Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
---------------------------
HÀ HUYỀN NGA
ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC HÌNH THỨC VÀ
NGỮ NGHĨA CỦA TỤC NGỮ DÂN TỘC TÀY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ
THÁI NGUYÊN - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
thầy cô giáo, đồng nghiệp, người thân.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS, TS Phạm Hùng Việt, người
thầy đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, các thầy cô
trong tổ Ngôn ngữ, phòng Sau Đại học, Thư viện, của trường ĐHSP Thái
Nguyên đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS. TS Tạ Văn Thông, nhà nghiên
cứu Văn hoá Dân gian Hoàng Triều Ân,, đã cung cấp tư liệu và nhiệt tình giúp
đỡ tôi trong qúa trình nghiên cứu.
Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp, đã động viên
và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập. Thái Nguyên, ngày 21 tháng 9 năm 2009
Tác giả
Hà Huyền Nga
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………. 1
2. Lịch sử vấn đề………………………………………………………. 2
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu………………………….. 7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………….. 8
5. Phƣơng pháp nghiên cứu…………………………………………… 8
2.1.
Vần, nhịp, của câu tục ngữ dân tộc Tày…………………………. 29
2.1.1. Vần và đặc điểm của vần trong tục ngữ Tày………………………. 29
2.1.2. Nhịp và đặc điểm của nhịp trong tục ngữ Tày……………………… 33
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2.2.
Cấu trúc câu tục ngữ dân tộc Tày………………………………... 38
2.2.1. Tính chất, đặc điểm của cấu trúc câu tục ngữ Tày………………….. 38
2.2.2. Các kiểu cấu trúc câu tục ngữ Tày………………………………….. 41
2.3. Những phƣơng thức xây dựng hình tƣợng trong cấu trúc hình
thức của tục ngữ Tày……………………………………………..
44
2.3.1. Cấu trúc so sánh…………………………………………………… 44
2.3.2. Cấu trúc ẩn dụ ……………………………………………………… 50
2.3.3. Cấu trúc ngoa dụ …………………………………………………… 55
Tiểu kết chƣơng 2…………………………………………………. 58
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày
60
3.1.
Tính đơn nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày………………………… 60
3.1.1. Tục ngữ Tày tổng kết kinh nghiệm làm ăn, lao động sản xuất…….. 61
3.1.2. Tục ngữ Tày tổng kết kinh nghiệm dự đoán thời tiết, thời gian……. 68
3.2
Tính hàm nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày………………………... 73
3.2.1. Kinh nghiệm chọn con dâu, con rể…………………………………. 74
3.2.2. Các mối quan hệ trong gia đình…………………………………….. 77
3.3.
Biểu trƣng động vật trong tục ngữ Tày………………………….. 85
3.3.1. Biểu trƣng trong tục ngữ……………………………………………. 85
đến nay việc nghiên tục ngữ đã đạt đƣợc nhiều thành tựu lớn. Tuy nhiên các
công trình nghiên cứu về tục ngữ của các dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc
Tày còn ít. Cụ thể, chƣa có công trình khoa học nào nghiên cứu tục ngữ Tày ở
góc độ ngon ngữ học về phƣơng diện cấu trúc và ngữ nghĩa. Vì vậy có thể cho
rằng, việc tìm hiểu về cấu trúc và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày là góp phần khai
thác vốn văn hoá của dân tộc Tày ở một bình diện mới, làm rõ thêm nét đặc sắc
của nền văn hoá dân tộc Tày.
1.3. Là ngƣời con của dân tộc Tày, đang sinh sống và làm việc nơi mảnh
đất mà đa phần là ngƣời Tày đang sinh sống và học tập, tác giả luận văn thiết
tha với tiếng nói và văn hoá của dân tộc mình, muốn bày tỏ tình yêu dân tộc và
tiếng mẹ đẻ của mình bằng việc tìm hiểu, nghiên cứu về tục ngữ Tày, nơi chứa
đựng nhiều giá trị độc đáo mang đậm bản sắc văn hoá tộc ngƣời. Bên cạnh đó,
tác giả luận văn cũng hi vọng rằng, kết quả nghiên cứu về tục ngữ Tày sẽ giúp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
cho giáo viên và học sinh ở các tỉnh miền núi hiểu rõ hơn về ngôn ngữ của dân
tộc Tày, đồng thời có thể vận dụng, học tập cách tƣ duy, cách diễn đạt mang bản
sắc riêng của ngƣời Tày.
