng nghĩa động vật, trƣờng nghĩa động vật trong “quám
chiến láng”, trƣờng nghĩa gọi tên động vật, trƣờng nghĩa bộ phận động vật, trƣờng
nghĩa hoạt động động vật.
- Dựa vào qua hệ ngữ nghĩa, xác lập các tiểu trƣờng nghĩa động vật trong
“quám chiến láng” đồng thời chỉ ra các giá trị biểu trƣng của các tiểu trƣờng nghĩa
đã xác lập.
- Trong mỗi tiểu trƣờng nghĩa, đề tài phân tích những giả trị biểu trƣng của
một số từ ngữ có chứa thành tố chỉ động vật điển hình.
5. Tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tƣ liệu:
Các tƣ liệu mà đề tài khai thác chủ yếu đƣợc lấy từ cuốn sách: Quán Vi
ngữ dƣới góc độ ngôn ngữ.
6.2. Về thực tiễn
Kết quả của việc nghiên cứu sẽ góp phần ứng dụng vào việc giải thích chính
xác hơn, cụ thể hơn về ý nghĩa của “quám chiến láng”.
Đề tài không chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ và văn học
các dân tộc thiểu số mà còn có ý nghĩa thiết thực góp phần bảo tồn gìn giữ và phát
triển kho tàng văn hóa vô giá của dân tộc Thái, làm phong phú bản sắc văn hóa của
Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu về “quám chiến láng” của dân tộc Thái sẽ giúp cho giảng
viên và sinh viên, giáo viên và học sinh ở các tỉnh miền núi hiểu rõ hơn về ngôn
ngữ của dân tộc Thái, có thể học tập cách tƣ duy, cách diễn đạt mang bản sắc riêng 13
của dân tộc mình. Đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục cho học sinh,
sinh viên dân tộc Thái.
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo, Phần nội
dung chính của đề tài dự kiến gồm 2 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận
Chƣơng 2: Trƣờng nghĩa động vật trong “quám chiến láng” của dân tộc
Thái ở Việt Nam.
xuất phát từ cái nhìn toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà
nó chứa đựng” [6,244], thúc đẩy mạnh mẽ sự hình thành nên lí thuyết về các
trƣờng nghĩa.
J.Trier là ngƣời đầu tiên đƣa thuật ngữ và khái niệm “trường” vào ngôn ngữ
học, đó là khái niệm trƣờng khái niệm và trƣờng từ. Mỗi trƣờng khái niệm là một
tập hợp những khái niệm tƣơng ứng với lĩnh vực thực tế và là kết quả của sự chia
cắt thực tế theo cách riêng của từng ngôn ngữ: “Mỗi ngôn ngữ phân chia thực tế
theo cách của mình, do đó mà tạo ra cái nhìn của mình đối với thực tế và thiết lập
nên những khái niệm riêng của mình”. Mỗi trƣờng khái niệm là một cấu trúc,
trong đó mỗi khái niệm bị quy định bởi những quan hệ với các khái niệm nằm 15
trong cùng trƣờng. Mỗi trƣờng khái niệm đƣợc các từ phủ lên trên, mỗi từ tƣơng
ứng với một khái niệm. Trƣờng từ là tập hợp các từ phủ lên một trƣờng khái niệm.
J.Trier chia toàn bộ ngôn ngữ thành trƣờng cấp cao, trƣờng cấp cao chia thành
những trƣờng cấp thấp hơn cho những từ riêng lẻ. Những quan điểm của J.Trier
cho rằng trong ngôn ngữ, mỗi từ tồn tại trong một trường giá trị của nó là quan hệ
của nó với các từ khác quyết định [23,244]. Theo J.Trier, sự thay đổi ý nghĩa của
một từ trong trƣờng nghĩa kéo theo sựu thay đổi ngữ nghĩa của cùng một trƣờng
nghĩa kéo theo sự thay đổi ý nghĩa của các từ trong trƣờng. Ông đã tìm sự thống
nhất giữa đồng đại và lịch đại bằng cách đƣa phƣơng pháp cấu trúc vào miêu tả sự
biến đổi ngữ nghĩa của cùng một trƣờng nghĩa trong những giai đoạn khác nhau.
Những quan điểm của J.Trier đã trở thành cơ sở cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ
sau ông. Ông đƣợc đánh giá là ngƣời đã “mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử
ngữ nghĩa học” [23,244].
