VỊ TỪ GÂY KHIẾN TRONG TIẾNG VIỆT - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
 NGUYỄN THỊ KIM QUYÊN
VỊ TỪ GÂY KHIẾN TRONG
TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành : LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số : 60 – 22 – 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học : TS. TRẦN HOÀNG
Tp. Hồ Chí Minh, năm 2007

LỜI NÓI ĐẦU

DẪN NHẬP
0.1 Lý do chọn đề tài:
Thuật ngữ vị từ gần đây không còn xa lạ đối với các nhà nghiên cứu ngôn ngữ
học. Ngay
cả với những người “ngoại đạo” về ngôn ngữ học, nó cũng dần trở nên
quen thuộc. Những nghiên cứu về hoạt động của vị từ trong các ngôn ngữ tự nhiên
nói chung không còn là một vấn đề mới mẻ. Người ta đã miêu tả và phân tích tương
đối kỹ lưỡng về vị từ

trong nhiều công trình ngôn ngữ khác nhau. Đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về vị từ của các nhà ngôn ngữ học như: Dik.S [52], Emeneau
[53], Halliday [54], Lyons J [56], [57]…Và cũng có không ít những công trình
nghiên cứu đề cập tới vị từ ( động từ ) tiếng Việt như công trình của Lê Cận, Phan
Thiều [5], Đinh Văn Đức [8], Cao Xuân Hạo [9], [10], [11], Nguyễn Văn Hiệp –
Nguyễn Minh Thuyết [13], Nguyễn Thị Quy [33], [34]………Điều đó chứng tỏ đây
quả là một đối tượng khá hấp dẫn.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là những vấn đề liên quan đến vị từ đã
được cày xới kỹ lưỡng. Nhiều vấn đề phức tạp và lí thú về vị tư nói chung và vị từ
gây khiến nói riêng vẫn đang còn được tranh luận.
Chẳng hạn về khái niệm “ động
từ” và “tính từ”, các tiêu chí phân loại vị tư…Đa số các công trình m
a chúng tôi đề
cập trên, nhìn chung, tuy đã nghiên cứu một cách tương đối bao quát các vị tư tiếng
Việt nhưng chưa tập trung tìm hiểu một cách đầy đủ và chi tiết từng tiểu loại để phân
tích và giải thích nghĩa của chúng. Ngay đến công trình “ Vị từ hành động tiếng Việt
và các tham tố của nó” của tác giả Nguyễn Thị Quy, được xem là tác phẩm nghiên
cứu khá sâu sắc về vị từ hành động trong tiếng Việt cũng chưa nêu lên những vấn đề
cụ thể về vị từ gây khiến.
Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn cho m
ình công việc đi sâu vào tìm

hương diện từ loại của từng yếu tố cấu tạo để phân loại ): biết ơn, đánh giá,
đánh bạc, đánh hơi, làm việc…
- Động từ do một tiếng động từ ghép với một tiếng đệm đặt sau: bàn bạc, bắt
bớ, gặp gỡ…
- Động từ do hai tiếng không có nghĩa ghép lại với nhau: ăn năn, cằn nhằn,

chiêm bao, mà cả, phàn nàn…
Trước hết, các tác giả trên đã dựa vào hình thức ngữ âm để phân loại động từ và
đưa ra danh sách động từ nhưng khi phân loại động từ ghép, họ lại căn cứ vào nghĩa
của từng tiếng để tiếp tục phân thành những bậc thấp hơn.
Bên cạnh đó, khi xét toàn bộ danh sách động từ đã được liệt kê chúng t
ôi cũng
tuyệt nhiên không thấy các tác giả nhắc đến vị từ gây khiến. Vì thế, việc phân loại vị từ như trên vừa không đảm bảo tính nhất quán vừa
không bao quát được hết các tiểu loại vị từ.
Người tiếp theo mà chúng tôi muốn nhắc đến là học giả Lê Văn Lý vì trong cuốn
“Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam”, (1972) ông đã phân loại “Tự ngữ Việt Nam” thành 6
loại như sau:
Loại A: danh tự
Loại B: Động tự
Loại B’: Tính tự
Loại C:
C1: Ngôi tự
C2: Số tự
C3: Phụ tự
Những từ được xếp vào trong l
oại B theo ông phải:
- Có thể có những “ngôi tự” ( đại từ nhân xưng ), đứng trước: tôi viết, mày học,

