Đổi mới phương thức huy động vốn trong các mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam - Pdf 29

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
----------------------------
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Đổi mới phương thức huy động vốn trong các
mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
Sinh viên : Lê Quang Vinh
Lớp : Tài chính 44A
Giáo viên hướng dẫn : TS. Đặng Ngọc Đức

Hà nội, tháng 5 năm 2006
Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
1- Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX, ban chấp hành Trung ương Đảng đã chủ
trương nghiên cứu xây dựng một số tập đoàn kinh doanh nhà nước mạnh, làm
nòng cốt cho lực lượng doanh nghiệp nhà nước. Việc chuyển đổi hoạt động theo
mô hình công ty ‘mẹ’ - công ty ‘con’, phát triển theo mô hình tập đoàn sẽ khắc
phục được các nhược điểm của mô hình tổng công ty trước đây.
Việc thành lập và quản lý các tập đoàn kinh doanh là vấn đề không mới ở
các nước phát triển nhưng hoàn toàn mới ở Việt nam. Hiện nay, trong phương
thức quản lý tài chính nói chung và phương thức huy động vốn nói riêng của các
tổng công ty nhà nước phát triển theo mô hình tập đoàn đã có những cải thiện và
có tác động tích cực đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, so sánh
với yêu cầu và đặc trưng của mô hình tập đoàn kinh doanh, phương thức huy
động vốn hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa huy động được nguồn vốn
đủ lớn và phù hợp với đặc điểm kinh doanh của mô hình tập đoàn kinh doanh.
Do đó về mặt lý luận, cần có những đề tài nghiên cứu sâu hơn về mô hình
tập đoàn kinh doanh phát triển từ các tổng công ty nhà nước. Một trong những
vấn đề quan trọng hàng đầu và phải được tập trung nghiên cứu đi sâu là phương

- Chương 2: Thực trạng về phương thức huy động vốn của các tổng công ty
phát triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam trong thời gian qua.
- Chương 3: Giải pháp đổi mới phương thức huy động vốn phù hợp với mô
hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam.
Lê Quang Vinh - Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 1
MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH DOANH VÀ PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG
VỐN CỦA TẬP ĐOÀN KINH DOANH
1.1. MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH DOANH
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Tập đoàn kinh doanh
1.1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Từ khoảng thế kỷ 18, dưới tác động của Cách mạng công nghiệp, các
công ty thi nhau tăng thêm vốn để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, mở
rộng thị trường sang các nước khác. Quá trình tích tụ và tập trung tư bản thực
hiện bằng những hoạt động sáp nhập, thôn tính lẫn nhau đã tạo thành những tổ
hợp lớn diễn ra mạnh mẽ vào những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Cho đến nay, hàng loạt các công ty công ty đa quốc gia, các tập đoàn kinh doanh
khổng lồ đã xuất hiện, lớn mạnh và có mặt trên khắp các quốc gia và khắp các
Châu lục. Tập đoàn kinh doanh ra đời, tồn tại và phát triển là tuân theo quy luật
khách quan, đáp ứng yêu cầu tích tụ và tập trung tư bản.
Ở Châu Âu, do điều kiện tự nhiên và xã hội khá tương đồng, nền kinh tế
các nước Châu Âu sớm mở cửa thông thương và phát triển theo mô hình cộng
đồng. Các công ty ở đây dễ dàng hoạt động ở các vùng lãnh thổ khác nhau, xâm
chiếm thị trường của nhau, tạo điều kiện cho các công ty phát triển lớn mạnh
nhanh chóng và sớm hình thành các mô hình liên kết kiểu tập đoàn. Tại đây, các
Cácten (Carten - hình thức liên minh độc quyền về giá cả và thị trường thông
qua các bản cam kết), Tơrơt (Trust-tổ chức độc quyền của các công ty cổ phần)
và Côngxoocxiom (Consocsion- loại hình liên minh độc quyền có tổ chức cao,
là tiền thân của các tập đoàn đa ngành Conglomerate hiện nay)… lần lượt ra đời

