Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh) - Pdf 34

HỌC QUỐC GIA HÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------

Trần Thò Minh Phượng

VỊ TỪ TRẠNG THÁI
TRONG TIẾNG VIỆT
(So sánh với tiếng Anh)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINTRƯỜNG ĐẠI HỌC


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------

Trần Thò Minh Phượng

VỊ TỪ TRẠNG THÁI
TRONG TIẾNG VIỆT
(So sánh với tiếng Anh)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh
Mã số: 5.04.27

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN



ƒ THCS

: Trung học cơ sở

ƒ THPT

: Trung học phổ thông

ƒ VT

: vò từ

ƒ VTTT

: vò từ trạng thái

ƒ v.v

: vân vân

ƒ (x. phụ lục 1)

: xem phụ lục 1


MỤC LỤC
Phần mở đầu ........................................................................................................1
Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN TỚI VỊ TỪ TRẠNG THÁI

3.1. Vò từ trạng thái chỉ hình trạng................................................................108
3.1.1. Nghóa và các kết hợp của các từ tròn, méo ......................................109
3.1.2. Hiện tượng chuyển nghóa của các từ tròn, méo ...............................117
3.1.3. Những điểm tương đồng và dò biệt của các từ tròn, méo so
với
các từ tương đương trong tiếng Anh............................................................ 122
3.1.4. Tri nhận về trạng thái tròn / méo ..................................................... 129
3.2. Vò từ trạng thái chỉ tâm trạng ...............................................................133
3.2.1. Nghóa và các kết hợp của các từ yêu, ghét. ......................................... 134
3.2.2. Hiện tượng chuyển nghóa của các từ yêu, ghét.................................... 141
3.2.3. Những điểm tương đồng và dò biệt của các từ yêu, ghét so với
các từ tương đương trong tiếng Anh ..................................................... 145
3.2.4. Tri nhận về trạng thái yêu / ghét ......................................................... 154
3.3.Tiểu kết ...................................................................................................... 156
Chương 4
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VIỆC SỬ DỤNG VỊ TỪ TRẠNG THÁI
TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
4.1. Những vấn đề liên quan đến hiện tượng đồng nghóa, trái nghóa
khi sử dụng vò từ trạng thái ..........................................................................159
4.1.1- Từ đồng nghóa ....................................................................................160
4.1.2- Từ trái nghóa ......................................................................................166
4.1.3- Các dạng bài tìm từ đồng nghóa, trái nghóa tiêu biểu ......................... 168
4.2. Những vấn đề liên quan đến hiện tượng đa nghóa khi chuyển
dòch vò từ trạng thái ......................................................................................174
4.2.1-Nhóm từ chỉ tính chất........................................................................... 177
4.2.2- Nhóm từ chỉ tình trạng .......................................................................180


4.3. Thực nghiệm về cách sử dụng VTTT tiếng Việt và tiếng Anh
ở học sinh. .......................................................................................................182

đến, thì vò từ chỉ trạng thái lại chưa được may mắn như thế. Số lượng vò từ chỉ
trạng thái tuy không nhiều, nhưng tần suất sử dụng lại rất cao. Theo thống kê
của Gregor D. Smart (được công bố tại hội thảo khoa học SEAMEO TP.HCM
tháng 3/2007), số lượng vò từ trạng thái chiếm vò trí đáng kể trong số 4,7 triệu
lượt từ thường dùng trong tiếng Anh. Ví dụ như biết: 65.808 lượt, thích: 48.098
lượt, v.v. (x. Phụ lục 1). Tuy được sử dụng nhiều, nhưng việc sử dụng vò từ trạng
thái sao cho đúng nghóa và phù hợp với ngôn cảnh lại là điều không dễ dàng.
Bởi lẽ trong nhiều trường hợp của hoạt động tu từ, các biến thể của chúng có giá
trò tu từ khác nhau, chẳng hạn, không đẹp rất khác với xấu, không ghét chưa hẳn
đã là thích, còn thích chưa chắc đã là yêu, cũng như yêu mến, yêu quý, kính yêu,
v.v., lại có những sắc thái ngữ nghóa khác hẳn nhau.Vì vậy, trong quá trình dạy
tiếng Anh cho người Việt, hoặc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, ta không
thể dòch các cặp từ đồng nghóa hoặc trái nghóa một cách tùy tiện, mà cần có sự