Còn tác giả Bùi Đức Tịnh trong “Văn phạm Việt Nam”, (1952) ông đã dựa vào

phương diện ý nghĩa mà phân biệt động từ thành hai loại:
Động tư viên ý ( ĐTVY ): Động từ không cần có “sự vật túc ngữ” (SVTN):
Ví dụ:
Tôi cười.
ĐTVY
Động từ khuyết ý ( ĐTKY ): Động từ phải có một “sự vật túc ngữ” mới đủ
nghĩa.
Ví dụ:
Anh Giáp trồng rau
.
ĐTKY SVTN
Ong còn lưu ý là một động từ có thể “viên ý” hay “khuyết ý” tuỳ từng trường
hợp.
Ví dụ:
Tôi ăn cơm. (ăn: khuyết ý).
Anh ấy ngủ, tôi ăn. (ăn: viên ý) [45, tr82].
Từ những tìm hiểu trên, chúng ta thấy rằng, tác giả này phân loại vị từ theo “ý”
nhưng lại lấy hình thức, tức sự có mặt hay không có mặt của túc ngữ trong cấu trúc
bề mặt, làm tiêu chuẩn. Do mắc phải những hạn chế đó nên ông cũng không có điều
kiện quan tâm
đến vị từ gây khiến.
Cùng nhóm này còn có tập thể soạn giả, Uy ban Khoa học Xã hội Việt Nam,
quyển“ Ngữ pháp tiếng Việt”,(1983). Tác phẩm đã đưa ra kết quả phân loại động từ
như sau:
- Động từ ngoại động: làm, viết… - Động từ nội động: ngủ, tắm…

hoặc nội dung, mục đích của động từ chính.
Ví dụ:
Bộ đội tấn công vào đồn buộc địch
đầu hàng. ĐTGK BNĐT BNPT
Nguyễn Kim Thản, tác giả của chuyên luận “Động từ trong tiếng Việt”, (1977)
đã có được một sự nghiên cứu khá công phu dành cho vị từ gây khiến.
Ong viết: “ Động từ gây khiến biểu thị những hoạt động thúc đẩy, cho phép,
giúp đỡ hay cản trở sự thực hiện của những hành động khác”. Chúng gồm: bảo, bắt,
buộc, bắt buộc, cản trở, cho phép, cổ vũ, cưỡng bức, cưỡng ép, dạy, dẫn, dắt, dìu, dìu
dắt, đề nghị, đòi hỏi, cần, giục, gọi, giúp đỡ, khuyên nhủ, khuyên răn, khuyên bảo,
khuyến khích, lãnh đạo, mời, n
ài nỉ, nài ép, thuyết phục, yêu cầu, ra lệnh…
Tuy nhiên, cuối cùng thì tác giả này cũng coi vị từ gây khiến và vị từ cầu khiến
là một.
Nằm trong xu hướng trên nhưng hai tác giả Lê Cận, Phan Thiều ơ “Giáo trình
ngữ pháp t
iếng Việt” (tập 1), (1983), trình bày cụ thể hơn. Hai ông cho rằng: động từ
gây khiến là lớp nhỏ của động từ, biểu thị những hoạt động cho phép, thúc đẩy, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện những hoạt động khác nhau.
Ví dụ:
Nhà trường cho phép
học sinh nghỉ học.
VTGK
Cũng theo hai ông thì lớp động từ gây khiến thường chịu sự chi phối của hai bổ
tố: một bổ tố chỉ đối tượng nhận sự chi phối của hoạt động gây khiến tức là nhận sự
ngăn cản, cho phép hay giúp đỡ của chủ thể, do danh từ (DT) đảm nhiệm; một bổ tố
do động từ (ĐT) đảm nhiệm,

 Trạng thái tâm lý: nghỉ ngơi, hồi hộp…
 Hành động: ăn, đánh, xây dựng…
 Chuyển động có hướng: ra, vào, lên, xuống…
 Hoạt động cho nhận: cho, tặng, lấy…
 Cấu khiến: mời
, sai, khuyên, bảo…
 Hoạt động kết nối: buộc, pha, trộn…
 Đánh giá, xem xét: bầu, gọi ,xem, coi…
 Cảm nghĩ: biết, thấy, nói, nghĩ…
Còn tác giả Lê Biên trong “Từ loại tiếng Việt hiện đại”, (1999) đã trình bày xác
định khái niệm “động từ gây khiến” (ĐTGK) như sau: “ Động từ gây khiến là những
động từ vận động có tác động gây khiến, chi phối hoạt động của đối tượng”.
Ví dụ:

(1) Con học giỏi khiến
ba mẹ vui lòng.
ĐTGK
(2) Sản xuất lúa gạo tăng làm cho
mọi người phấn khởi.
ĐTGK (3) Mọi người đề nghị chị Lan hát.
ĐTGK
Trong khi liệt kê các động từ gây khiến, tác giả Lê Biên đã đề cập đến hai
loại vị từ: làm cho, khiến cho, khiến… và bắt, buộc, đề nghị…Thực tế thì ở đây có
đến hai nhóm vị từ khác nhau vị từ gây khiến và vị từ cầu khiến. Ong đã không nêu
lên một nhận thức nào về sự đối lập giữa vị tư gây khiến với vị tư cầu khiến nên đã
xảy ra trường hợp nhập các vị tư cầu khiến vào vị từ gây khiến.
Rõ ràng các t

[+Mục tiêu]
- Di chuyển
Nhìn, quan sát,
đọc…
Hành thể, mục
tiêu
Vật chất: sản phẩm
Làm, xây, đóng,
vẽ..
Tác thể, sản phẩm
Tác tạo
đối tượng
Tinh thần: nhận thức – phát ngôn
Nghĩ, khẳng định,
nói…
Tác thể, điều ý/
lời
Hủy diệt
Huỷ, phá, bỏ,
giết…
Vật chất Bẻ, nấu, đánh… Chuyển trạng
thái
Tinh thần Dọa, trêu, mắng..
Tác thể, bị thể/
đương thể
[+ TÁC ĐỘNG]
Làm cho
đối tượng
biến
chuyển

Sai, ra lệnh, yêu
cầu
Tác thể, đương
thể, hành động
3 diễn tố
[ 34, trang 148 ]
Như vậy, theo tác giả Nguyễn Thị Quy, vị từ gây khiến là một tiểu loại của vị từ
hành động. Nó được xếp vào nhóm các vị từ biểu thị những hành động làm cho đối
tượng biến đổi trạng thái vật chất. Quan điểm của chúng tôi khi xác định vị từ gây
khiến cũng đi theo hướng này.
0.3 Phạm vi nghiên cứu:
Chúng ta đều biết rằng, ngữ vị từ là loại ngữ đoạn chuyên thể hiện nội dung sự
kiện và có ưu thế cú pháp nhất để giữ vai trò của phấn thuyết t
rong câu. Chúng có thể
được xem là những phần thuyết điển hình thế nhưng việc miêu tả cấu trúc vị ngữ cho
đến nay vẫn chưa hoàn thiện. Vị từ là một thành tố quan trọng trong cấu trúc vị ngư,
nếu chúng ta khảo sát cụ thể và kĩ lưỡng c
húng sẽ phát hiện những tiền đề quan trọng
cho việc nghiên cứu và miêu tả cấu trúc vị ngữ tiếng Việt. Tuy nhiên, vì những lý do
chủ quan và khách quan, trong công trình này, chúng tôi chỉ xin được giới hạn việc
tìm hiểu ở vị từ gây khiến tiếng Việt, một tiểu loại rất quan trọng trong ngữ vị từ hành
động tiếng Việt. Cụ thể là chúng tôi tập trung khảo sát các vị từ gây khiến trên hai
phương diện ngữ nghĩa và ngữ pháp, đi vào phân l
oại, lập danh sách, mô tả các qui
tắc kết hợp của các vị từ gây khiến dựa trên ngôn liệu trong tiếng Việt, nhằm giúp
người sử dụng tiếng Việt khi giao tiếp tránh được những sai sót không đáng có.
Chúng tôi cũng xin được phép hạn định phạm vi nghiên cứu ở các ngữ vị từ gây
khiến mà chỉ gồm một vị từ (vị từ đơn), các vị từ ít dùng hoặc chỉ được t
ìm thấy trong
những văn bản cổ, chúng tôi tạm thời chưa xem xét.