Trên đây là những lí do thúc đẩy chúng tôi lựa chọn đề tài "Cấu trúc hình
thức và ngữ nghĩa của tục ngữ dân tộc Tày"
2. Lịch sử vấn đề
2.1.Việc sƣu tầm, biên soạn, nghiên cứu tục ngữ nói chung
Ở nƣớc ta, trƣớc thế kỉ XIX, các tác phẩm văn học chữ Hán và chữ Nôm đã
có ít nhiều dấu vết của các tƣ tƣởng dân gian vốn là nội dung của các câu tục
ngữ. Nguyễn Trãi là một trong những ngƣời đầu tiên sử dụng một cách phổ biến
tục ngữ dân gian vào sáng tác của mình. Bài thơ số 21 trong tập "Bảo kính cảnh
giới" là một bài thơ tiêu biểu: "Ở bầu thì dáng ắt nên tròn, xấu tốt đều thì rắp
khuôn... ở đấng thấp thì nên dáng thấp, đen gần mực, đỏ gần son". Mấy chục
năm sau đó phải kể đến các sáng tác chữ Nôm nhƣ "Hồng Đức quốc âm thi tập"
ca dao, đây là điểm mới so với các cách trình bày trƣớc đây. Ở cuốn sách này,
tác giả Vũ Ngọc Phan đã cố gắng đi đến việc đƣa ra những tiêu chí để phân biệt
giữa thành ngữ với tục ngữ, ông đã viết nhƣ sau: "Tục ngữ là một câu, tự nó
diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiêm...,còn thành ngữ là một
phần câu có sẵn, là một bộ phận của câu mà nhiều người quen dùng, nhưng tự
nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn" 47; 31]. Có thế thấy đây là những nhận
định khá mới mẻ so với những công trình trƣớc đó, tuy những nhận định này còn
mang tính khái quát, chƣa cụ thể. Vì thế, các nhà ngôn ngữ học trong quá trình
nghiên cứu về tục ngữ đã chú trọng đi sâu tìm hiểu, đƣa ra những tiêu chí phân
định giữa thành ngữ và tục ngữ (phần này sẽ đƣợc phân tích rõ hơn ở chƣơng 1
của luận văn).
Cuốn "Tục ngữ Việt Nam" của nhóm tác giả (Chu Xuân Diên, Lƣơng Văn
Đang, Phƣơng Tri), là công trình nghiên cứu công phu về tục ngữ Việt Nam. Ở
công trình này, tác giả đã đƣa ra quan điểm nghiểm nghiên cứu về tục ngữ trên
hai bình diện, đó là nghiên cứu tục ngữ về mặt xã hội học, tức là nghiên cứu tục
ngữ với tƣ cách là một hiện tƣợng ý thức xã hội và nghiên cứu tục ngữ ở bình
diện là một hiện tƣợng ngôn ngữ, tức nghiên cứu tục ngữ với tƣ cách là một đơn
vị thông báo có tính nghệ thuật. Từ đó tác giả khẳng định kho tàng tục ngữ Việt
Nam "là một văn liệu quí giá do nhân dân lao động sáng tạo và tích luỹ từ hàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
nghìn năm nay, trong đó kết tinh được những đặc điểm cơ bản nhất của lối nói
dân gian, lối nói dân tộc" [16; 41]
Những năm 90 trở về đây, xuất hiện nhiều cuốn tục ngữ của các tác giả
nhƣ: Mã Giang Lân, Châu Nhiên Khanh, hay nhóm tác giả Nguyễn Cừ, Nguyễn
Thị Huế, Trần Thị An... Các công trình của các tác giả này chủ yếu là sƣu tầm,
biên soạn, tổng hợp và giới thiệu các đơn vị tục ngữ Việt Nam. Bên cạnh đó, có
sự xuất hiện rất nhiều bài viết, luận văn, luận án nghiên cứu về tục ngữ Việt về