2

quan tâm đúng mức đến mặt ngữ nghóa và ngữ dụng của chúng. Muốn vậy, ta
không thể chỉ xem xét nghóa của từ trên cơ sở đặc điểm ngữ pháp, khả năng kết
hợp, vò trí, chức năng ngữ pháp của từ ấy trong câu, mà còn phải đặt chúng vào
những phát ngôn và nghiên cứu nghóa của những phát ngôn đó trong ngôn cảnh,
tức cần xem xét nghóa của từ trong toàn bộ các phát ngôn nói chung. Đó là lý do
tiếp theo khiến chúng tôi thấy cần quan tâm hơn đến ngữ nghóa và cơ sở tri nhận
của vò từ chỉ trạng thái.
Từ năm 1980, tiếng Anh là một trong bốn ngoại ngữ (bên cạnh tiếng Nga,
tiếng Pháp và tiếng Trung) được dạy bắt buộc trong nhà trường trên cả nước.
Những năm gần đây, việc dạy và học tiếng Anh lại chiếm ưu thế rõ rệt so với
các thứ tiếng khác. Trong xu thế hội nhập kinh tế với thế giới hiện nay, nhu cầu
học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng lại càng được chú trọng. Tuy
vậy, việc giảng dạy và học tập tiếng Anh vẫn chưa được thực hiện bằng những

Xin dẫn thêm một dẫn chứng nữa. Để mô tả tình trạng béo, tiếng Việt
cũng như tiếng Anh có rất nhiều từ khác nhau như to, lớn (big), bụ bẫm (plump),
đẫy đà (buxom), to, mập, lực lưỡng (beefy), béo, mập (fat), mũm móm (chubby),
v.v.. Mỗi một từ như vậy, thường kèm theo sắc thái đánh giá và thường chỉ dùng
để miêu tả một hoặc một số đối tượng nhất đònh trong phạm vi hẹp. Cho nên,
nếu vượt ra ngoài phạm vi sử dụng đó, chẳng hạn dùng fat khi nói về người được
ta kính trọng, yêu mến, thì sẽ trở nên khiếm nhã; hoặc dùng plump hay chubby
để mô tả một phụ nữ trung niên hay một thanh niên thì sẽ làm cho hình ảnh đối
tượng miêu tả không chính xác và nội dung thông báo trở nên hài hước.
Trong câu, nội dung của sự thể quyết đònh cách tổ chức các tham tố và
quan hệ giữa các tham tố, theo đó cũng quyết đònh cả tổ chức cấu trúc ngữ nghóa


4

của phát ngôn. Nói cách khác, nghóa của vò từ giữ vai trò quyết đònh đối với cách
tổ chức của câu về ngữ pháp. Tiếc thay, vì số lượng các vò từ trạng thái (vốn có
hai nét đặc trưng là không động [– động] (tức là tónh), và không chủ ý [– chủ ý]
(tức là chỉ tính chất của sự vật)) lại quá lớn so với quỹ thời gian và khả năng
thực hiện của bản thân, nên trong luận án này chúng tôi chỉ tập trung xem xét
mặt ngữ nghóa và cơ sở tri nhận của các cặp từ: tròn – méo, béo – gầy, yêu –
ghét, hiền – dữ, vốn đại diện cho bốn nhóm nhỏ thuộc vò từ trạng thái (được phân
chia ở mục phân loại vò từ, chương I), và so sánh chúng với tiếng Anh mà thôi.
2. Lòch sử vấn đề
Vấn đề vò từ trạng thái đã được không ít các nhà ngôn ngữ học đề cập tới,
chẳng hạn như Anna Wierzbicka (1999), Cliff Goddard (1998), Anna
Gladkova(2004), v.v. Đặc biệt, Anna Wierzbicka (1999) đã phân tích ngữ nghóa
và cơ sở tri nhận của các từ freedom (tự do) và so sánh với các nghóa biểu hiện
của các từ libetas trong tiếng Latin, svoboda trong tiếng Nga, wolnos’c’ trong
tiếng Ba Lan. Công trình của bà đã đi đến những điểm tương đồng và dò biệt về

