BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Minh Kim Nhật
CẤU TẠO HÌNH THỨC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA
THUẬT NGỮ THỂ THAO TIẾNG VIỆT
(so sánh với tiếng Anh)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRỊNH SÂM
Thành phố HỒ CHÍ MINH - 2010
LỜI CÁM ƠN
Luận văn này được hoàn thành là nhờ vào sự động viên, giúp đỡ đầy nhiệt tình của
Quý Thầy Cô. Với tấm lòng chân thành, học viên xin được gởi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến :
- Thầy TRỊNH SÂM, người đã tận tình hướng dẫn, sửa chữa sai sót về kiến thức và
phương pháp đồng thời quan tâm động viên học viên không chỉ trong thời gian học tập mà
còn cả trong thời gian hoàn thành luận văn.
- Quý Thầy Cô khoa Ngữ Văn trường ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TP. Hồ Chí Minh, quý Thầy Cô đã động viên, gợi mở nhiều ý kiến quý báu và tạo điều kiện
thuận lợi cho học viên được học tập mở mang, trau dồi kiến thức.
- Quý Thầy Cô phòng Sau Đại Học trường ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
3T
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 7
3T
T
3
0.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ..................................................................................................................... 7
3T
3T
0.2. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI ........................................................................................................................... 8
3T
3T
0.3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ .................................................................................................. 8
3T
3T
0.4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ......................................................................................................... 10
3T
3T
0.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU và NGUỒN NGỮ LIỆU ............................................................. 11
3T
0.6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN ...................................................................................................... 12
3T
3T
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN ...................................................................................... 13
3T
3T
1.1. THUẬT NGỮ ................................................................................................................................. 13
3T
3T
1.1.1. Định nghĩa ............................................................................................................................... 13
T
3
3T
1.1.2. Thuật ngữ tiếng Việt ................................................................................................................ 14
T
3
3T
1.1.2.1. Các tiêu chuẩn của thuật ngữ ............................................................................................ 14
T
T
3
3T
1.1.2.7.Tính dễ dùng ..................................................................................................................... 21
T
3
3T
1.1.2.8. Tính sản sinh .................................................................................................................... 22
T
3
3T
1.1.2.8. Một số nguyên tắc tạo lập thuật ngữ.................................................................................. 22
T
3
T
3
1.1.2.9.Quá trình hình thành thuật ngữ tiếng Việt .......................................................................... 24
T
3
T
3
T
3
1.1.5.1. Thuật ngữ tiếng Việt ......................................................................................................... 37
T
3
3T
1.1.5.2. Thuật ngữ tiếng Anh ......................................................................................................... 42
T
3
3T
1.2. THUẬT NGỮ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ..................................................................... 45
3T
T
3
1.2.1. Nhu cầu chuẩn hóa thuật ngữ thể thao tiếng Việt ...................................................................... 46
T
3
T
3
1.2.1.2. Tổng quan về các bộ môn thể thao .................................................................................... 47
T
3
1.2.3. Tiểu kết.................................................................................................................................... 57
T
3
3T
CHƯƠNG 2 : ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA THUẬT NGỮ THỂ THAO TIẾNG
VIỆT (so sánh với tiếng Anh) ............................................................................................ 58
3T
3T
2.1. CẤU TRÚC HÌNH THỨC CỦA THUẬT NGỮ THỂ THAO.......................................................... 58
3T
T
3
2.1.1. Đôi nét về cấu trúc hình thức của thuật ngữ thể thao ............................................................... 58
T
3
T
3
2.1.2.Cấu trúc hình thức của thuật ngữ thể thao tiếng Việt ................................................................. 65
T
2.1.3.2. Thuật ngữ thể thao là từ ghép ........................................................................................... 75
T
3
T
3
2.1.3.3. Thuật ngữ thể thao là cụm từ ............................................................................................ 78
T
3
T
3
2.2. CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA THUẬT NGỮ THỂ THAO ......................................................... 80
3T
T
3
2.2.1. Đôi nét về cấu trúc ngữ nghĩa của thuật ngữ thể thao................................................................ 80
T
3
T
3
2.2.2. Cấu trúc ngữ nghĩa của thuật ngữ thể thao tiếng Việt ............................................................... 81
T
T
3
2.2.3.1. Thuật ngữ thể thao là từ đơn ............................................................................................. 83
T
3
3T
2.2.3.2. Thuật ngữ thể thao là từ ghép ........................................................................................... 85
T
3
T
3
2.2.3.3. Thuật ngữ thể thao là cụm từ ............................................................................................ 86
T
3
T
3
2.3. TIỂU KẾT....................................................................................................................................... 87
3T
T
3
KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 88
T
3
PHỤ LỤC 4 ......................................................................................................................................... 182
3T
T
3
BẢNG CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
STT
NỘI DUNG
Tiếng VIỆT
Tiếng ANH
1.