nhiều bình diện khác nhau, rất phong phú và đa dạng, đạt đƣợc nhiều thành tựu
lƣợng các đơn vị tục ngữ Tày khá phong phú. Cuốn "Địa chí Cao Bằng" (2000),
Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng, Nxb Chính trị Quốc gia, ở chƣơng V phần văn
học dân gian (trang 593) có trích 29 câu tục ngữ Tày trong mảng văn học dân
gian Tày. Cuốn "Văn hoá dân gian Tày" (2002), Hoàng Ngọc La (chủ biên), Sở
Văn hóa thông tin Thái Nguyên, có nhắc đến tục ngữ Tày với một thể loại trung
gian nằm trong hệ thống văn học dân gian của dân tộc Tày. Mới đây nhất là
cuốn "Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam" tập 1 xuất bản
năm 2007 và tập 2, xuất bản năm (2008), Viện Nghiên cứu văn hóa, NXB khoa
học xã hội, Hà Nội. Cuốn sách đã tổng hợp đƣợc số lƣợng rất phong phú về tục
ngữ các dân tộc nói chung trong đó có khoảng hơn 2.000 câu tục ngữ Tày. Đây
thực sự là nguồn tƣ liệu vô cùng quý giá, và mới mẻ giúp cho ngƣời nghiên cứu
có nhiều điều kiện để đi sâu nghiên cứu mọi mặt của tục ngữ Tày.
Luận văn tốt ngiệp của thạc sĩ Hà Ngọc Tân về đề tài” Văn hóa ứng xử của
người Tày qua tục ngữ về quan hệ gia đình xã hội, (2007, Đại học Sƣ phạm Thái
Nguyên) đã có những nghiên cứu khá sâu về tục ngữ Tày, nhƣng do mục đích
của luận văn nên công trình chỉ đi sâu nghiên cứu về văn hóa ứng xử của ngƣời
Tày trong quan hệ gia đình và xã hội.
Điểm lại quá trình nghiên cứu, sƣu tầm tục ngữ Tày từ những năm 70 của
thế kỉ trƣớc trở về đây, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề đáng chú ý sau:
Một là: Tục ngữ Tày với tƣ cách là đơn vị của ngôn ngữ Tày, là một loại
hình trong kho tàng văn chƣơng truyền khẩu của ngƣời Tày. Đã từ lâu, tục ngữ
Tày đã trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian. Đã có
những công trình nghiên cứu về tục ngữ Tày đƣợc công bố. Đây là tài sản có giá
trị của một cộng đồng dân tộc, là nguồn tƣ liệu vô cùng quý hiếm, rất hữu ích
cho việc nghiên cứu tiếp theo về tục ngữ Tày.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Hai là: Những công trình nghiên cứu trên phần lớn tập trung sƣu tầm, giới
thiệu về các đơn vị tục ngữ Tày, trong đó đã có công trình nghiên cứu tục ngữ
Viện nghiên cứu văn hóa, Hà Nội và cuốn “Từ điển thành ngữ, tục ngữ dân tộc
Tày” (1996) của tác giả Triều Ân, Hoàng Quyết.
Ngoài ra, chúng tôi còn thống kê tục ngữ Tày qua việc điền dã ở một số địa
phƣơng và một số gia đình trong tỉnh Cao Bằng
Luận văn khảo sát và tổng hợp đƣợc 2089 câu tục ngữ dân tộc Tày. 3.2.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, chúng tôi chú trọng vào việc tìm
hiểu và phân tích đặc điểm về cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày,
nghĩa là tập trung nghiên cứu tục ngữ Tày ở phƣơng diện ngôn ngữ học.