các vị từ hành động khác.
3. Phương pháp thống kê: Trong khi làm việc với các nguồn ngữ liệu cụ thể ( các
tác phẩm văn học được trích dẫn trong sách giáo khoa lớp 10, 11, 12 hiện hành), luận
văn đã dùng phương pháp này với mục đích tìm hiểu mức độ nhận thức của người
Việt trong việc sử dụng các vị từ gây khiến.
4. Phương pháp m
iêu tả: Dụng ý của chúng tôi khi sử dụng phương pháp này là
làm rõ những đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của vị từ gây khiến thông qua việc
phân tích các ngữ liệu. 5. Phương pháp cải biến, tỉnh lược, chêm xen: Thông qua những phương pháp
này, chúng ta sẽ xác định được các thành phần trong cấu trúc cú pháp cũng như xác
định vai trò của các tham tố trong cấu trúc nghĩa của vị từ đang xét.
Về mặt tài liệu, chúng tôi chủ yếu tham khảo các công trình nghiên cứu của các
tác giả trong nước như: “ Động từ trong tiếng Việt” (Nguyễn Kim Thản), “Tiếng Việt
– Sơ thảo Ngữ pháp chức năng – Q1” (Cao Xuân Hạo), “ Vị từ hành động tiếng V
iệt
và các tham tố của nó” (Nguyễn Thị Quy), “Lý thuyết trật tự từ trong cú pháp” (Lý
Toàn Thắng)... và một số giáo trình của các tác giả nước ngoài như: “Studies in
Vietnamese (Annamese) Grammar”( Emeneau), “An introduction to Functional
Grammar” (Halliday), “Semantics”( Lyons), “A Vietnamese Grammar”(Thompson),
“Semantics Primes and Universals” ( Wierzbicka, Anna) …liên quan đến đề tài mà
chung tôi sưu tầm được.
Về ngữ liệu, chúng tôi thu thập chủ yếu từ việc quan sát cách sử dụng ngôn ngữ
tự nhiên của người Việt, hoặc trích dẫn từ các tác phẩm văn học, báo chí và các tư
liệu từ các Từ điển tiếng Việt.
0.5 Ý nghĩa k
hoa học và thực tiễn của đề tài:
Trước hết, về mặt lý luận, chúng tôi nghĩ rằng việc làm của mình là cần thiết.

bày trong hai chương:
Chương I: Những vấn đề hữu quan. Trong chương này, c
húng tôi trình bày
tương đối chi tiết những khái niệm cơ bản liên quan đến vị từ hành động. Những tri
thức này chính là nền tảng để chúng tôi đi vào nghiên cứu những vấn đề cụ thể liên
quan đến vị từ gây khiến.
Chương II: Đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ pháp của vị từ gây khiến tiếng Việt.
Đây là phần mang nội dung nghiên cứu chính của luận văn. Trong chương này, chúng
tôi tiến hành đối chiếu những sự khác biệt về mặt ngữ nghĩa giữa vị từ gây khiến với
các vị từ hành động khác để từ đó có thể tìm
ra những đặc trưng ngữ nghĩa riêng của
vị từ gây khiến. Đồng thời, luận văn cũng đi vào tìm hiểu những đặc điểm về mặt ngữ
pháp của vị từ gây khiến ( chủ yếu là ở khả năng kết hợp và khả năng tham
gia làm
thành phần câu ). Tóm lại, ở chương hai này, chúng tôi cố gắng phát thảo một bức
tranh toàn cảnh về đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ pháp của vị từ gây khiến. CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ HỮU QUAN
1.1 Vị từ:
Theo tác giả Nguyễn Thị Quy, trong giao tiếp hằng ngày, chúng ta thường trao
đổi với nhau về vô số sự thể: một hành động của một ai đó, tình trạng sức khoẻ của
một người nào đó, một hiện tượng xã hội tích cực (hoặc tiêu cực) đang trở nên phổ
biến, sự đánh giá về một tác phẩm nghệ thuật, sự nhận định về một cơ hội kinh tế của
đất nước…Tất cả các sự thể trên, chúng đều có thể được phân tích thành hai bộ phận:
- Nội dung của sự thể: Hành động (làm
gì?), trạng thái (ra sao?), phẩm chất
(tốt hay xấu?), quan hệ (hơn hay thua?, có trước hay có sau?),
- Những người hay vật nào tham gia vào sự thể?
Và trong câu nói, phần nội dung của sự thể thường được biểu hiện bằng một vị