cứu ba nhóm tính từ: nhóm tính từ biểu thò kích thước của sự vật trong không
gian : cao – thấp, dài – ngắn, rộng – hẹp, v.v.; nhóm tính từ biểu thò phẩm chất:
đẹp – xấu, hay – dở, v.v.; nhóm tính từ biểu thò phẩm chất chung : tốt – xấu, v.v.
[71, tr. 5]; chứ chưa quan tâm nhiều đến nhóm từ chỉ trạng thái tròn, méo, béo,
gầy, yêu, ghét, hiền, dữ, v.v..
Tác giả Lý Toàn Thắng (2005), một trong những người tiên phong trong
việc tiếp cận ngôn ngữ học tri nhận, lại quan tâm đến ngôn ngữ học tri nhận từ
góc độ ngôn ngữ học tộc người, tập trung vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư
duy, đặc biệt quan tâm đến các dạng thức tri nhận về không gian.


6

Kế thừa thành quả của những nhà ngôn ngữ học tri nhận đi trước, tác giả
Nguyễn Thò Dự [18] cũng đã nghiên cứu khá chi tiết và thú vò các tính từ chỉ
kích thước trong không gian như cao, thấp, ngắn, dài, rộng, hẹp, nông, sâu, dày,
mỏng, v.v. của tiếng Việt trong sự so sánh với tiếng Anh.
Một số sách vở viết về ngữ pháp tiếng Việt của các tác giả như Nguyễn
Tài Cẩn, Đinh Văn Đức, v.v., cũng ít bàn tới nhóm từ chỉ trạng thái như tròn,
méo, béo, gầy, yêu, ghét, hiền, dữ, v.v. Đặc biệt là chưa có công trình nào phân
tích ngữ nghóa các cặp từ biểu thò trạng thái một cách cụ thể và so sánh chúng
với tiếng Anh.
Tuy những công trình vừa nêu không trực tiếp liên quan đến các vò từ
được khảo sát trong luận án này, nhưng những cơ sở lý thuyết và phương pháp
nghiên cứu kế thừa từ những công trình ấy đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng
tôi rất nhiều trong việc triển khai đề tài.
3. Nhiệm vụ của luận án
Từ trước đến nay, việc nghiên cứu từ vựng – ngữ nghóa của từ thường
được triển khai theo hai hướng chính.
Hướng thứ nhất, mà đại diện là những công trình nghiên cứu của những

tiếp của người Việt.
(b) So sánh những điểm tương đồng và dò biệt về ngữ nghóa và ngữ dụng của
nhóm vò từ này giữa tiếng Việt và tiếng Anh.
(c) Tìm hiểu cơ sở tri nhận của nhóm vò từ đang phân tích thông qua các cấu
trúc so sánh và cách sử dụng từ đồng nghóa, trái nghóa.