3.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Để miêu tả, phân tích cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày
một cách chính xác, trƣớc hết, luận văn cần phải xác định đƣợc cơ sở lí luận của
tục ngữ.
- Đối chiếu phần dịch nghĩa tiếng Việt với nghĩa trong ngôn ngữ dân tộc
Tày của các câu tục ngữ đã sƣu tầm, tổng hợp đƣợc, để dạt tới cách hiểu nghĩa
của các đơn vị tục ngữ Tày một cách chân thực và chuẩn xác nhất.
- Khảo sát, thống kê, phân tích và phân loại các câu tục ngữ để chỉ ra đƣợc
các đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Lựa chọn phƣơng pháp nghiên cứu là căn cứ vào mục đích và đối tƣợng nghiên
cứu của đề tài. Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng những phƣơng pháp sau.
5.1. Phương pháp thống kê phân loại đƣợc sử dụng trong quá trình thống kê và thu
thập tƣ liệu, đó là toàn bộ các đơn vị tục ngữ Tày để phục vụ cho việc nghiên cứu của
đề tài. Luận văn tiến hành thu thập và xử lí 2.089 câu tục ngữ Tày.
5.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu đƣợc sử dụng để làm sáng tỏ những đặc
điểm về cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của tục ngữ Tày có sự so sánh với tục
ngữ Việt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
* Khái quát
Trong nghiên cứu văn học dân gian, các nhà nghiên cứu đã xem tục ngữ
nhƣ một thể loại ra đời vào loại sớm nhất, có số lƣợng phong phú và có sức sống
lâu bền trong "folklore" của các dân tộc trên thế giới. Họ quan niệm tục ngữ là
sự đúc kết trí tuệ và tâm hồn của nhân dân lao động, vì thế mỗi câu tục ngữ
không chỉ là một phán đoán, một triết lí mà còn là một văn bản nghệ thuật có giá
trị. Trong quan niệm của các nhà ngôn ngữ học, tục ngữ đƣợc xem xét ở một
góc độ khác. Có thể khẳng định, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã kế thừa
thành tựu nghiên cứu về tục ngữ của các nhà nghiên cứu văn học dân gian, đƣa
ra những quan điểm riêng về tục ngữ dƣới góc nhìn của mình. Dƣới đây là một
số quan niệm về tục ngữ của các nhà ngôn ngữ học.
1.1.1. Quan niệm của hai nhà ngôn ngữ học Nguyễn Văn Tu và Đái Xuân Ninh
Cả hai nhà ngôn ngữ học Nguyễn Văn Tu và Đái Xuân Ninh đều có
chung quan điểm cho rằng tục ngữ không phải là đơn vị ngôn ngữ mà là lời nói
liên quan đến cụm từ cố định. Trong cuốn "Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại", tác
giả Nguyễn Văn Tu đƣa ra chủ trƣơng: "Trong tiếng Việt, những tục ngữ,
phƣơng ngôn, ngạn ngữ có liên quan đến thành ngữ và quán ngữ. Chúng không
phải là đối tƣợng của từ vựng học mà là đối tượng của văn học dân gian. Nhƣng
chúng là đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ đƣợc dùng đi dùng lại để trao đổi tƣ
tƣởng, cho nên chúng có điểm gần với cụm từ cố định. Thực ra chúng là những
câu hoàn chỉnh chỉ một nội dung đầy đủ, không cần những thành phần ngữ pháp
nào cả" 58; 87]. Tác giả Đái Xuân Ninh trong cuốn "Hoạt động của từ Tiếng
Việt" cũng viết: "Cụm từ tiếng Việt bao gồm cả thành ngữ lẫn tục ngữ, ngạn
ngữ, quán ngữ, cùng là những đơn vị có sẵn trong tiếng nói" [40; 25].