trong nền kinh tế - chính trị của Hàn quốc.
Lê Quang Vinh - Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề tốt nghiệp
Quá trình tích tụ, tập trung sản xuất và tập trung vốn phát triển mạnh mẽ
những năm sau Chiến tranh Thế giới II, tạo ra một làn sóng hợp nhất chưa từng
có. Quy mô và phạm vi hoạt động của các tập đoàn kinh doanh đã vượt ra ngoài
biên giới mỗi nước để biến thành những tổ chức kinh doanh quốc tế, các công ty
xuyên quốc gia. Các tập đoàn kinh doanh đã trở thành trung tâm thu hút, thâu
tóm hàng loạt các công ty khác xung quanh nó để trở nên ngày càng hùng mạnh,
có sức sống mãnh liệt và tăng trưởng không ngừng.
1.1.1.2. Các xu thế khách quan hình thành các tập đoàn kinh doanh
Các tập đoàn kinh doanh được hình thành và liên tục phát triển là do nó
phù hợp với các xu thế khách quan và quy luật phát triển của thời đại, đó là:
-Quy luật tích tụ và tập trung vốn: Để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị
trường, các doanh nghiệp luôn phải không ngừng mở rộng sản xuất, quá trình
tích tụ và tập trung vốn dẫn đến các doanh nghiệp mạnh thôn tính, sáp nhập,
mua lại các doanh nghiệp yếu, từ đó dẫn đến hình thành các tập đoàn kinh
doanh.
-Quy luật cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận: Trong cuộc cạnh tranh khốc
liệt giữa các doanh nghiệp, để đứng vững các doanh nghiệp phải nâng cao năng
lực cạnh tranh, một số doanh nghiệp sẽ tự liên kết với nhau nhằm tăng khả năng
cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận.
-Tiến bộ khoa học công nghệ : Một trong những yếu tố quyết định giúp
các doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh và thu lợi nhuận cao là việc
nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra sức ép đòi hỏi các
doanh nghiệp phải liên tục đổi mới, nghiên cứu ứng dụng các dây chuyền công
nghệ cao, thực tế này đòi hỏi các doanh nghiệp phải hợp tác với nhau, tập trung
nguồn lực về vốn và lực lượng cán bộ khoa học công nghệ. Tập đoàn kinh doanh
được hình thành với quy mô lớn, trường vốn đã đáp ứng yêu cầu đó và thúc đẩy

Lê Quang Vinh - Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề tốt nghiệp
Theo quan điểm này, đặc trưng chủ yếu của tập đoàn kinh doanh là sự liên
kết về kinh tế và tài chính, trong đó có sự kiểm soát lẫn nhau giữa các công ty,
trong đó có một công ty kiểm soát các công ty còn lại gọi là công ty ‘mẹ’.
Công ty ‘mẹ’ (Holding company) theo từ điển tài chính có nghĩa là: “Một
công ty kiểm soát một hoặc nhiều công ty khác, thông thường bằng cách nắm
giữ đa số cổ phiếu của các công ty ‘con’ hay công ty chi nhánh”. Đối với một
công ty ‘mẹ’, có thể có trường hợp nó kiểm soát một số lượng rất lớn các công
ty với tổng số vốn tập hợp lại lớn hơn rất nhiều vốn của chính nó vì công ty ‘mẹ’
chỉ cần nắm giữ một nửa thậm chí ít hơn một nửa số cổ phần của công ty ‘con’
hay chi nhánh của nó.
Như vậy, có thể hiểu Mô hình tập đoàn kinh doanh là tổ hợp có tổ chức
của các công ty hoạt động trong cùng một ngành hay những ngành khác nhau
trong phạm vi một hay nhiều nước. Trong tập đoàn kinh doanh có một công ty
‘mẹ’ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty ‘con’ về mặt tài
chính và chiến lược phát triển. Mô hình tập đoàn kinh doanh là một cơ cấu tổ
chức vừa có chức năng kinh doanh vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng
cường tích tụ, tập trung tư bản, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận.
1.1.2.2. Mô hình tổ chức của tập đoàn kinh doanh
Mô hình tổ chức của tập đoàn kinh doanh là hình thức liên kết kinh tế
trong tập đoàn. Sự liên kết chặt chẽ hay lỏng lẻo giữa các thành viên trong tập
đoàn tuỳ thuộc vào mức độ liên kết về tài chính và lợi ích kinh tế. Theo quan
điểm đó, trong lịch sử và hiện tại có ba mô hình tổ chức sau:
-Mô hình thứ nhất: Quan hệ liên kết giữa các thành viên tương đối lỏng
lẻo thông qua các thoả thuận hoặc các cam kết hợp tác. Trong hình thức này, các
công ty thành viên tham gia tập đoàn chỉ chịu sự ràng buộc tương đối lỏng lẻo
và có tính độc lập cao. Thông thường, cơ sở tồn tại của loại hình tập đoàn này là
các thoả thuận hoặc hợp đồng tạo ra liên kết “mềm” giữa các thành viên để tăng
Lê Quang Vinh - Tài chính doanh nghiệp 44A