8

(d) Tiến hành thực nghiệm nhằm ứng dụng các kết quả khảo sát vào việc dạy
và học tiếng Việt cũng như tiếng Anh.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vò từ chỉ trạng thái tròn, méo,
béo,
gầy, yêu, ghét, hiền, dữ. Các từ đứng trước hoặc sau các vò từ này (như [tròn] vo,
[méo] xẹo, [béo] bệu, [gầy] nhom, [hiền] hậu, [hiền] hòa, [dữ] tợn, [dữ] dằn,
[yêu] tha thiết, [ghét] cay [ghét] đắng, v.v.) là những từ biểu hiện những sắc thái
nghóa khác nhau của từ gốc.
Để lựa chọn nhóm vò từ này, chúng tôi dựa vào mấy tiêu chí sau:
Tiêu chí thứ nhất là các cặp từ được chọn để so sánh về nghóa thuộc vốn
từ vựng cơ bản này đại diện cho nhóm từ để mô tả trạng thái nào đó. Chẳng hạn
tròn, méo là các vò từ hình trạng dùng để mô tả tình trạng của các vật vô tri hoặc
bộ phận nào đó của cơ thể người hay động vật như nguyên, vuông, thẳng, méo,
xéo, xoắn, vặn, cong, lành, rách, v.v.. Các vò từ béo, gầy để biểu thò thể trạng của
người hay động vật hoặc những thực thể được coi như người hay động vật như
cao, to, khỏe, mạnh, mập, thấp, nhỏ, yếu, xìu, vụng, lả,… Các vò từ chỉ tâm trạng
yêu, ghét biểu thò những trạng thái không thường tồn của người hay động vật như
thích, khoái, thương, say, mê, chán, ghét, dỗi, hờn, ghen, tức… Và các vò từ chỉ chỉ
tính trạng hiền, dữ biểu thò tính tình và tính khí thường tồn của người hay động
vật, hay những thực thể được coi như người hay động vật như lành, ngoan, chăm,

biệt giữa tiếng Việt và tiếng Anh của nhóm từ đang xét. Phương pháp thống kê
là công cụ không thể thiếu khi tiến hành các khảo sát. Đồng thời luận án còn áp


10

dụng phương pháp phân tích thành tố nghóa, phương pháp thống kê và phương
pháp quy nạp khi tiến hành các khảo sát.
Nguồn ngữ liệu gồm hơn 2178 phiếu ngữ cảnh được thu thập từ các tác
phẩm văn học hiện thời, các loại báo, tạp chí và các loại sách ngữ pháp, sách
tham khảo, từ điển của chủ yếu hai thứ tiếng Việt và Anh.
Từ đònh hướng nghiên cứu vừa đặt ra, chúng tôi thu thập các cứ liệu, các
mẫu câu trong sách, báo, từ điển tiếng Việt để phân tích các nét nghóa tối giản,
các mối liên hệ ngữ nghóa của nhóm từ này trong các phát ngôn thông qua hiện
tượng đồng nghóa và trái nghóa, so sánh từng cặp các vò từ trạng thái, xem xét
các hiện tượng mở rộng nghóa, chuyển nghóa, các mối tương quan trong các cấu
trúc so sánh của nhóm từ được mang ra khảo sát. Sau đó tiến hành so sánh với
những dạng tương đương trong tiếng Anh, phân tích khả năng kết hợp và tìm
những điểm tương đồng dò biệt giữa tiếng Việt và tiếng Anh. Đồng thời kiểm tra
những kết luận qua việc tiến hành các bài khảo sát trắc nghiệm thực tế, sau khi
đã tổng hợp các kết quả và những điểm tương đồng dò biệt qua so sánh.
6. Đóng góp của luận án
Thực hiện được những nhiệm vụ đã đề ra, luận án sẽ có đóng góp nhất
đònh vào việc phân tích đặc điểm ngữ nghóa của nhóm từ chỉ trạng thái như mối
quan hệ giữa ngữ nghóa và ngữ pháp, ngữ nghóa và tri nhận. Về thực tiễn, việc
phân tích các cấp độ biểu hiện nghóa sẽ giúp cho người dạy và người học tiếng
có cái nhìn cụ thể hơn khi sử dụng nhóm từ này trong ngôn cảnh.
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới đề cập
đến ngữ nghóa cũng như việc tri nhận các vò từ trạng thái như đã đề cập ở phần
lòch sử vấn đề, nhưng luận án này giải quyết vấn đề theo hướng nghiên cứu cụ