Có thể thấy hai tác giả Nguyễn Văn Tu và Đái Xuân Ninh chịu ảnh hƣởng của
các nhà nghiên cứu văn học dân gian, đều xem tục ngữ là đơn vị của lời nói chứ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
không phải đơn vị của ngôn ngữ. Quan niệm này đã chứng tỏ rằng tục ngữ là
11
phần hoàn chỉnh thêm cách nhìn tục ngữ trên lập trƣờng của các nhà ngôn ngữ
học.
1.1.4. GS.TS Đỗ Hữu Châu trong cuốn "Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt" cho
rằng đứng về mặt nghiên cứu, do tính chất cố định nên "tục ngữ cũng có thể và
là một đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, là một đơn vị nghiên cứu của
ngành cú học (phrasesolorie) là hợp lí" [9; 75]. Tác giả còn chỉ ra sự khác nhau
giữa ngữ cố định và tục ngữ và phƣơng ngôn. Tính chất của ngữ cố định là
tƣơng đƣơng với từ, còn tính chất của tục ngữ lại tương đương với câu, ý nghĩa
của cụm từ cố định tƣơng đƣơng với cả cụm từ tự do, thì ý nghĩa của tục ngữ là
một phán đoán, một sự đánh giá, một sự khẳng định về chân lí, một lẽ thƣờng
đối với một nền văn hoá nào đó, nghĩa là một tƣ tƣởng hoàn chỉnh, do đó tục
ngữ không thuộc phạm vi của từ vựng ngữ nghĩa học mà thuộc phạm vi lớn
hơn là câu. Tác giả cũng chỉ rõ rằng thành ngữ có thể có cấu trúc là ngữ danh
từ, ngữ động từ, ngữ tính từ, lúc đó tục ngữ có cấu trúc câu, hoặc có thể có cấu
trúc đơn phần, ví dụ: vải Quang, húng Láng, ngổ Dầm, cá rô Đầm Sét, sâm cầm
Tây Hồ...hoặc cấu trúc là câu phức, ví dụ: Tôi tớ xét công, vợ chồng xét nhân
nghĩa, con hư tại mẹ, cháu hư tại bà... [dẫn theo 6; 29], tuy nhiên trong quá trình
sử dụng vẫn có lúc đơn vị này dùng nhƣ đơn vị kia, lúc này diễn ra sự thay đổi
trong tính chất cơ bản của các đơn vị vốn khác nhau về nguyên tắc.
1.1.5. Trong cuốn "Thành ngữ học tiếng Việt" (2004), tác giả Hoàng Văn
Hành trong quá trình nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt, đã dựa trên những
quan điểm về tục ngữ của những ngƣời đi trƣớc, đƣa ra những quan điểm khá
mới mẻ về tục ngữ. Tác giả cho rằng, nếu chỉ nói tục ngữ tự thân là một câu hay
những câu cố định, diễn đạt trọn vẹn, một phán đoán... đó chỉ là những căn cứ để
phân biệt với thành ngữ. Song, trong cách nhìn của ngữ nghĩa học có thể nhận
định "tục ngữ là câu - thông điệp nghệ thuật" [23; 32]. Nghĩa là tục ngữ mang
hai tƣ cách: tục ngữ là câu, nhƣng khác với câu thông thƣờng ở chỗ nó có đặc
trƣng là thông điệp nghệ thuật, nhƣng khác với thông điệp nghệ thuật khác ở chỗ
nó có hình thức một câu. Từ hai đặc trƣng này, có thể thấy tục ngữ là một chỉnh
Dƣơng Quảng Hàm. Trong cuốn "Việt Nam văn học sử yếu", xuất bản năm
1943, ông chỉ ra rằng: "Một câu tục ngữ tự nó có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc
khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện
dùng nhằm diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè" [21;15]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Cùng chia sẻ với quan điểm này nhƣng Vũ Ngọc Phan cho rằng định nghĩa nhƣ
vậy chƣa đƣợc rõ ràng, vì thế chƣa thấy đƣợc tác dụng khác nhau giữa thành
ngữ và tục ngữ. Vũ Ngọc Phan đã đƣa ra quan điểm: "Tục ngữ là một câu tự nó
đã diễn đạt một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có