Vận động viên
VĐV
2.
Danh từ
Cụm từ cố định
(ctcđ)
(exp)
7.
Ghép chính phụ
(gh C-P)
(cn)
8.
Ghép đẳng lập
(gh ĐL)
(cn)
MỞ ĐẦU
0.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ở Việt Nam, “Chơi thể thao cho khoẻ” nói lên thể thao, trong cái nhìn chung của xã
hội, thường được liên kết với khái niệm ‘giải trí’, ‘trò chơi vận động’... hay được xem là các
hoạt động nhằm giải tỏa sức ép công việc. Thậm chí, trên báo chí, tin tức thể thao thường
được sưu tập, phân loại và phân tích trên nhiều phương diện.
Từ tất cả những điều trình bày trên, chúng tôi mạnh dạn chọn “Cấu trúc hình thức và
ngữ nghĩa của thuật ngữ thể thao tiếng Việt (so sánh với
tiếng Anh) “ là đề tài nghiên cứu.
0.2. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Theo từ điển tiếng Việt do Trung Tâm Tự Điển Học, Vietlex xuất bản thì: “ thể thao,
những hoạt động nhằm nâng cao thể lực, sức khỏe cho con người, thường tổ chức thành các
hình thức trò chơi, luyện tập, thi đấu theo những nguyên tắc nhất định.” (tr.1202)
Như vậy, khái niệm thể thao trong “hình thức cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ thể
thao tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh)” còn khá rộng, cần thiết phải tiếp tục minh định giới
hạn.
Phạm vi của đề tài này được khuôn định như sau, thuật ngữ thể thao được sưu tập
trong năm bộ môn cụ thể gồm :
- Điền kinh (Track and Field)
- Bóng chuyền (Volleyball)
- Bóng rổ (Basketball)
- Bóng đá (Soccer, Football)
- Bóng ném (Handball)
0.3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
So với các ngành nghiên cứu khác, ngành nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt lại gắn
liền sâu sắc với quá trình hình thành các ngành khoa học. Như ta biết, trước 1945, có rất
nhiều học giả nghi ngờ về khả năng biểu đạt các khái niệm khoa học của tiếng Việt. Và có
thể nói, sự phát triển của thuật ngữ gắn liền với sự phát triển của chữ quốc ngữ, với nhiều bộ
môn khoa học khác nhau. Lúc đầu, một số nhà trí thức như Dương Quảng Hàm, Vũ Công
1964). Ngoài ra còn có thể kể đến các ý kiến của các nhà khoa học đăng trên các tạp chí
Bách Khoa như : Phạm Hoàng Hộ, Trần Kim Thạch, Vũ Văn Mẫu, Đào Trọng Dương...
Trong điều kiện đất nước đã thống nhất, vào cuối các năm 1979-1980, Ủy Ban Khoa
Học Xã Hội Việt Nam, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã liên tiếp tổ chức nhiều cuộc hội thảo
bàn về thuật ngữ, tổ chức tại Hà Nội, Tp. HCM và Tp. Huế. Trên cơ sở các hội nghị này, “
Một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục” được công bố vào tháng
11 năm 1980, do phó chủ nhiệm Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam Phạm Huy Thông và
Thứ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Võ Thuần Nho ký. Tiếc rằng các quy định này chưa
thật sự đi vào cuộc sống.
Sau đó, vào những năm đất nước đổi mới, cùng với sự phát triển của nhiều ngành, một
số từ điển thuật ngữ nhất là từ điển khoa học ra đời. Trên tạp chí Ngôn Ngữ rải rác có một số
bài viết nhận xét về hệ thống thuật ngữ như Tài Chính-Kế Toán, Ngân Hàng, thuật ngữ về
thương mại, tài chính… .
Theo khảo sát chưa đầy đủ của chúng tôi thì hình như chưa có một công trình nào bàn
về thuật ngữ Thể Dục Thể Thao, đối tượng khảo sát chính của luận văn này.
Trên cơ sở thừa hưởng kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước, luận văn này sẽ
khảo sát các hệ thống thuật ngữ thể thao của năm bộ môn đã xác định một cách hệ thống.