12

dạng tương đương trong tiếng Anh nhằm rút ra kết luận về cơ sở tri nhận của
chúng.
Chương 4: “Một số vấn đề về việc sử dụng vò từ trạng thái tiếng Việt và
tiếng Anh”. Ở chương này, luận án tìm hiểu cách sử dụng vò từ trạng thái thông
qua việc tiến hành một số khảo sát miêu tả và thực nghiệm về ngữ nghóa và
cách tri nhận các vò từ chỉ trạng thái ở học sinh phổ thông. Qua đó ứng dụng các
kết quả khảo sát đã thu thập được vào việc dạy và học tiếng Việt cũng như tiếng
Anh. Nội dungï khảo sát cụ thể bao gồm những vấn đề liên quan đến hiện tượng
đồng nghóa, trái nghóa khi sử dụng vò từ trạng thái, những vấn đề liên quan đến
hiện tượng đa nghóa khi chuyển dòch vò từ trạng thái và các khảo sát thực nghiệm
về cách sử dụng vò từ trạng thái tiếng Việt và tiếng Anh ở học sinh phổ thông.
Việc tiến hành đề tài tìm hiểu về ngữ nghóa và cơ sở tri nhận vò từ trạng
thái trong tiếng Việt, đồng thời so sánh chúng với các dạng tương đương trong
tiếng Anh hy vọng sẽ góp phần bổ sung, mở rộng thêm các vấn đề về phân tích
nghóa vò từ theo cơ chế tạo nghóa vò từ của mỗi ngôn ngữ trong quá trình hành
chức. Các kết quả nghiên cứu sẽ giúp ích cho việc giảng dạy và học tập tiếng
Việt cũng như tiếng Anh, đặc biệt là hỗ trợ cho việc biên soạn các giáo trình
dạy tiếng, từ điển (giải thích, đối chiếu) với các cứ liệu đa dạng và sát thực hơn.


13

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
CỦA LUẬN ÁN

1.1.Vò từ trạng thái
1.1.1- Khái niệm về vò từ trạng thái


bằng, hơn, kém, thua….

Thuật ngữ trạng thái được dùng để chỉ chung những tính chất và những
tình trạng của sự vật. Tính chất là đặc trưng thường tồn của một đối tượng. Tính
chất là một thuộc tính có thể bao gồm thể chất và tinh thần. Thể chất, trước hết
là ở các vật vô sinh như: rắn, mềm, đặc, loãng, v.v. , và thể chất của các vật hữu
sinh ở con người hay động vật như: béo, gầy, khỏe, yếu, v.v.. Trong khi đó, tính


14

chất tinh thần chỉ có ở con người hay động vật như: hiền, dữ, khôn, dại, lành, ác,
v.v.. Tình trạng là một trạng thái nhất thời, không nằm trong thuộc tính của đối
tượng. Các tình trạng vật chất có thể có được ở các vật vô sinh thường là do tác
động lý hóa hay của môi trường quy đònh như: tròn, méo, cao, thấp, ngắn, dài,
v.v. Tình trạng vật chất có thể có được ở các vật hữu sinh như con người hay
động vật cũng do môi trường tác động như vậy, nhưng còn có thêm những tình
trạng tâm lý như: vui, buồn, yêu, ghét, giận, sợ, mừng…
Tuy vậy, sự phân biệt này chỉ có tính chất tương đối vì tính chất của một
đối tượng có thể thay đổi, hoặc đối tượng đó có thêm những tính chất khác. Tình
trạng của một sự vật hiện tượng cũng không hẳn chỉ là nhất thời mà trở thành
tính chất của đối tượng đó, chẳng hạn vò từ tròn trong bàn tròn chỉ tình trạng,
nhưng cũng vò từ tròn ở trăng tròn lại chỉ tính chất. Do đó, cần phải phân loại các
vò từ trạng thái một cách rõ ràng để làm cơ sở cho việc phân tích ngữ nghóa và so
sánh ở các chương mục sau.
1.1.2- Phân loại
Tác giả Nguyễn Thò Quy [57, tr.49 và tr.76] đã vận dụng cách phân loại vò từ
của Dick Simon C., phân chia vò từ tiếng Việt thành 4 loại chính sau:
1. Các vò từ hành động: [+ động], [+ chủ ý]