Lê Quang Vinh - Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề tốt nghiệp
Hai là: Tập đoàn có liên kết theo chiều ngang: Trong loại này, các công ty
có quan hệ với nhau về sản phẩm hay dịch vụ bổ trợ cho nhau hoặc các sản
phẩm cho cùng một nhóm khách hàng hoặc cùng một nhóm mục tiêu sử dụng.
Ví dụ, trong tập đoàn LG (Hàn Quốc) có tổ hợp các công ty sản xuất máy tính,
công ty sản xuất máy in, máy photocopy và thiết bị văn phòng, công ty sản xuất
giấy,... hay tổ hợp sản xuất máy phục vụ gia đình như tivi, máy giặt, tủ lạnh,
điều hoà,.v.v... các công ty này liên kết lại với nhau để tạo ra lợi thế chung. Mô
hình tậo đoàn theo hình thức này gọi là ‘mô hình liên kết ngang’
Ba là: Tập đoàn có ‘mô hình liên kết hạt nhân’: Giữa các công ty thành
viên có sự liên kết về công nghệ, hoặc thị trường... nhưng xoay quanh một nhóm
sản phẩm mũi nhọn. Ví dụ tập đoàn Ganeral Motors (Mỹ) cung cấp các sản
phẩm và dịch vụ khác nhau nhưng sản xuất ôtô là hạt nhân của cả tập đoàn. Rất
nhiều các tập đoàn mạnh trên thế hiện nay đều theo mô hình này hoặc kết hợp
mô hình này với hai mô hình trên.
-Mô hình thứ ba: Do sự phát triển cao của thị trường tài chính , hình
thành kiểu tập đoàn có hạt nhân liên kết là công ty tài chính. Công ty ‘mẹ’ là
công ty tài chính nắm giữ cổ phần chi phối các công ty ‘con’. Sự phát triển cao
của thị trường tài chính cho phép một công ty có thể kiểm soát tổng số vốn và
tài sản lớn hơn nhiều so với số vốn của bản thân nó bằng cách sở hữu trên 50%
số cổ phần của công ty khác. Do đó các công ty trong tập đoàn không nhất thiết
có mối liên hệ về sản phẩm, công nghệ hay kỹ thuật. Hình thức công ty ‘mẹ’
thuộc loại này đang trở nên phổ biến.
Conglomerate là hình thức liên kết giữa các công ty không cùng ngành.
Từ điển thương mại Anh - Pháp - Việt đã định nghĩa conglomerate là: “Một tổ
chức kinh doanh, nói chung, bao gồm một công ty mẹ và một nhóm các công ty
chi nhánh liên kết với nhau trong những hoạt động không giống nhau”.
Dưới hình thức Conglomerate, tập đoàn có đặc điểm đa ngành, đa lĩnh
vực. Các công ty thành viên chịu sự chi phối và kiểm soát của công ty ‘mẹ’