Một số nhà nghiên cứu khác nhƣ L.Weisgerber, J.Lyons… đã có những quan
điểm bổ sung cho quan điểm lí thuyết của J.Trier. Chú ý đến trƣờng cấu tạo,
L.Weisgerber cho rằng mỗi từ trong mỗi dãy từ là một tâm của một trƣờng cấu tạo,
trong đó, những từ cấu tạo bằng một yếu tố thống nhất nói chung có ý nghĩa giống
tiêu biểu nhƣ Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức
Nghiệu, Đỗ Việt Hùng,…
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong “Khái niệm trƣờng và việc nghiên cứu hệ thống
từ vựng” (Tạp chí ngôn ngữ số 2, 1976) đã viết: Trường từ vựng là tổng hợp các
đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa. Quan niệm này
đã đƣợc tác giả đề cập lại trong “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”: “Tính hệ thống về
từ ngữ của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng
và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ
thống ngữ nghĩa chứa chúng. Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường
nghĩa. Đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa” [22,171]. Bằng
một số công trình nghiên cứu, Đỗ Hữu Châu đã góp phần xây dựng nề tảng cơ sở
cho ngữ nghĩa học tiếng Việt. Dựa vào những điểm chung giữa các từ, ông đã phân
lập toàn bộ từ vựng tiếng Việt thành những hệ thống nhỏ hơn và tìm ra những quan 17
hệ giữa các từ trong từ vựng. Ông đã chia trƣờng nghĩa thành bốn loại trƣờng biểu
vật, trƣờng biểu niệm, tƣờng tuyến tính và trƣờng liên tƣởng.
Tác giả Đỗ Việt Hùng trong “Nhập môn ngôn ngữ học” đã đƣa ra quan niệm
về trƣờng nghĩa: “Các đơn vị từ vựng đồng nhất với nhau về nghĩa tổng hợp thành
trường nghĩa” [34,227].
Từ vựng là tập hợp các từ và các đơn vị tƣơng đƣơng với từ của một ngôn
ngữ. Tuy nhiên, nó không phải là một tập hợp ngẫu nhiên giữa các đơn vị mà một
hệ thống với các mối quan hệ nhất định.
Quan niệm về trƣờng nghĩa mà chúng tôi trình bày trong đề tài này chủ yếu
dựa trên định nghĩa: “Trường nghĩa là một tổ chức các từ và các biến thể sử dụng
từ có quan hệ với nhau thành một hệ thống. Hệ thống này cho thấy mối liên kết
của chúng dựa theo một cái gì đó. Ví dụ những từ thân tộc như father, mother,
brother, sister, uncle, aunt đều thuộc vào trường nghĩa thân tộc chỉ các thành viên
trong gia đình, hạt nhân được xác lập dựa trên căn cứ về thế hệ, giới tính,cả bên
hay trƣờng nghĩa vị).
“Tiêu chí để xác lập các trường biểu vật chỉ là sự đồng nhất ở một nét nghĩa
biểu vật, nhƣ ngƣời, động vật, thực vật… các nét nghĩa phạm trù khác sẽ được sử
dụng để phân lập các trường lớn thành các trường bộ phận theo các cấp loại khác
nhau” [23,256]. Còn với trƣờng biểu niệm, tiêu chí xác lập trƣờng cũng chỉ là sự
đồng nhất ở cấu trúc biểu niệm. Ví dụ: Dựa vào nét nghĩa phạm trù (hoạt dộng A
tác động vào X) (X rời chỗ) có thể tập hợp đƣợc các từ: ném, hất, quăng, vất, lao,
phóng , tung, lôi, kéo…
Để phân biệt lập trường tuyến tính của một từ, cần dự hẳn vào cấu trúc ngữ
nghĩa của từ đó [23,257]. Nguyên tắc xác lập tuyến tính nhƣ sau: Chọn một từ làm
từ trung tâm, sau đó tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi
tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận đƣợc trong ngôn ngữ. Ví dụ, các từ nằm trong
trƣờng tuyên tính của từ học: văn, toán chăm, lười, thông minh, dốt…
Cơ sở để xác lập trƣờng liên tƣởng là các nghĩa ngữ dụng của từ trung tâm.
