Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
==========
GIA THỊ ĐẬM
ĐỘNG TỪ CHỦ ĐỘNG TRONG TIẾNG VIỆT Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
ra những thành công và hạn chế của luận văn tốt nghiệp này.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2010
Học viên: Gia Thị Đậm
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2 Học viên: Gia Thị Đậm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng bảo vệ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3 Học viên: Gia Thị Đậm
DANH MỤC VIẾT TẮT
N1: Danh từ chủ ngữ
N2, N3: Danh từ bổ ngữ
V1: Động từ vị ngữ
V2: Động từ bổ ngữ
SP: Cụm chủ vị
p : Quan hệ từ Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
2.4.3. Câu và thành phần câu. 33
CHƢƠNG II 37
ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỘNG TỪ CHỦ ĐỘNG 37
TRONG TIẾNG VIỆT. 37
1. Đặc điểm về ý nghĩa. 37
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5 Học viên: Gia Thị Đậm
1.1. Động từ chủ động chỉ hoạt động xuất phát từ chủ thể 37
1.2. Động từ chủ động chỉ hoạt động mà chủ thể có thể làm chủ được, điều khiển
được. 38
1.3. Động từ chủ động chỉ hành động 39
1.4. Động từ chủ động chỉ hành động có chủ đích của chủ thể: 39
2. Đặc điểm hoạt động ngữ pháp. 41
2.1. Khả năng kết hợp với các phó từ: 41
2.2. Khả năng kết hợp của động từ chủ động với các động từ tình thái. 46
2.2.1. Nhận xét chung 46
2.2.2. Khả năng kết hợp của động từ chủ động với các nhóm động từ tình thái. 47
2.3 Khả năng kết hợp của động từ chủ động với bổ ngữ mục đích. 54
2.5. Khả năng kết hợp với bổ ngữ chỉ kẻ hưởng lợi. 68
2.4. Đặc điểm của chủ ngữ bên động từ chủ động 70
2.4.1. Đặc điểm ý nghĩa của chủ ngữ bên các động từ chủ động 70
3.2. Động từ chủ động ngoại hướng. 79
3.3 Đặc điểm đối lập giữa động từ chủ động nội hướng và động từ chủ động ngoại
hướng. 80
CHƢƠNG III: 82
CÁC NHÓM ĐỘNG TỪ CHỦ ĐỘNG 82
1. Động từ chủ động nội hƣớng. 82
1.1.Các tiểu loại của động từ chủ động nội hướng. 82
động, đối lập giữa động từ chủ động và động từ không chủ động cũng nhƣ
đối lập trong nội bộ động từ chủ động nói riêng.
Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu động từ chủ động có thể đƣợc sử
dụng để biên soạn các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng
Việt trong nhà trƣờng.
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7 Học viên: Gia Thị Đậm
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.
Về sự tồn tại của động từ tiếng Việt, từ trƣớc đến nay luôn có rất
nhiều ý kiến nhƣng có hai ý kiến trái ngƣợc nhau. Ý kiến thứ nhất phủ nhận
sự tồn tại của động từ và ý kiến thứ hai thừa nhận sự tồn tại của động từ.
Những ngƣời có ý kiến thứ nhất nhƣ M . Grammong (M. Grammont)
và Lê Quang Trinh phủ nhận khả năng phân định các loại từ trong tiếng
Việt. Do đó, các tác giả cũng phủ nhận sự tồn tại của động từ. Các tác giả
này cho rằng trong tiếng Việt, không có mạo từ, danh từ, đại từ, động từ,
cũng không có giống, số mà chỉ có những từ không thôi; những từ này đều
là đơn âm tiết, nói chung không biến đổi, ý nghĩa của chúng thay đổi hay
đƣợc xác định nhờ những từ đặt trƣớc hay theo sau, nghĩa là nhờ chức
năng, vị trí của chúng ở trong câu.
Ý kiến thứ hai thừa nhận sự tồn tại của động từ, nhƣng những ngƣời
theo ý kiến này lại khác nhau về điểm xuất phát cũng nhƣ về kết quả đạt
đƣợc.