O
2

Chủ thể hành động tác động đối thể thể thụ hưởng
Thế nên nếu ngữ vị từ biểu hiện nội dung của sự tình thì vị từ biểu thị cái lõi của
sự tình. Vị từ là loại thực từ có thể làm trung tâm một ngữ vị từ.
Tuy nhiên, khi kết luận như trên về vị từ không có nghĩa là chúng ta phủ nhận
quan điểm: chức năng biểu hiện nội
dung của sự thể không phải chỉ do vị từ đảm
nhiệm nhưng chúng ta có quyền phát biểu rằng: những câu có vị từ làm trung tâm cho
phần thuyết là loại câu có số lượng áp đảo và có tần số xuất hiện cao nhất so với các
loại câu khác và đã được kiểm chứng thông qua việc khảo sát các văn bản văn học [
Sách giáo khoa 10, 11, 12]. Điều này một lần nữa khẳng định chức năng tiêu biểu
nhất của vị từ là làm hạt nhân của vị ngữ hoặc tự nó làm
thành một vị ngữ, biểu hiện
nội dung một sự thể được phản ánh trong câu. Nói cách khác vị từ đóng vai trò là hạt
nhân, quyết định khung ngữ nghĩa của câu.
Tóm lại, vị từ là một từ có chức năng tự mình làm thành một vị ngữ hoặc một
trung tâm ngữ pháp, làm hạt nhân ngữ nghĩa của một vị ngữ biểu hiện nội dung của
sự thể.
Vì chức năng cơ bản của vị từ là làm
thành hoặc cấu tạo những ngữ đoạn phản
ánh nội dung của sự thể nên về cơ bản chúng ta có thể đặt các sự thể trên trong hai sự
đối lập: Sự đối lập về tính [±Động] (dynamism) và sự đối lập về tính [±Chủ ý]

(control). Dựa theo sự phân biệt các sự thể như trên, S.C.Dik [ 52] đã đưa ra một cách
phân loại sự thể và vị từ sau đây, được xem là có hiệu lực đối với mọi ngôn ngữ:
SỰ TÌNH
+ Động - Động
+ Chủ ý Biến cố Tình thái

hưởng”. Bởi mọi sự thể diễn ra trong cuộc sống đều có thể có ảnh hưởng đến các sự
vật xung quanh, chứ không riêng gì các hành động hay quá trình. Cho nên, để vấn đề
trở nên rõ ràng hơn, chúng tôi đã xác định ranh giới nghĩa của từ “tác động” như sau:
- Tác động là làm cho một đối tượng đang tồn tại có những biến đổi nhất định.
- Tác động vào một đối tượng đang tồn tại, làm cho nó thôi không còn là nó nữa
(tức là hủy diệt nó);
hoặc ngược lại làm cho một vật vốn chưa tồn tại bắt đầu tồn tại,
bằng cách sử dụng những nguyên liệu nhất định, những sức tạo tác nhất định.
Chẳng hạn: xây, ra, vào, múa, chặt, bó, đấm, khoan, che, trộn, đào, bẻ, giần,
băm, giã… Những sự phân biệt về ngữ nghĩa đi đôi với chức năng và thái độ cú pháp của
các vị từ hành động của tác giả Nguyễn Thị Quy đã trình bày trong công trình của bà
là khá thuyết phục. Vì vậy, chúng tôi có cùng ý kiến với bà khi phân chia vị từ hành
động căn cứ vào tiêu chí [chuyển tác] và [vô tác].
Chuyển tác [+động, +chủ ý, +tác động]
Vô tác [+động, +chủ ý, -tác động].
Với hai tiêu chí trên, chúng ta có thể chia vị từ hành động thành chín tiểu loại:
1) Vị từ hành động chuyển thái: giã, băm, cán, dùi, đốn, giần…
2) Vị từ hành động chuyển vị: bóc, cẩn, ép, đặt, ghép, khép, ch
êm, gác…
3) Vị từ hành động tạo tác: dệt, khắc, thêu, hầm, kẻ, đóng, nặn…
4) Vị từ hành động hủy diệt: hạ, khử, tẩy, trừ, xóa, bỏ, loại…
5) Vị từ hành động di chuyển: bay, vào, di cư, trèo, lánh, bò…
6) Vị từ hành động cử động: đứng, ngồi, quỳ, gật, nằm…
7) Vị từ hành động ứng xử: cười, ca cẩm, bao che, làu bàu, nể…
8) Vị từ hành động tri giác: đọc, đếm, nếm, nghe, ngửi, mi
êu tả…
9) Vị từ hành động cầu khiến: khuyên, giục, năn nỉ, khiến, dặn…