Đó là những nghĩa mới đƣợc tạo ra khi nó chƣa đi vào hệ thống. Từ trung tâm khi
cùng xuất hiện với hàng loạt từ nào đấy trong nhiều ngữ cảnh trùng lặp sẽ có hiện 19
tƣợng đẳng cấu ngữ nghĩa. Khi đó, chúng sẽ tạo thành một trƣờng nghĩa liên tƣởng
mà các từ có quan hệ với nhau nhờ những mối liên tƣởng ngữ nghĩa nào đó. Ví dụ,
khi có từ ruộng thì có thể liên tƣởng tới người nông dân, cày, bừa, cấy, gặt…
1.1.1.3. Các loại trƣờng nghĩa
Dựa vào các tiêu chí trên, hệ thống từ vựng ngữ nghĩa của một ngôn ngữ có
thể đƣợc phân lập ra thành các loại trƣờng:
a. Trƣờng nghĩa biểu vật
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Một trường biểu vật là một tập hợp nhiều từ
đồng nhất về ý nghĩa biểu vật. Để có những căn cứ dựa vào đó mà đưa các nghĩa
biểu vật của các từ về trường biểu vật thích hợp, chúng ta chọn các danh từ làm
gốc. Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm
Căn cứ để phân lập các trƣờng biểu hiện là các ý nghĩa biểu niệm của từ. Đỗ
Hữu Châu quan niệm “Một trường biểu niệm là một tập hợp các từ có chung một
cấu trúc biểu niệm” [22,178]
Ví dụ: Trường biểu niệm (vật thể nhân tạo)… (thay thế hoặc tăng cƣờng thao
tác lao động) (cầm tay).
Dụng cụ chia cắt: dao, cưa, búa, rìu, liềm, hái…
Dụng cụ để xoi, đục: đục, dùi, chàng, dui, khoan…
Dụng cụ để nện, gõ: búa, vồ,đầm,dùi đục, đùi cui…
Dụng cụ để đánh bắt: lưới, nơm. Đăng ,đó, cần câu, vó…
Dụng cụ để mài, giũa: giũa, bào, đá mài, giấy ráp…
Dụng cụ để kìm giữ: Kìm kẹp, néo, móc….
Dụng cụ để xới đất: cày, cuốc, thuổng, mai, xẻng, bừa, cào…
Dụng cụ để lấy, múc: thìa, đũa, muôi, gáo….
……………………….
Cũng nhƣ các trƣờng biểu vật, các trƣờng biểu niệm lớn có thể phân chia
thành các trƣờng nhỏ và cũng có những “ miền” với mật độ khác nhau, 21
Do hiện tƣợng nhiều nghĩa biểu niệm, cho nên một từ có thể đi vào những
trƣờng biểu niệm (hay đi vào những trƣờng nhỏ) khác nhau. Vì vậy cũng giống
nhƣ những trƣờng biểu vật, các trƣờng biểu niệm có thể giao thoa với nhau, thẩm
thấu vào nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ điển hình và những từ ở những
lớp kế cận chung, những từ ở lớp ngoại vi.
Ví dụ: Trường biểu niệm (hoạt động tác động đến X) (làm cho X có tình trạng
Y). Đây là một trƣờng lớn, căn cứ vào Y có thể chia thành những trƣờng nhỏ, nhƣ:
1. Làm cho X động (tĩnh – động) hoặc tĩnh (động – tĩnh).
X động hay tĩnh tại chỗ một cách cơ giới: rung, lay, lắc, lung lay
X dời chỗ hoặc dừng lại một cách cơ giới: đẩy, xô, ném, lao, giật, bẩy, xoay,
quay…hãm, thắng, phanh, dừng….
Ch.Bally, nhà ngôn ngữ học Pháp là tác giả đầu tiên của khái niệm trƣờng liên
tƣởng. Theo ông, mỗi từ có thể là trung tâm của một trƣờng liên tƣởng. Ví dụ, khi
chúng ta có từ lúa nó có thể gợi liên tƣởng tới gieo, cấy, gặt, xay, giã, sẩy,
sàng…Từ trong một trƣờng liên tƣởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng từ các
ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm.
Các từ trong một trƣờng liên tƣởng trƣớc hết là những từ cùng nằm trong
trƣờng biểu vật, trƣờng biểu niệm và trƣờng tuyến tính, tức là những từ có quan hệ
cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm. Song trong trƣờng liên
tƣởng còn khá nhiều từ khác đƣợc liên tƣởng tới do xuất hiện đồng thời nhất, lặp
đi lặp lại, điều này khiến cho các trƣờng liên tƣởng có tính dân tộc, tính thời đại và
cá nhân.