Trong loại ý kiến thừa nhận sự tồn tại của động từ tiếng Việt,
Nguyễn Kim Thản có phân ra làm bốn loại: loại thứ nhất có sự lẫn lộn giữa
động từ và vị ngữ bắt nguồn từ thời cổ Hi Lạp; loại thứ hai xuất phát từ ý
nghĩa; loại thứ ba xuất phát từ hình thức ngữ pháp (hiểu theo nghĩa rộng),
chủ yếu là khả năng kết hợp của từ, loại thứ tƣ chú ý tới cả đặc điểm ý
nghĩa và đặc điểm hình thức của từ.
chớ.
- Có thể đặt trƣớc những hình vị phủ định; khi đó, câu đƣợc tạo ra là
câu nghi vấn.
Loại ý kiến thứ tƣ theo phân chia của Nguyễn Kim Thản chủ trƣơng
phân định từ loại dựa vào cả ý nghĩa lẫn hình thức ngữ pháp. Các tác giả
chứng minh sự tồn tại của danh từ và động từ tiếng Việt bằng cách đối lập
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9 Học viên: Gia Thị Đậm
khả năng kết hợp của hai từ loại, nhƣ khả năng kết hợp với những từ chỉ
định( này, kia…), với từ chỉ sở thuộc, với đại từ (có là và không có là), với
định ngữ tính từ (danh từ thì kết hợp trực tiếp, động từ thì có thể có từ cho),
với những từ phủ định.
Gần đây, qua một số công trình nghiên cứu nhƣ của Cao Xuân Hạo,
Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Văn Lộc việc nghiên cứu động từ nói chung
cũng nhƣ động từ chủ động nói riêng đã có phần rõ nét hơn.Tuy nhiên, về
động từ chủ động đến nay hầu nhƣ chƣa có công trình nào nghiên cứu có
hệ thống và chuyên sâu.
III. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích của luận văn là: Làm rõ đặc điểm ý nghĩa và hoạt động
ngữ pháp, ranh giới giữa động từ chủ động và động từ không chủ động, các
diện đối lập trong động từ chủ động, cung cấp một tƣ liệu phục vụ cho việc
nghiên cứu và dạy học về động từ chủ động nói riêng, về động từ trong
tiếng Việt nói chung.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về động về động từ và kết
quả nghiên cứu về động từ chủ động trong tiếng Việt của các tác giả khác
nhau.
2. Phân tích, miêu tả đặc điểm chung của động từ chủ động.
VI. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN.
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có ba chƣơng:
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chƣơng này gồm ba nội dung:
1. Động từ trong hệ thống từ loại
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11 Học viên: Gia Thị Đậm
2. Phân loại động từ - Khái niệm động từ chủ động.
3. Một số khái niệm liên quan khác trong nghiên cứu động từ chủ
động trong tiếng Việt
CHƢƠNG II: ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỘNG TỪ CHỦ ĐỘNG
TRONG TIẾNG VIỆT.
Chƣơng này gồm ba nội dung:
1. Đặc điểm về ý nghĩa
2. Đặc điểm hoạt động ngữ pháp
3. Phân loại động từ chủ động
CHƢƠNG III: MIÊU TẢ CÁC NHÓM ĐỘNG TỪ CHỦ ĐỘNG
Chƣơng này gồm hai nội dung:
1. Động từ chủ động nội hƣớng
2. Động từ chủ động ngoại hƣớng Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12 Học viên: Gia Thị Đậm
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Động từ trong hệ thống từ loại.
Hƣ từ:
Về ý nghĩa: Hƣ từ là những từ cũng có ý nghĩa nhƣng nghĩa của hƣ
từ không thể liên hệ tới một đối tƣợng nào trong thực tế. Do đó hƣ từ
không thể hiện đƣợc chức năng định danh. Hƣ từ chỉ bổ sung ý nghĩa ngữ
pháp nào đó cho thực từ.
Ví dụ:
- Đang học, ở thƣ viện.
- Chiếc bàn bằng gỗ
Về hoạt động ngữ pháp:
Hƣ từ không thể đảm nhiệm vai trò thành phần chính trong cấu tạo
của cụm từ và của câu.
Hƣ từ cũng không có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn.
Hƣ từ chỉ có vai trò:
- Đi kèm với thực từ để làm thành tố phụ bổ sung ý nghĩa nào đó cho
thực từ ví dụ nhƣ: sẽ đến, các bạn.