cổ đông đóng góp của các thành viên. Hội đồng quản trị tập đoàn (hay công ty
Lê Quang Vinh - Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề tốt nghiệp
‘mẹ’ của tập đoàn) chỉ kiểm soát về mặt tài chính, chiến lược đầu tư thông qua
các đòn bẩy kinh tế, còn các thành viên hoàn toàn tự chủ trong quyết định hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình. Ở các công ty thành viên có hội đồng quản
trị và ban giám đốc riêng để lãnh đạo, quản lý và điều hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh của từng công ty đó.
-Nguyên tắc hoạt động: Tối đa hoá lợi nhuận là nguyên tắc luôn được
khẳng định trong mọi trường hợp.
Trong quá trình phát triển và chọn lọc lâu dài của các tập đoàn, các ưu
điểm của từng mô hình tập được học tập và đúc rút kinh nghiệm để ngày một
hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ hơn. Một số đặc trưng được xem là ưu điểm
và phổ biến hiện nay của các mô hình tập đoàn kinh doanh là:
Một là, sự chuyên môn hoá về tài chính của công ty ‘mẹ’. Trong mô hình
tập đoàn kinh doanh kinh doanh đa ngành (mô hình thứ ba - các Conglomerate).
các công ty ‘mẹ’ (holding company - holding theo tiếng Anh có nghĩa là “nắm
giữ”) chuyên môn hoá trong lĩnh vực đầu tư nắm giữ cổ phiếu của các công ty
‘con’, thay đổi cấu trúc và hoạt động của tập đoàn kinh doanh thông qua việc
mua bán quyền sở hữu các công ty.
Trong mô hình này các tập đoàn kinh doanh thường có các công ty tài
chính thành viên, công ty bảo hiểm và ngân hàng thành viên trợ giúp quản lý tài
chính cho tập đoàn. Vai trò của các công ty này là rất lớn, đặc biệt là công ty tài
chính trong việc huy động vốn và điều hoà và luân chuyển vốn giữa các thành
viên trong tập đoàn. Bên cạnh đó các công ty bảo hiểm, các ngân hàng thành
viên cũng trợ giúp rất lớn cho công ty ‘mẹ’ trong việc điều hành và kiểm soát tài
chính của tập đoàn.
Hai là, tính chất đa ngành của các mô hình tập đoàn đang ngày càng trở
nên phổ biến. Các tập đoàn kinh doanh sau khi phát triển lớn mạnh đều mở rộng
hoạt động của mình sang nhiều lĩnh vực khác nhau. Các tập đoàn hầu hết đều có

dài và gắn bó với công ty, tuy nhiên công đoàn hoạt động yếu và chịu ảnh hưởng
của chính trị. Chính phủ can thiệp mạnh vào nền kinh tế, thực thi chính sách ủng
Lê Quang Vinh - Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề tốt nghiệp
hộ và định hướng phát triển cho các tập đoàn kinh doanh, các quan chức chính
phủ và giới kinh doanh có mối quan hệ chặt chẽ.
- CHLB Đức: Là loại mô hình tách rời ngang trong việc phân chia quyền
lực. Thành lập hội đồng quản trị và Ban điều hành, có sự phân biệt tách rời giữa
Hội đồng quản trị và Ban điều hành với chức năng và nhiệm vụ khác nhau.
Chính phủ điều tiết và duy trì độc quyền một số dịch vụ công ích. Quyền của
người lao động có nhiều ảnh hưởng thông qua Công đoàn hay Hội đồng công
nhân và được quy định trong điều lệ về quyền tham gia của người lao động
trong các vấn đề quan trọng của công ty.
- Trung Quốc: Là mô hình tách rời ngang giống của Đức nhưng có nhiều
chủ thể tham gia quản lý hơn. Thành lập Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc và
Ban giám sát, xử lý hài hoà mối quan hệ giữa HĐQT, Ban Giám đốc, Ban giám
sát với Ban chấp hành Đảng bộ, Ban chấp hành Công đoàn và Đại hội Công
nhân viên chức. Bí thư Đảng uỷ và Chủ tịch Hội đồng quản trị do một người
đảm nhiệm, Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc về lý thuyết phải
riêng biệt. Chính phủ phi tập trung hoá quyền lực, xoá bỏ sự can thiệp thái quá
của nhà nước, hỗ trợ cho sự phát triển của các tập đoàn kinh doanh và định
hướng thị trường theo xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc. v.v...
Cách đây một vài thập kỷ, các tập đoàn của Mỹ còn học hỏi văn hoá quản
lý của người Nhật, giờ đây họ lại coi đó là nguyên nhân gây ra sự chậm phát
triển. Các tập đoàn Đức thường được ca ngợi bởi cấu trúc chặt chẽ, tính pháp
luật cao, thì nay bị phê phán là không thích nghi với sự thay đổi của môi trường
kinh doanh. Các tập đoàn Hàn Quốc còn được coi là sự kết hợp hiệu quả của các
mô hình trên và tập trung quyền lực cho những người thân trong gia đình, thì
sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, đã bộc lộ những yếu kém về quản lý
tập đoàn theo hình thức gia đình trị, gây thất thoát vốn. Các tập đoàn của Mỹ