Ý nghĩa biểu vật có những từ trong trƣờng liên tƣởng giống nhau, nhƣng cũng
có những từ khác nhau về nghĩa.
Do các tính chất trên, các trƣờng liên tƣởng thƣờng không ổn định, nên ít có
tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữ nghĩa của các từ và từ vựng.
Nhƣng trƣờng liên tƣởng có hiệu lực lớn giải thích sự dùng từ, nhất là sự dùng từ
trong các tác phẩm văn học. 23
1.1.2. Hiện tƣợng chuyển nghĩa và chuyển trƣờng
1.1.2.1. Hiện tƣợng chuyển nghĩa của từ
Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngƣời. Để giao
tiếp đƣợc bằng ngôn ngữ, con ngƣời phải tri nhận đƣợc cả mặt ngữ âm và ngữ
nghĩa của từ. Cùng một hình thức ngữ âm, ngƣời sử dụng có thể diễn đạt đƣợc
nhiều nội dung khác nhau. Đó là hiện tƣợng từ có nhiều nghĩa. Hiện tƣợng từ có
nhiều nghĩa là hiện tƣợng phổ biến ở tất cả ngôn ngữ trên thế giới.
Lúc mới xuất hiện, các từ đều chỉ có một nghĩa biểu vật. Khi đƣợc đƣa vào sử
dụng một thời gian, từ có thể có thêm những nghĩa biểu vật mới. Tác giả Bùi Minh
Toán đã viết: “Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện ngày càng nhiều thì nghĩa biểu
- Vá săm, lốp xe có dùng lửa: vá chín
- Suy nghĩ kĩ càng, đầy đủ: Nghĩa đã chín mới nói.
- Kĩ năng, kĩ xảo thành thục: Tài năng đã chín
- Mâu thuẫn phát triển đến cao độ cần đƣợc giải quyết: tình hình xung đột đã
chín lắm rồi.
- Trạng thái hổ thẹn cao độ, làm da mặt đỏ rực: Ngượng chín cả người: đôi
má chín như quả bồ quân.
Tất cả các nghĩa mới xuất hiện đều có cơ sở từ nghĩa ban đầu. Giữa nghĩa gốc
và các nghĩa mới bao giờ cũng duy trì một nét nghĩa chung. Nét nghĩa chung đó
chính là cơ sở cho sự chuyển nghĩa của từ và là cơ sở cho sự lĩnh hội các nghĩa
chuyển của từ. Đồng thời sự chuyển biến ý nghĩa theo hƣớng này thể hiện rõ tính
hệ thống của ngôn ngữ.
Trong quá trình chuyển nghĩa, “Các từ có nghĩa biểu vật cùng thuộc một
phạm vi hoặc có ý nghĩa biểu niệm cùng một cấu trúc thì chuyển biến ý nghĩa theo
cùng một hướng giống nhau” [22,148].
Ta thấy từ chín đã dẫn ở trên có thế dùng để chỉ kĩ năng, kĩ xảo thì các từ
cùng phạm vi biểu vật nhƣ non, xanh, già, ương… cũng chuyển sang phạm vi này
nhƣ thủ đoạn còn non lắm; nói điều rằng buộc thì tay cũng già; trình độ còn ương
lắm; bước nhảy của em xanh lắm. 25
Tuy nhiên sự chuyển biến ý nghĩa của các từ có ý nghĩa biểu vật cùng một
phạm vi hoặc ý nghĩa biểu niệm cùng một cấu trúc xét về tính đồng hƣớng là
không có tính tuyệt đối.
Sự chuyển biến ý nghĩa của từ có thể dẫn tới kết quả là ý nghĩa sau khác hẳn
với nghĩa vốn có từ trƣớc. Thậm chí ngay cùng một từ, sự chuyển biến nghĩa khiến
cho từ trở thành đồng nghĩa với các từ trái nghĩa trƣớc kia của nó.
Chẳng hạn, từ đứng vốn trái nghĩa với từ chạy. Nhƣng do sự chuyển nghĩa, từ
đứng mang nghĩa điều khiển máy trong câu Chị công nhân đứng 20 máy một ca.