- Dùng biểu thị quan hệ giữa các từ, các cụm từ, các câu (Tôi và nó học
cùng một lớp. Cuốn sách của tôi)
- Dùng làm dấu hiệu cho các ý nghĩa tình thái (Bạn đi học à? Trời đất
ơi!).
Tiếp tục phân chia khối thực từ và hƣ từ dựa vào đặc điểm ý nghĩa và
hình thức đã đƣợc xác định trên đây, ta đƣợc 5 từ loại thực từ (danh từ,
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14 Học viên: Gia Thị Đậm
động từ, tính từ, số từ, đại từ) và 5 từ loại hƣ từ (phó từ, trợ từ, quan hệ từ,
tiểu từ và thán từ).
Trong tập hợp các thực từ tiếng Việt gồm ba loại chủ yếu: danh từ, động
từ, tính từ. Số từ và đại từ kỳ thực có những điểm không thuần nhất trong
tập hợp các thực từ tiếng Việt nhƣng chúng lại không phải là hƣ từ.
+
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15 Học viên: Gia Thị Đậm
Đều
+
+
Về khả năng đảm nhiệm các thành phần câu: cả động từ và tính từ
đều có thể đảm nhiệm chức năng của các thành phần câu, đặc biệt là các
chức năng vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ. Hơn nữa, cả hai đều có thể làm vị ngữ
trực tiếp. Điều này không xảy ra ở từ loại danh từ (danh từ không thể làm
vị ngữ trực tiếp).
Chính vì sự gần gũi này nên đã từng có ý kiến cho rằng trong tiếng
Việt hai từ loại này nằm trong một phạm trù từ loại chung là vị từ (hoặc
thuật từ). Còn trong ngôn ngữ Ấn - Âu thì tính từ với danh từ hợp thành
một từ loại lớn là tĩnh từ đối lập với động từ. Trong giáo trình ngữ pháp
tiếng Việt, Bùi Minh Toán có đƣa ra sơ đồ biểu hiện các quan hệ ấy nhƣ
sau:
Từ loại
Ngôn ngữ
Danh từ
Tính từ
Động từ
Tiếng Nga, Pháp
Tĩnh từ
Động từ
Tiếng Việt
Danh từ
Vị từ
Trạng thái
(to, sợ)
Không thể phủ nhận tính đúng đắn và ý nghĩa quan trọng của chủ
trƣơng phân biệt vị từ theo sự đối lập [±động] và [± chủ ý] của Dik đƣợc
trình bày trên đây. Tuy nhiên, một điều cũng rất quan trọng là vấn đề xác
định các tiêu chí khoa học cho phép vạch đƣợc ranh giới thỏa đáng giữa
các phạm trù trong nội bộ vị từ. Có lẽ những tiêu chí phân biệt động /tĩnh
mà Nguyễn Thị Quy kể ra chƣa đầy đủ và hợp lý nên việc vận dụng các
tiêu chí này vào phân loại vị từ tiếng Việt cho ta những kết quả có chỗ cần
nghiên cứu lại. Ví dụ, theo kết quả phân loại thì phạm trù động (biến cố)
bao gồm hành động (đánh, chạy) và quá trình (rơi, phai); còn phạm trù tĩnh
bao gồm tƣ thế (nằm, ở) và trạng thái (to, sợ). Những thắc mắc, nghi ngờ
mà kết quả phân loại trên đây gây ra là:
a. Nếu việc xếp nằm vào vị từ chỉ tƣ thế, sợ vào vị từ chỉ trạng thái
có thể chấp nhận đƣợc thì việc xếp ở vào vị từ chỉ tƣ thế và to vào vị từ chỉ
trạng thái thật khó hình dung.
b. Nhƣ đã biết, một trong những đặc điểm của quá trình là có sự khởi
đầu, sự tiếp diễn và kết thúc. Xét theo đặc điểm này thì ở, sợ rõ ràng có
nhiều đặc tính của quá trình (có thể nói: bắt đầu ở, bắt đầu sợ,tiếp tục ở,
tiếp tục sợ, không ở nữa, không sợ nữa )
c. Theo Nguyễn Thị Quy, “ một đặc trƣng khiến cho một số sự thể
[+động] khu biệt với các sự thể [- động] là sự có mặt của âm thanh: chỉ một
biến cố, một sự kiện động mới gây ra tiếng động”(31. trang 50). Nếu nhận
xét trên là đúng thì việc tác giả xếp ngủ vào loại vị từ tĩnh là việc làm tự
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17 Học viên: Gia Thị Đậm
mâu thuẫn (với ngƣời có tật ngủ ngáy hay ngủ mơ thì ngủ có thể gây ra
Dog ( con chó) - dogs ( những con chó).