0.4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các đặc điểm về cấu tạo hình thức và ngữ nghĩa
của thuật ngữ thể thao tiếng Việt, so sánh với các thuật ngữ thể thao tiếng Anh trong các bộ
môn điền kinh, bóng rổ, bóng chuyền,bóng đá, bóng ném. Các thuật ngữ này thuộc hệ thống
lớn (thể thao) hay các hệ thống nhỏ (bộ môn cụ thể) có thể là tên gọi các động tác, các từ ngữ
thường dùng trong chỉ đạo kỹ thuật thi đấu hay huấn luyện, các từ ngữ thường xuất hiện trên
các báo hay tạp chí thể thao tiếng Việt và tiếng Anh.
Thử xem qua một mục thông tin nhỏ của Thông Tấn Xã Việt Nam : “Bên đường đua
nữ, Katie Hoff cũng đang nhắm đến vài chiếc huy chương vàng, thế nhưng Hoff mới tìm
được chiếc huy chương đồng đầu tiên ở nội dung 400 mét hỗn hợp nữ. Stephanie Rice của
- huy chương vàng / huy chương đồng
(Bảng 0.4.1)
Như vậy, tuy là cùng hệ thống thuật ngữ, nhưng tùy theo đặc điểm nội dung có thể tiếp
tục chia nhỏ hơn. Trong đó có những thuật ngữ dùng cho nhiều bộ môn , mà cũng có thể chỉ
chuyên đề một lĩnh vực hẹp. Luận văn này dựa vào các sưu tập, tiến hành phân loại các thuật
ngữ trong phạm vi đã giới hạn. Nói cụ thể, đối tượng khảo sát gồm 1583 thuật ngữ của năm
bộ môn và tập trung ở hai bình diện : cấu tạo và ngữ nghĩa.
0.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU và NGUỒN NGỮ LIỆU
0.5.1. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê : giúp chúng tôi tính toán, xác định tần số xuất hiện của
các thuật ngữ, để từ đó nêu lên các kết luận trong quá trình nghiên cứu của luận án.
Phương pháp miêu tả : nhằm phân tích đặc điểm cấu tạo và nội dung của thuật
ngữ thể thao tiếng Việt, tiếng Anh.
Phương pháp so sánh đối chiếu : để tìm ra sự tương đồng và dị biệt của hai hệ
thống thuật ngữ thể thao tiếng Anh và tiếng Việt. Thông qua phương pháp này, có thể phát
hiện ra các ảnh hưởng và các khó khăn trong việc dịch thuật các thuật ngữ thể thao tiếng Anh
sang tiếng Việt nhằm có được cách giải quyết thích hợp.
luận văn được triển khai trong hai chương :
Chương I
: Cơ sở lý luận : xác định bộ máy khái niệm liên quan, dùng nó như là cơ
sở để lý giải các hiện tượng cụ thể.
Chương II
: Đặc điểm ngôn ngữ của thuật ngữ thể thao tiếng Việt, luận văn tập trung
miêu tả trên hai bình diện hình thức cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ thể thao tiếng Việt,
và trong một chừng mực nhất định có tiến hành so sánh đối chiếu với tiếng Anh.Ngoài ra,
luận văn còn có các phụ lục bao gồm: - phụ lục 1: thuật ngữ thể thao Việt-Anh
- phụ lục 2: thuật ngữ thể thao Anh-Việt
- phụ lục 3: các từ, cụm từ gốc Hán-Việt có sức sản sinh cao
- phụ lục 4: một số thuật ngữ thể thao
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN
Xét về phạm vi sử dụng, thuật ngữ rõ ràng có phạm vi sử dụng hẹp, gắn liền với một
nội dung khoa học nào đó. Chúng thường biểu thị một khái niệm lý thuyết chung , cụ thể hay
trừu tượng của một lĩnh vực tri thức hay hoạt động chuyên môn nhất định. Và như vậy, cũng
có thể nói được là chúng gắn liền với con người sử dụng. Tuy nhiên, vấn đề không phải đơn
giản như thế.
Thuật ngữ khoa học với tư cách là một tiểu hệ thống đối lập với từ ngữ sinh hoạt hằng
ngày. Ở bình diện hình thức cấu tạo và ngữ nghĩa có ít nhiều khác biệt so với từ ngữ bình
thường.
Trước khi đi vào mô tả cụ thể, chúng tôi sẽ tổng quan một số vấn đề về lý thuyết.
1.1. THUẬT NGỮ
có những hệ thống thuật ngữ về kỹ thuật thi đấu, về tổ chức, điều lệ,..
Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập. Việc cấu tạo theo phương thức thêm thành tố phụ
vào một thành tố chính, trong đó thành tố chính mang nghĩa khái quát chỉ tổng loại, thành tố
phụ hạn định nghĩa của thành tố chính chỉ loại cụ thể, là phương thức thường gặp nhất. Ví
dụ: bóng / bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, bóng ném…. Trong tiếng Anh, việc thêm các yếu
tố vào thuật ngữ này cũng được thực hiện theo hình thức từ ghép hay cụm từ. Ví dụ: ball /
football, volleyball, basketball, handball… .
Các nhà ngôn ngữ học Nga thường nhấn mạnh đến tính lý do của thuật ngữ. Nói cách
khác, trong phạm vi từ ngữ bình thường, mối quan hệ giữa từ và sở chỉ là không có lý do,
còn trong thuật ngữ thì ngược lại. Một thuật ngữ bền vững là một thuật ngữ sử dụng các
thuộc tính nổi trội để định danh đối tượng. Và phần lớn các thuật ngữ trong nhiều ngành
khoa học khác nhau đều dùng cách đặc trưng này.
Đến đây, chúng tôi có thể xác định khái niệm thuật ngữ như sau: là từ hay cụm từ
chuyên môn, được sử dụng trong hoạt động chuyên ngành. Thuật ngữ là yếu tố khái niệm cơ
sở của mọi ngôn ngữ dùng cho mục đích chuyên môn, nó là sự biểu đạt bằng từ ngữ một
khái niệm của một hệ thống khái niệm thuộc một lĩnh vực tri thức chuyên ngành nhất định.
1.1.2. Thuật ngữ tiếng Việt
1.1.2.1. Các tiêu chuẩn của thuật ngữ
Theo Đề Cương Văn hóa (1943), Đảng Cộng Sản Việt Nam chủ trương xây dựng một
nền văn hóa theo phương châm khoa học , dân tộc, đại chúng. Hiện nay, khi xác định tính
chuẩn mực của thuật ngữ, có nhiều ý kiến rất khác nhau. Phần sau đây, chúng tôi sẽ tổng hợp
một số đặc điểm nổi bật và được nhiều người công nhận.
1.1.2.2. Tính chính xác
Mọi từ trong ngôn ngữ đều liên hệ với khái niệm, nhưng các khái niệm được
biểu hiện trong các từ thông thường khác với các khái niệm được biểu hiện trong các thuật
ngữ. Các khái niệm được biểu hiện trong các từ thông thường chỉ là các khái niệm thông
English
ánh sáng chiếu rọi vào vật sceaduwe, form of sceadu
P
P
lý, “bóng4” là thuật ngữ thể thao.
P
P
Trong một hệ thống, thuật ngữ chính xác là một thuật ngữ khi nói ra, viết ra thì
người nghe hay người đọc hiểu một và chỉ một khái niệm ứng với nó mà thôi. Tính chính xác
về ngữ nghĩa làm cho thuật ngữ tự thân không mang ý nghĩa biểu thái. Tính chính xác cũng
loại trừ tính nhiều nghĩa của thuật ngữ.Nói cách khác, mổi thuật ngữ chỉ có một giá trị duy
nhất, thể hiện một khái niệm duy nhất.
Muốn đảm bảo tính chính xác rõ ràng của mỗi thuật ngữ trong mỗi hệ thống
thuật ngữ, phải cố gắng tiến tới nguyên tắc “mỗi khái niệm có một thuật ngữ và mỗi thuật
ngữ chỉ một khái niệm”. Nguyên tắc này không đòi hỏi phải xoá bỏ tất cả những hiện tượng
đồng âm, đồng nghĩa giữa những hệ thống thuật ngữ khác nhau, giữa những lĩnh vực khác
nhau cũng như giữa lĩnh vực chuyên môn với các sinh hoạt thông thường do các hiện tượng
này không phá vỡ tính hệ thống, tiêu chuẩn thứ hai của thuật ngữ.
1.1.2.3. Tính hệ thống
Ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy, vì tư duy con người chỉ có thể thực hiện thông
qua ngôn ngữ, vì ngôn ngữ là những ký hiệu ghi lại kết quả suy luận trừu tượng của tư duy.
Hệ thống khái niệm không thể nào tách rời khỏi hệ thống ký hiệu, vì “ngôn ngữ là một hệ
thống các ký hiệu biểu đạt khái niệm” [42, tr.33]. Nói một cách cụ thể hơn, thuật ngữ là “cái
vỏ”, cái hình thức chứa đựng một nội dung khái niệm khoa học. Mỗi thuật ngữ đều bị quy
định bởi trường từ vựng và trường khái niệm.