(7)

- Mọi người đã thấm lạnh. [124, tr.230]

(8) - Xe đã lún lầy. [124, tr.230]
(9) - Nghe tôi nói, anh Bảy thôi cười, mặt hơi buồn. [124, tr. 223]
Vò từ thấm lạnh trong (7) biểu thò trạng thái không thường tồn về thể chất của
người là mọi người; vò từ lún ở ví dụ (8) biểu thò trạng thái không thường tồn của
một vật là xe; vò từ buồn trong ví dụ (9) biểu thò trạng thái không thường tồn của
một người là anh Bảy.
Những trạng thái về thể chất có ở người và động vật gọi là thể trạng; cũng


16

có thể có ở các vật vô tri gọi là vật trạng hay hình trạng. Sự phân biệt về thể
trạng và hình trạng có liên quan đến các vai nghóa của các vò từ biểu thò các
trạng thái này. Căn cứ theo các tiêu chí trên, có thể xếp vò từ trạng thái tiếng
Việt thành bốn tiểu loại chính sau:
1- Thể trạng: gầy, ốm, béo, mập, cao, thấp, lùn, …
2- Hình trạng: tròn, vuông, thẳng, méo, cong, lệch, vẹo,…
3- Tính trạng: hiền, dữ, lành, ác, độc đòa, nham hiểm, …
4- Tâm trạng: yêu, ghét, nhớ, thương, giận, hờn, ghen, tức,…
Tác giả O.H. Cеливерстова (1982), lại đưa ra cách phân loại khác thông
qua bảy đặc trưng của trạng thái như sau:
1- Trạng thái được đònh vò trên trục thời gian.
2- Trạng thái diễn ra trong một thời đoạn chứ không phải thời điểm.
3- Trạng thái được kéo dài nhưng đứng im, không phát triển, không biến đổi trong
thời gian.
4- Chủ thể của trạng thái không phải là kẻ hành động, mà là kẻ thụ cảm. Chủ thể

TRẠNG THÁI
1

Tính trạng

Tính chất và khí chất của ác, bướng, dại, gan, liều,
người hoặc động vật

2

Tâm trạng

Trạng thái tâm lý của cáu,
người hoặc động vật

3

Thể trạng

ngoan, nhát, hiền, dữ, v.v.
bận,

chăm,

hỗn,

thích, yêu, ghét v.v.

Tính chất hoặc tình trạng béo, gầy, câm, đau, khỏe,
thuộc về cơ thể của mập, ngọng, rêm, si, sống,

- Nghĩa biểu niệm (significative meaning) là mối liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý
nghĩa, ý niệm). Cái ý đó người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản
ánh các thuộc tính của biểu vật vào trong ý thức của con người).
- Nghĩa ngữ dụng (pragmatical meaning), còn được gọi là nghĩa biểu thái, nghĩa
hàm chỉ (connotative meaning), là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm
xúc của người nói.
- Nghĩa cấu trúc (structural meaning) là mối quan hệ giữa từ với các từ khác
trong hệ thống từ vựng. Quan hệ giữa từ này với từ khác thể hiện trên hai trục:
trục đối vị (paradigmatical axis) và trục ngữ đoạn (syntagmatical axis). Quan hệ
trên trục đối vị cho ta xác định được giá trị của từ, khu biệt từ này với từ khác,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status