Hệ quả của điều này là trong tiếng Việt, những từ đồng âm cùng gốc
rất phổ biến, trong đó phải kể đến sự đồng âm của khá nhiều động từ và
danh từ. Chẳng hạn:
Danh từ Động từ
cƣa cƣa
bào bào
đục đục
cuốc cuốc
cày cày
muối muối
sơn sơn
suy nghĩ suy nghĩ
khóa khóa
Sự đối lập không rõ ràng về hình thức giữa các từ loại trong tiếng
Việt đã khiến một số nhà nghiên cứu tỏ ý nghi ngờ, thậm chí phủ nhận sự
tồn tại của phạm trù từ loại trong tiếng Việt. Thực ra, dù không có sự đối
lập về hình thái, giữa các từ loại tiếng Việt vẫn có sự đối lập về ý nghĩa ngữ
pháp và về hình thức ngữ pháp theo nghĩa rộng, tức là đối lập thể hiện ra ở
khả năng kết hợp và chức năng ngữ pháp. Chính nhờ những dấu hiệu khu
biệt về cú pháp mà ta phân biệt đƣợc động từ và danh từ. Nhƣ ở động từ, ta
có thể dựa vào quan hệ thời - thể. Tất cả các động từ ở cột bên phải dễ dàng
tiếp nhận các tiêu chí ngữ pháp thời- thể (đã, sẽ, đang, từng), còn các danh
từ ở cột bên trái thì không có khả năng ấy. Ta có thể nói: tôi đã cày được
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19 Học viên: Gia Thị Đậm
một thửa ruộng, chị ấy đã cuốc xong khu vườn, họ đã suy nghĩ thấu đáo
mọi chuyện….
trên, ta có thể đƣa ra cách hiểu khái quát về động từ nhƣ sau: Động từ là
một từ loại thực từ dùng để chỉ hoạt động (hành động và trạng thái) của sự
vật, hiện tƣợng.
1.2.2. Về hình thức:
a. Về khả năng kết hợp:
* Động từ có khả năng kết hợp với các phó từ để biểu thị các ý nghĩa
quan hệ có tính tình thái giữa quá trình với cách thức và quá trình với các
đặc trƣng vận động của quá trình trong không gian, thời gian và trong hiện
thực. Cụ thể là:
- Động từ có khả năng kết hợp về phía trƣớc với các phó từ thời thể
nhƣ: đã, sẽ, đang hãy, đừng, chớ…
Ví dụ: đã ăn, đang học,hãy chờ, đừng đi,….
- Động từ có khả năng kết hợp về phía sau với các thành tố phụ khác
để tạo thành nhóm động từ.
+ Các thành tố phụ chỉ phƣơng hƣớng: ra, vào,lên, xuống…
Ví dụ: đi lên, trèo xuống…
+ Các thành tố phụ chỉ kết quả: xong, rồi…
Ví dụ : ăn rồi, làm xong
* Động từ kết hợp với các thực từ để phản ánh các quan hệ trong nội
dung vận động của quá trình.
b. Về chức năng cú pháp:
Động từ có khả năng giữ nhiều chức năng ngữ pháp khác nhau
nhƣng chức năng ngữ pháp quan trọng nhất của động từ là làm vị ngữ của
câu. Theo thống kê của Nguyễn Kim Thản, những câu có vị ngữ làm động
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21 Học viên: Gia Thị Đậm
từ chiếm khoảng 88%. Ngoài ra, động từ còn tham gia đảm nhiệm nhiều
chức năng khác trong câu nhƣ: bổ ngữ, chủ ngữ, định ngữ, trạng ngữ
“về
2
” là quan hệ từ, “cƣa
1
” là danh từ, còn “cƣa
2
” là động từ.