khi là một sự phê phán. Còn thành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ
phận câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt được
một ý trọn vẹn" [47; 108]. Điểm khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ mà tác giả
chỉ ra đó là, tục ngữ tự thân nó là một câu, còn thành ngữ là bộ phận của
câu. Ta thấy, tiêu chí phân biệt của Vũ Ngọc Phan là một nội dung có tính kết
cấu ngữ pháp. Những kiến giải của ông đƣợc nhiều ngƣời đồng tình nhƣng cũng
không ít ngƣời còn băn khoăn, bởi thực tế có thành ngữ có kết cấu là một câu,
còn tục ngữ lại có kết cấu chỉ là một cụm từ, nhóm từ (ví dụ: "mèo mù vớ cá
rán", hay “lươn ngắn chê chạch dài” có kết cấu chủ - vị nhƣng lại là thành ngữ)
Vào khoảng những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà Việt ngữ học đã tranh
luận khá sôi nổi về vấn đề này và đã đƣa ra đƣợc những tiêu chí phân định giữa
thành ngữ và tục ngữ khá cụ thể và rõ ràng hơn. Nguyễn Văn Mệnh cho rằng về
nội dung thì tục ngữ mang tính quy luật còn thành ngữ mang tính hiện tượng,
về hình thức ngữ pháp tục ngữ tối thiểu là một câu, còn thành ngữ chỉ là một
cụm từ. Nhƣng tác giả Cù Đình Tú ở bài báo "Góp ý kiến phân biệt tục ngữ với
thành ngữ", đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 2, xuất bản năm 1970 lại không hoàn
toàn thống nhất với những tiêu chí phân định trên của Nguyễn Văn Mệnh vì ông
cho rằng "Nội dung của tục ngữ và thành ngữ đều là đúc kết kinh nghiệm, là kết
tinh trí tuệ của quần chúng, đều từ sự khái quát hoá hiện thực để rút ra bản chất
trung gian. Chẳng hạn có những câu có thể dùng làm thành ngữ hay tục ngữ đều
đƣợc bằng cách thêm vào một số từ nào nhƣ: thì, mà, lại, mà lại...
Ví dụ:
- Giòn cười tươi khóc (thành ngữ)-> Giòn cười thì tươi khóc (tục ngữ)
(hiện tƣợng) (quy luật)
- Trứng chọi đá (thành ngữ) -> Trứng mà lại chọi với đá (tục ngữ)
(hiện tƣợng) (quy luật)
- Khôn nhà dại chợ (thành ngữ) -> Khôn nhà mà dại chợ (tục ngữ)
(hiện tƣợng) (quy luật)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Từ đó ta thấy giữa tục ngữ và thành ngữ còn có nhiều điểm giống nhau về hình
thái cấu trúc và ngữ nghĩa biểu hiện. Điểm giống nhau giữa thành ngữ và tục
ngữ là ở chỗ cả hai đều là những sản phẩm của sự nhận thức của nhân dân về
các sự vật hiện tƣợng của thế giới khách quan, đều chứa đựng và phản ánh tri
thức của nhân dân.
Điểm khác nhau ở đây có thể nhận thấy là, ở thành ngữ thì nội dung thƣờng
mang tính hiện tƣợng còn ở tục ngữ lại mang tính quy luật. Vì thế, những đặc
điểm khác nhau nêu trên là những đặc điểm tiêu biểu, mang tính lí luận cho việc
nghiên cứu tục ngữ.
Từ những tiêu chí phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ của các nhà nghiên cứu,
có thể khái quát nhƣ sau:
Những đặc trƣng
dùng làm tiêu chí
nhận diện
Tục ngữ Thành ngữ
1.Về hình thức cấu
tạo
16
về tình cảm...Khi chúng được dùng theo phương thức nói - luận lí thì chúng là
tục ngữ còn khi dùng theo phương thức hát - trữ tình thì chúng là ca dao"
[dẫn theo 6; 36]
Một tiêu chí nữa giúp ta nhận diện tục ngữ và ca dao đó là về kích cỡ của văn
bản, thông thƣờng tục ngữ chủ yếu từ 4 đến 6 tiếng, còn ca dao văn bản ngắn
nhất cũng đã 14 tiếng.