nhất, bởi vì quá trình ứng dụng và chuyển giao sẽ trở nên dễ dàng thông qua
hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các công ty ‘con’ của tập đoàn trên lãnh thổ
của nhiều nước.
Lê Quang Vinh - Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề tốt nghiệp
Năm là, Tập đoàn kinh doanh tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh
quốc gia khi tham gia cạnh tranh quốc tế và thực hiện các mục tiêu xã hội. Một
đất nước có nền kinh tế mạnh nhất thiết phải có các doanh nghiệp lớn mạnh, khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế được thể hiện thông qua sự lớn mạnh của các
doanh nghiệp. Do đó, để có thể cạnh tranh được trên trường quốc tế thì quốc gia
đó phải có những tập đoàn kinh tế mũi nhọn, lớn mạnh để gia nhập vào nền kinh
tế thế giới cũng như thực hiện được các mục tiêu xã hội của đất nước.
Như vậy, các tập đoàn kinh doanh có ưu thế rất lớn cho sự phát triển kinh
tế xã hội của một đất nước. Đối với Việt Nam, việc hình thành và phát triển các
tập đoàn kinh tế mạnh là một hướng đi đúng đắn trong phát triển kinh tế xã hội
và gia nhập kinh tế quốc tế. Chủ trương này đang được Đảng và Nhà nước ta hết
sức quan tâm.
1.2 PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN TRONG TẬP ĐOÀN KINH
DOANH
1.2.1 Khái niệm về phương thức huy động vốn
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp và
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn
được đầu tư vào sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận, tức là làm tăng thêm
giá trị cho chủ sở hữu doanh nghiệp. Quá trình cung ứng các nguồn vốn cho hoạt
động của các doanh nghiệp được gọi là sự tài trợ (financing), bao gồm các
phương thức huy động vốn, tạo nguồn và đảm bảo các nguồn lực tài chính để
doanh nghiệp hoạt động một cách có hiệu quả. Khái niệm phương thức huy
động vốn của doanh nghiệp có thể hiểu như sau:
Phương thức huy động vốn của doanh nghiệp là hệ thống các phương
pháp và công cụ để khai thác, huy động các nguồn vốn phục vụ cho sản xuất

viên thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn.
Lê Quang Vinh - Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề tốt nghiệp
Bên cạnh đó, phương thức huy động vốn còn có vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính.
Với tư cách là một bộ phận của cơ chế quản lý tài chính, phương thức huy
động vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế - xã hội và
phản ánh cơ chế quản lý kinh tế qua mỗi thời kỳ ở một mức độ nào đó. Tất
nhiên, mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào tính chất của từng nhân tố kinh tế,
chính trị, xã hội và không giống nhau.
Các hoạt động huy động vốn của các doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ
tài chính giữa doanh nghiệp và thị trường tài chính, ở một mức độ bao quát hơn
là quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh doanh. Do đó, cơ chế huy
động vốn vừa là sản phẩm của cơ chế quản lý kinh tế vừa là một nhân tố thúc
đẩy sự phát triển của thị trường tài chính. Nếu thị trường tài chính phát triển
mạnh và đa dạng thì sẽ tạo điều kiện đa dạng hoá các hình thức và kênh thu hút
vốn cho doanh nghiệp. Qua kinh nghiệm của nhiều nước cũng như thực tiễn
phát triển kinh tế nước ta cho thấy: mối quan hệ giữa cơ chế hoạt động huy động
vốn và hệ thống tài chính là mối quan hệ biện chứng phụ thuộc lẫn nhau, tác
động bổ sung cho nhau trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia.
Đối với các tập đoàn kinh doanh, các tổng công ty cũng như các doanh
nghiệp nhà nước khác ở nước ta, cơ chế huy động vốn đã có những thay đổi nhất
định và được điều chỉnh phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế qua các thời kỳ khác
nhau. Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, các chính sách, quy định
về huy động vốn đã từng bước được điều chỉnh.
1.2.2 Nội dung phương thức huy động vốn của tập đoàn kinh doanh
a) Huy động vốn bằng đầu tư từ ngân sách Nhà nước:
Đối với tập đoàn kinh doanh, Nhà nước đóng vai trò như một cổ đông của
tập đoàn, thực hiện đầu tư vốn cho tập đoàn, thông qua đó quyết định mức độ sở
hữu của Nhà nước đối với tập đoàn kinh doanh.