Trong câu trên, trung tâm của vị ngữ là “làm”. Nó quy định cái khung của ngữ vị
từ nghĩa là phải có ít nhất hai tham tố (1) và (2) tham gia vào cấu thành khung ngữ vị
từ, còn tham tố (3) là tham tố không bắt buộc. Nếu người viết bỏ mất tham tố (2) thì
câu trên sẽ thành:
Bố tôi
làm ở công ty này.
(1) (3)
Khi tiếp nhận câu này, người đọc sẽ không thỏa mãn về cả hai mặt nội dung
thông tin và cấu tạo ngữ pháp. Bởi lẽ, “làm” là một vị từ đòi hỏi phải có tham tố biểu
thị nội dung: làm gì?. Trái lại, nếu tham tố (3) không có mặt, nội dung thông báo vẫn
được người đọc tiếp nhận một cách bình thường.
Bố tôi
làm giám đốc.
(1) (2)
Tuy nhiên, xem xét vấn đề này, chúng ta cũng không thể bỏ qua ngữ cảnh mà
câu nói trên xuất hiện.
Ví dụ 2:
A: Bố anh làm giám đốc ở công ty nào?
B: Bố tôi làm ở công ty này.
Ơ ngữ cảnh trên, thông tin mà người nghe hướng tới là nơi mà “bố tôi” làm
việc, cho nên dù tham tố (2) bị lược bỏ thì câu vẫn được tiếp nhận như một thông
điệp trọn vẹn. Tóm lại, những tham tố bắt buộc phải có mặt để cái sự tình được biểu hiện trong
câu có thể được thực hiện, đó là các diễn tố (actants). Ngược lại, chu tố lại là những
tham tố không cần xuất hiện một cách đều đặn trong ngữ vị từ vì những vai nghĩa mà
các tham tố ấy biểu hiện không nhất thiết phải có mặt để cho cái sự tình ấy được thực
hiện.
Đến đây, chúng ta có thể khẳng định: chu tố (tham tố không bắt buộc): là thành
Ví dụ 5: (Buổi trưa, taị khu tập thể, hai bạn Lan và Hùng gọi bạn Hương đi học)
- Đi học đi!
Ơ đây diễn tố “chúng mình” không được nói ra nhưng đặt vào ngữ cảnh trên,
người nghe vẫn hiểu được “ Chúng mình đi học đi!”
Ví dụ 6:
A: Cô Nga
có còn hay đi nhặt hoàng lan rơi nữa không?
(1) (2)
B: Vẫn nhặt đấy.
Sự tình được gọi là “nhặt” đòi hỏi phải có các diễn tố: (1) chủ thể (ai “nhặt”),
(2) đối tượng bị tác động (nhặt cái gì). Nhưng ở đây, diễn tố (1) và (2) bị lượt bỏ
nhưng người nghe vẫn tiếp nhận thông tin một cách đầy đủ là nhờ ngữ cảnh.
Khác với diễn tố, chu tố chỉ là
những thành phần tùy ý trong cấu trúc vị ngữ và
quan hệ lỏng lẻo với vị từ. Chu tố không có số lượng nhất định như các diễn tố. Các
nghĩa chu tố được biểu hiện trong ngữ pháp thông qua các bổ ngữ, trạng ngữ nhưng
có khi chu tố được biểu hiện trong đề.
Ví dụ 7:
Từ những năm 30,
tác phẩm này đã xuất hiện trên văn đàn.
Đề - Chu tố thời đoạn
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng: mỗi vai nghĩa thường đóng vai trò nhất định (hoặc
là chu tố hoặc là diễn tố) trong cấu trúc nghĩa của vị từ nghĩa là nó có thể là chu tố
đối với vị từ này nhưng lại là diễn tố đối với vị từ khác.
Ví dụ 8:
(a) Tàu rời ga
.
Diễn tố