Tuy nhiên, cũng có những câu tục ngữ có dung lƣợng dài hơn cả dung lƣợng
thông thƣờng của ca dao.
Ví dụ :"Thiếu tháng hai mất cà, thiếu tháng ba mất đỗ, thiếu tháng tám mất hoa
ngư, thiếu tháng tư mất hoa cốc". (20 từ)
Thực tế giữa tục ngữ và ca dao cũng có những trƣờng hợp dễ nhầm lẫn. Đó là
hiện tƣợng trong ca dao có xen tục ngữ, chẳng hạn:
Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ sai
Ham chi bóng sắc, hành hài tấm thân
và có câu hình thức là ca dao nhƣng nội dung lại là tục ngữ:
Chim khôn chưa bắt đã bay
Người khôn ít nói ít hay trả lời
Vì thế tiêu chí để phân định giữa tục ngữ và ca dao trong trƣờng hợp này là dựa
vào các yếu tố cảm xúc trong câu, tức là dựa vào "tính tục ngữ" và "tính ca dao"
có trong câu để nhận diện. Tính chất của tục ngữ là đúc rút kinh nghiệm, nên
mang tính triết lí, lí trí, còn tính chất của ca dao là khuyên răn, giãi bày tình cảm
nên đậm chất trữ tình dân gian. Khi những tục ngữ có thêm yếu tố cảm xúc, khi
nó trở thành một vế của câu lục bát thì "tính tục ngữ" của nó bị giảm đi, "tính ca
dao" tăng lên, và ngƣợc lại.
Nhìn chung để phân biệt tục ngữ với ca dao nên dựa vào đặc trƣng và
chức năng biểu hiện của chúng. Tục ngữ cung cấp cho ngƣời nghe những triết lí
dân gian mang tính quy luật, còn ca dao thiên về bộc lộ, giãi bày tình cảm.
Trong sinh hoạt văn hoá, ca dao gắn với hình thức diễn xƣớng còn tục ngữ gắn
liền với lời ăn tiếng nói hàng ngày.
sớm hoà nhập vào khối cộng đồng dân tộc Việt Nam để cùng trƣờng tồn, gìn giữ
non sông gấm vóc Việt Nam. Nối tiếp tƣ tƣởng hoà hợp dân tộc, xây dựng và
bảo về nền độc lập của Thục Phán, đồng bào Tày cùng với dân tộc khác liên
tiếp nổi dậy hƣởng ứng ngọn cờ các cuộc khởi nghĩa. Trong các cuộc kháng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
chiến chống Tống (1075 - 1077), chống Nguyên Mông (thế kỉ XIII) đến thời Lê
(TK XV) đồng bào dân tộc Tày dƣới sự chỉ huy của các tƣớng lĩnh kết hợp với
một số dân tộc khác đã dành nhiều chiến cống trong lịch sử, nhƣng hơn thế nữa,
qua các cuộc khởi nghĩa này đã nêu cao truyền thống yêu nƣớc quật cƣờng của
đồng bào dân tộc Tày.
Khao khát với tự do và độc lập, nên khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, đồng
bào Tày đã một lòng trung thành với Đảng, ra sức xây dựng căn cứ địa cách
mạng, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của cách mạng tháng tám năm
1945. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) và kháng chiến
chống Mĩ (1954 - 1975), cũng nhƣ công cuộc xây dựng hậu phƣơng ở miền Bắc
xã hội chủ nghĩa, đồng bào Tày đoàn kết, đồng tâm, dâng hiến của cải, sức lực,
máu xƣơng cho sự nghiệp cách mạng, góp phần thực hiện một nƣớc Việt Nam
hoà bình và thống nhất. Bản chất bình dị, tâm hồn trong sáng, khí phách hào
hùng cùng với tấm lòng yêu quê hƣơng, đất nƣớc, yêu con ngƣời thiết tha của
ngƣời Tày, thể hiện trong tục ngữ dân tộc Tày.