vốn trung và dài hạn với các điều kiện về
mệnh giá, lãi suất và thời hạn xác định.
Khi công ty phát hành trái phiếu tức là
công ty đó thực hiện một quan hệ tín dụng
thông qua việc mua bán các công cụ tài
Lê Quang Vinh - Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề tốt nghiệp
chính ra thị trường chứng khoán.
Quan hệ sở hữu và quyền quản lý:
Cổ phiếu là công cụ quan trọng
để kiểm soát tập đoàn thông qua sở
hữu. Thông qua nắm giữ cổ phiếu, cổ
đông có quyền tham gia điều hành
công ty, nếu tỷ lệ cổ phiéu nắm giữ là
đa số thì cổ đông đó sẽ nắm quyền
kiểm soát công ty. Huy động bằng cổ
phiếu là tăng thêm vốn chủ sở hữu,
tăng mức độ an toàn và giảm nguy cơ
phá sản khi doanh nghiệp gặp khó
khăn.
Trái phiếu không làm thay đổi quan
hệ sở hữu trong công ty, tức là không ảnh
hưởng đến quyền quản lý và kiểm soát
công ty, do đó nó được coi là biện pháp an
toàn về mặt sở hữu để huy động vốn. Tuy
nhiên, nó có liên quan mật thiết với khả
năng tín dụng của công ty. Khi phát hành
thêm trái phiếu mà không thay đổi vốn chủ
sở hữu thì tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu với
vốn vay sẽ giảm, phản ánh độ tin cậy tín

khi đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho
các món vay.
Các trái chủ thì được công ty bảo
đảm quyền được nhận lợi tức trái phiếu 1
cách ổn định, không phụ thuộc vào kết quả
kinh doanh của công ty. Được ưu tiên
thanh toán trước khi công ty phá sản.
Ngoài ra việc phát hành trái phiếu hay cổ phiếu đều phải tính đến hàng
loạt yếu tố khác như: các quy định của nhà nước, điều kiện phát hành, trạng thái
của nền kinh tế, thị trường tài chính, lãi suất...
Đối với tập đoàn kinh doanh, phát hành trái phiếu và cổ phiếu là công cụ
quan trọng để huy động vốn cho sản xuất kinh doanh. Đặc biệt, cổ phiếu là công
cụ quan trọng để kiểm soát tập đoàn thông qua sở hữu. Để nghiên cứu cấu trúc
sở hữu cổ phần của các tập đoàn kinh doanh có thể tham khảo trường hợp của
các tập đoàn kinh doanh ở Hàn Quốc như trong bảng:
Bảng 1.1: Quyền sở hữu của các TĐKD Hàn Quốc phân theo thành viên trong
nội bộ (tỷ lệ % so với các cổ phần hiện có)
Tập đoàn
Cổ đông
sáng lập
Cổ đông
khác
Các công ty
thành viên
Tổng số
Huyn dai 3,7 12,1 44,6 60,4
Sam sung 1,5 1,3 46,3 49,3
LG 0,1 5,6 33 39,7
Dae woo 3,9 2,8 34,6 41,4
(Nguồn: Đông Á - Con đường dẫn đến hồi phục,WorldBank 1999)