Động từ nội động”, “ Nội động từ” hay “ Động từ bất cập vật”. Các vị từ này có thể
có bổ ngữ trực tiếp hay gián tiếp nhưng các bổ ngữ đó không biểu hiện các diễn tố
của vị từ trừ khi một vị từ nào đó được dùng với nghĩa phái sinh.
Ví dụ 10:
(a) Chị Bưởi
bơi nhanh.
(Diễn tố) (Chu tố)
(b) Một người đầy tớ của quan Chánh
chạy trước dẹp đường.
(Diễn tố) (Chu tố)
Vị từ song trị (vị từ hai diễn tố): Đây là những vị từ mà ngoài chủ thể ra còn có
một diễn tố thứ hai, được biểu thị bằng một bổ ngữ trực tiếp, chỉ một vật hay một nơi được lấy làm mốc. Đặc trưng chung của chúng là trong hai diễn tố thì diễn tố nào
cũng có khả năng làm đề và đều có thể bị tỉnh lược nếu ngữ cảnh cho phép.
Thuộc nhóm những vị từ song trị này ta có những vị từ như: khâu, nhổ, múc, tạo,
xây, dệt, giết, tẩy, trừ, chui, lánh, bám, cấu, nhồi, che, băm, đốn…
Ví dụ 11:
Mấy đứa trẻ nghịch ngợm này
đánh con mèo của tôi.
(Diễn tố 1) (Diễn tố 2)
Vị từ tam trị (vị từ ba diễn tố): Các vị từ loại này luôn biểu hiện nội dung của
những sự tình cần có sự tham gia của diễn tố: (1) Chủ thể tác động, (2) đối tượng bị
tác động, (3) có thể là người nhận, đích, mục đích điều khiển (nếu là vị từ cầu khiến).
Về phương diện nghĩa cũng như về phương diện ngữ pháp, chúng có thể được
chia thành bốn tiểu loại sau:

- Các vị từ có một chủ thể chỉ người hành động, một đối thể chỉ người nhận và
một đối thể thứ hai chỉ vật bị tác động. Thuộc loại này là những vị từ : cho, biếu,

thực hiện được nội dung cầu khiến; (3) nội dung cầu khiến (l
uôn là một vị từ biểu thị
hành động chuyển tác hoặc vô tác). Các vị từ cầu khiến gồm có: buộc, bảo, nhờ,
khiến, yêu cầu, đòi, giục, nài, cấm, khuyên, cử, dặn, phái, van, xin, đề nghị, gọi, hô
hào, cầu, triệu, đề xuất, can ngăn…
Ví dụ 15:
Bá Kiến
sai Chí Phèo đòi nợ Đội Tảo.
(Diễn tố1) (Diễn tố 2) (Diễn tố 3)
Trong khi trình bày những khái niệm liên quan đến diễn trị của vị từ, chúng tôi
tự nhận thấy sẽ không thừa nếu chúng tôi đề cập đến một lí thuyết tương đối phổ biến
có liên quan đến vị từ. Đó là lí thuyết về kết trị.
Kết trị là một thuật ngữ của ngành hoá học, dùng để chỉ thuộc tính kết hợp của
các nguyên tử với một số lượng nguyên tử nhất định khá
c. Về sau, khoảng cuối
những năm 40 của thế kỉ XX, thuật ngữ này bắt đầu được dùng phổ biến trong ngôn
ngữ học để chỉ khả năng kết hợp của các lớp từ hoặc các lớp hạng đơn vị ngôn ngữ
nói chung.
Hiểu một cách hạn hẹp thì kết trị là thuộc tính kết hợp của vị từ hoặc một số từ
loại nhất định (Nguyễn Văn Lộc, t
ác giả công trình “ Kết trị của động từ tiếng Việt”
cũng đồng quan điểm này nhưng ông dùng thuật ngữ “động từ” thay vì thuật ngữ “vị
tư”).
Người tiên phong dùng thuật ngữ kết trị t
heo nghĩa hẹp trên là nhà ngôn ngữ học
người Pháp L. Tesniere. Ong là người sáng lập nên lí thuyết kết trị. Trong công trình
“Các yếu tố của cú pháp cấu trúc” (Elements de syntaxe structurale), L. Tesniere cho rằng: vị từ trong vai trò vị ngữ (như ngữ pháp truyền thống quan niệm) thực chất

Các
thành tố tự do có mặt bên cạnh các vị từ (ngữ pháp truyền thống gọi là trạng
ngữ) không thuộc về các yếu tố làm đầy các vị trí mở bên cạnh vị từ và do đó chúng
không được tính đến khi S. D. Kasnelson xem
xét kết trị của vị từ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status