Khi phân định động từ, trƣớc hết ta xác định đƣợc một nhóm lớn bao
gồm những từ có đầy đủ các đặc điểm nêu trên đây của động từ. Thuộc nhóm
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22 Học viên: Gia Thị Đậm
này là những từ kiểu nhƣ: đi, chạy, ăn, đọc, viết, trao…có thể gọi những từ
thuộc nhóm này là những động từ điển hình hay những động từ - thực từ tạo
nên khu vực trung tâm của từ loại động từ.
Bên cạnh các động từ - thực từ còn có một nhóm không lớn bao gồm
những từ có không đầy đủ các đặc điểm nêu trên đây của động từ. Thuộc
nhóm này là những từ kiểu nhƣ: trở thành, trở nên, phải, bị, được,
khiến…Khác với các động từ - thực từ, những tƣ thuộc nhóm này rất trống
nghĩa từ vựng. Chúng chỉ các hoạt động trừu tƣợng, khái quát (hoạt động theo
kiểu nghĩa ngữ pháp). Chính do sự trống vắng, nghèo nàn về ý nghĩa từ vựng
mà về hình thức, các từ thuộc nhóm này chỉ có khả năng thay thế bằng từ nghi
vấn một cách hạn chế, có điều kiện. Khi trả lời các câu hỏi “làm gì”,”làm
sao” đặc trƣng cho động từ, chúng thƣờng phải kết hợp vào mình một thực từ
khác. Với những đặc điểm chỉ ra trên đây, các từ thuộc nhóm thứ hai rõ ràng
mang tính trung gian giữa động từ và hƣ từ. Ở đây, chúng tôi xếp chúng vào
động từ - ngữ pháp. Động từ ngữ pháp chính là nhóm động từ không điển
hình tạo thành khu vực biên của từ loại động từ.
Cũng cần lƣu ý rằng những đặc điểm nêu trên đây của động từ là thuộc
khả năng thay thế bằng từ nghi vấn (làm gì, làm sao) và có khả năng độc
lập làm vị ngữ (ví dụ: đi, chạy, viết, đọc ). Động từ ngữ pháp là những
động từ không có ý nghĩa cụ thể, chân thực, không có khả năng thay thế
bằng từ nghi vấn (khả năng độc lập trả lời câu hỏi), không có khả năng độc
lập giữ vai trò vị ngữ (Ví dụ: có thể, trở nên, bị, được ). Động từ ngữ pháp
thƣờng đƣợc chia thành động từ tình thái (có thể, nên ) và động từ quan hệ
(là, khiến ).
2.1.1.2. Các động từ - thực từ được chia tiếp thành động từ chủ động và
động t ừ không chủ động.
Động từ chủ động là những động từ chỉ hoạt động có chủ ý, tức là
hoạt động xuất phát từ chủ thể và chủ thể có thể điều khiển được theo ý
Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24 Học viên: Gia Thị Đậm
muốn của mình (ví dụ:đi, ăn, chạy ). Động từ không chủ động chỉ hoạt
động không xuất phát từ của chủ thể và chủ thể không điều khiển đƣợc
hành động theo ý muốn của mình (ví dụ: tan, cháy, đổ, vỡ ). Tiếp tục phân
chia các động từ chủ động ta có hai nhóm động từ: động từ tác động (biểu
thị những hoạt động mà kết quả những hoạt động đó làm cho đối tƣợng bị
thay đổi về phƣơng diện nào đó (nảy sinh hoặc tiêu biến): ăn, đập, phá và
động từ không tác động (không có những đặc điểm nhƣ động từ tác động):
đi, bơi, chạy Trong động từ tác động có hai diện đối lập: động từ tạo tác
(chỉ những hoạt động tạo ra đối tƣợng: đào, nặn ) và động từ chuyển tác
(chỉ những hoạt động làm chuyển biến đối tƣợng về mặt nào đó: đánh, đốt
,phá ). Còn động từ không tác động cũng đƣợc chia tiếp thành: động từ
chỉ hoạt động chuyển động (đi, chạy ) và động từ chỉ hoạt động không
chuyển động (ngủ, nghĩ ). Nhƣ vậy căn cứ vào ý nghĩa và hình thức ngữ
pháp, ta có thể chia động từ thành nhiều tiểu loại với những dấu hiệu hình
thức đặc trƣng của từng tiểu loại.