Lê Quang Vinh - Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề tốt nghiệp
lợi và hiệu quả cao đã làm cho nguồn vốn tín dụng ngân hàng chiếm vị trí quan
trọng nhất đối với các công ty cũng như các tập đoàn trên thế giới.
Với xu hướng hiện nay, hầu hết quá trình tín dụng trong các tập đoàn kinh
doanh được phân cấp và tự do hoá; trong đó mở rộng vai trò của các công ty
thành viên để nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh. Trong tập
đoàn, các công ty thành viên được chủ động vay vốn và phát triển theo định
hướng chiến lược của tập đoàn.
Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, hạn chế của nguồn vốn tín dụng là
mức độ rủi ro và khả năng gây tổn thất khi không đáp ứng được khả năng thanh
toán khi đến hạn. Vì thế, để đảm bảo sự an toàn chung của cả hệ thống , các tập
đoàn kinh doanh phải thực hiện những biện pháp nhằm kiểm soát hoạt động vay
vốn tín dụng, nhất là tín dụng ngân hàng và việc phát hành trái phiếu công ty.
Một trong những vấn đề trọng tâm của cơ chế kiểm soát tín dụng là: mối
quan hệ giữa tính chủ động, linh hoạt, hiệu quả và sự an toàn về tín dụng của tập
đoàn. Một số biện pháp thường được áp dụng là:
- Tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ của các công ty thành viên và hệ
thống kiểm soát quản trị của toàn bộ tập đoàn.
- Thiết lập các giới hạn tín dụng và các chỉ tiêu kiểm tra ngăn ngừa việc
vay vốn không có hiệu quả hoặc không an toàn.
- Hệ thống quản lý toàn bộ quy trình tín dụng của mỗi doanh nghiệp bao
gồm việc xây dựng luận chứng vay vốn và sử dụng vốn có hiệu quả.
Đối với tập đoàn kinh doanh, để huy động bằng hình thức tín dụng thì vai
trò của công ty ‘mẹ’ và công ty tài chính là rất quan trọng. Để vay được vốn
ngân hàng với lãi suất thấp, tín dụng thương mại với các đối tác kinh doanh, vay
vốn từ các tổ chức tài chính trong và ngoài nước thì công ty ‘mẹ’ thường sử
dụng uy tín và tiềm lực của mình để vay vốn về cho tập đoàn sau đó thông qua
công ty tài chính cho các công ty ‘con’ vay lại.
Thương hiệu và sức mạnh tài chính của công ty ‘mẹ’ sẽ giúp công ty này

thức tín dụng nội bộ được áp dụng phổ biến nhất. Sự lưu chuyển vốn nội bộ tạo
ra khả năng điều hoà và sử dụng tối ưu nguồn lực tài chính của tập đoàn. Đây là
Lê Quang Vinh - Tài chính doanh nghiệp 44A
Chuyên đề tốt nghiệp
một trong những đặc trưng tài chính chỉ có ở tập đoàn kinh doanh mà các doanh
nghiệp khác không có.
Đối với thức tín dụng nội bộ, các tập đoàn kinh doanh thường có các công
ty tài chính làm nhiệm vụ điều hoà vốn giữa các thành viên trong tập đoàn. Các
công ty tài chính sẽ điều tiết vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu trên cơ sở quan hệ
tín dụng bình đẳng giữa các thành viên của tập đoàn. Lãi suất vay vốn nội bộ là
lãi suất thoả thuận và là nhân tố kích thích sự di chuyển có hiệu quả nguồn vốn
từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Vì thế nguồn vốn trong tập đoàn sẽ được
phân phối điều hoà và sử dụng có hiệu quả hơn.
Trong các tập đoàn đa quốc gia, do phạm vi phân bố và hoạt động ở nhiều
quốc gia khác nhau nên các hoạt động khai thác và lưu chuyển các nguồn tài
chính nội bộ rất phức tạp và có ý nghĩa quan trọng. Giữa các công ty thành viên
với nhau và công ty mẹ phải thiết lập được một hệ thống trao đổi các nguồn tài
chính (được gọi là Internal financial transfer-IFT). Hệ thống IFT cho phép thực
hiện các hoạt động lưu chuyển, điều hoà vốn trong nội bộ tập đoàn với chi phí
thấp và có hiệu quả cao. Một số tập đoàn nguồn tài chính nội bộ có thể chiếm tỷ
trọng rất cao từ 40% đến 50% thậm chí đến 70% trong tổng nguồn vốn của các
công ty.
1.3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN
ĐỐI VỚI CÁC TẬP ĐOÀN KINH DOANH TRÊN THẾ GIỚI
1.3.1 Kinh nghiệm từ các mô hình quản trị của một số tập đoàn kinh doanh
trên thế giới
a) Kinh nghiệm của tập đoàn France Telecom (FT) của Cộng hoà Pháp
Năm 1987, cộng hoà Pháp thực hiện mở cửa thị trường viễn thông. Sau
khi thực hiện chính sách này, trên thị trường của Pháp có tới trên 900 doanh
nghiệp với tư cách là nhà cung cấp hoặc là nhà khai thác dịch vụ bưu chính viễn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status