1.1.2.4.Tính quốc tế
Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học,
chuyên môn chung cho những người nói những thứ tiếng khác nhau. Vì vậy, sự thống nhất
thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích. Chính điều này đã tạo nên tính quốc tế
của thuật ngữ. Thông thường, nói đến tính quốc tế của thuật ngữ, người ta chú ý tới biểu hiện
cấu tạo hình thức của chúng: các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống hoặc tương tự nhau,
cùng xuất phát từ một gốc chung. Ví dụ: các thuật ngữ như “axít” (acid / acide), “xăng”
(essence), “ma-ra-tông” (marathon) ….
Thực ra, về cấu tạo hình thức, tính quốc tế của thuật ngữ chỉ có tính chất tương
đối. Mức độ thống nhất của các thuật ngữ rất khác nhau, có thuật ngữ thống nhất trên phạm
vi rộng, có thuật ngữ thống nhất trên phạm vi hẹp hơn do truyền thống lịch sử hình thành các
khu vực văn hoá khác nhau. Tính thống nhất của thuật ngữ thể hiện ở sự thống nhất trong
phạm vi các khu vực. Thuật ngữ của ngôn ngữ Ấn Âu thường bắt nguồn từ các tiếng Hy Lạp,
La Tinh… ,trong khi thuật ngữ tiếng Việt và nhiều tiếng khác ở Đông Nam Á phần lớn dựa
trên cơ sở các yếu tố gốc Hán. Có lẽ do sự thống nhất tương đối trong cấu tạo hình thức của
thuật ngữ mà nhiều người đã xem nhẹ tính quốc tế của thuật ngữ .
Nếu chú ý tới mặt ngữ nghĩa của thuật ngữ, thì phải thừa nhận rằng, tính quốc tế của
thuật ngữ là một đặc trưng quan trọng. Nó phân biệt thuật ngữ với những bộ phận từ vựng
khác vì thuật ngữ biểu hiện những khái niệm khoa học, chuyên môn chung cho những người
nói những thứ tiếng khác nhau. Về mặt cấu trúc hình thức, việc đảm bảo tính quốc tế đôi khi
mâu thuẫn với tính dân tộc, tính dễ hiểu trong cấu tạo hình thức của thuật ngữ.
Ví dụ :
MÔN
STT
TIẾNG ANH
Rõ ràng, tính chuyên biệt trong sử dụng của các thuật ngữ trên được thể hiện khá rõ,
thậm chí cách định danh động tác giả là tùy vào bộ môn thể thao, đó có thể là động tác của
chân hoặc của tay. Tất cả điều này cho thấy tính quốc tế và tính dân tộc hình như mâu thuẫn
với nhau. Đây là vấn đề phức tạp, luận văn sẽ phân tích kỹ hơn ở chương sau.
1.1.2.5.Tính dân tộc
Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ dùng để gọi chính xác các
khái niệm, các đối tượng thuộc lĩnh vực khoa học, chuyên môn, nhất thiết phải là một bộ
phận của ngôn ngữ dân tộc. Do đó, thuật ngữ phải có tính chất dân tộc, phải mang màu sắc
ngôn ngữ dân tộc. Mỗi ngôn ngữ có màu sắc riêng, có đặc điểm riêng của nó. Muốn giữ
được cái bản sắc tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc, thì giữ gìn tính chất trong sáng của tiếng nói
dân tộc là một việc vô cùng quan trọng, mà trong đó, điều nổi bật trước tiên là vấn đề giữ gìn
sự trong sáng trong từ ngữ chuyên môn, khoa học. Thuật ngữ phải sử dụng các từ thông
thường trong tiếng nói của quần chúng cũng nhằm mục đích nêu rõ ý nghĩa của nó.
Thông thường, tính dân tộc của thuật ngữ được thể hiện qua:
- phương thức cấu tạo : thuật ngữ tiếng Việt sử dụng phương thức từ hóa hình vị
để tạo các từ đơn và phương thức ghép biệt lập. Các thuật ngữ là từ đơn thường biểu thị hệ
thống lớn còn từ ghép và cụm từ thường chỉ các hệ thống nhỏ hơn .
Ví dụ, thuật ngữ “chạy” là một hệ thống ; với phương thức ghép có thể có được các hệ thống
con như:
STT MÔN
1.
ĐIỀN KINH
HỆ THỐNG
HỆ THỐNG CON
TIẾNG PHÁP
TIẾNG VIỆT
1.
“Dùng đầu đội bóng”
[Tête] (cái đầu)
[Tết]
2,
“Bóng chạm tay”
[Main] (bàn tay)
[Manh]
3.
“Ném biên”
[Nouer] (tổ chức)
[Nu]
4.