1.3.3.3. Trong môi trƣờng văn hoá
*. Văn hoá vật chất
Văn hoá vật chất là toàn bộ cơ sở vật chất đƣợc sử dụng trong cuộc sống,
đƣợc xem nhƣ một nhu cầu của cuộc sống do con ngƣời tạo ra trong hoạt động
thực tiễn. Vật chất ổn định con ngƣời mới có thể xây dựng các mối quan hệ xã
hội, sản sinh văn hoá tinh thần. Tục ngữ đã đƣợc cha ông đúc kết trong quá trình
con ngƣời tạo ra vật chất để bảo đảm sự sinh tồn và phát triển của mình. Ở đây
chúng tôi chỉ tìm hiểu khái quát về văn hoá vật chất của ngƣời Tày trong lịch sử
có câu: "Síp đon rẩy phya, bấu tấng rẩy nà pác nặm" (Mƣời đám ruộng trên núi
đá không bằng một đám ruộng ở gần nguồn nƣớc)". Vì thế ngƣời Tày rất giỏi
trong việc "dẫn thuỷ nhập điền". Mƣơng, phai, là những công trình thuỷ lợi lớn
đƣợc cả bản làng cùng đồng tâm xây dựng. Tục ngữ Tày có câu "Mác lót slường
hang, phai mương lèo chướng" (Quả nhót đỏ trôn, mƣơng, phai phải sửa) đây là
thời điểm các dòng suối bị khô hạn, bà con thƣờng làm phai, ngăn suối, khơi
mƣơng.
Phƣơng tiện giao thông vận tải của ngƣời Tày rất đơn giản, chủ yếu bằng
đôi chân. Họ đã cũng biết sáng tạo ra thuyền độc mộc, nhƣng loại phƣơng tiện
này cũng rất hạn chế. Ngựa là con vật nuôi rất có ích cho đồng bào Tày, đƣợc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
ngƣời dân Tày coi nhƣ ngƣời bạn đƣờng tin cậy, giúp con ngƣời vƣợt qua núi
đèo hiểm trở, vì thế ngƣời Tày có nhiêu kinh trong việc chọn ngựa, tục ngữ Tày
có câu "Mạ khuý xa tua ấc pháng" (Ngựa cƣỡi cần tìm con rộng ngực). Do địa
hình là vùng núi nên đƣờng sá đi lại rất khó khăn, vì thế phƣơng tiện vận chuyển
hàng hoá, nông phẩm đơn giản và chủ yếu nhất của ngƣời Tày là "gùi" và "túi
nải". Điều đó cũng chứng minh vì sao ngƣời Tày đi bộ khoẻ và nhanh trên
những đoạn đƣờng hiểm trở, trong khi nghiệm vai và tay phải mang vác nặng.
Vì thế bắp chân khoẻ, mập đã trở thành một trong những tiêu chí khi các ông bố
bà mẹ Tày lựa chọn con dâu: "Cao nả, kha mẳng" (bắp đùi to, bắp chân mập).
Ngày nay khi nền kinh tế và xã hội phát triển, phƣơng tiện giao thông vận tải
của ngƣời Tày đã trở nên phong phú hơn, tuy nhiên vẫn lạc hậu so với các vùng,
miền khác trong cả nƣớc. Nhìn chung văn hoá vật chất truyền thống của ngƣời
Tày đã phản ánh rõ nét những đặc trƣng của tộc ngƣời Tày, đó là một dân tộc
sống ở vùng núi cao đã biết khai thác, tận dụng nguồn lợi tự nhiên để phục vụ có
hiệu quả cho nhu cầu của cuộc sống, một dân tộc có lối tƣ duy rất sắc sảo, mang
tính khách quan, hiện đại.
*.Văn hoá tinh thần