Tìm hiểu các hình thức thể hiện ý nghĩa cầu khiến trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học (trên cơ sở ngữ liệu là các bài đọc từ lớp 1 đến lớp 5)_Khóa luận tốt nghiệp khoa GDTH - Pdf 26

Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Sống trong xã hội, con ngời luôn cần giao tiếp với nhau. Đó là một nhu
cầu tất yếu. Không ai có thể sống cô độc, lẻ loi một mình mà không cần có sự
giao tiếp với ngời khác.
Có nhiều nhân tố giao tiếp, nhng hoạt động giao tiếp cũng nh mọi hoạt
động khác của con ngời, luôn luôn nhằm vào mục đích nhất định. Đó là mục
đích giao tiếp. Giao tiếp nhằm mục đích thể hiện những hiểu biết,những nhận
thức của ngời nói (viết) với ngời nghe (đọc); giao tiếp nhằm mục đích bộc lộ
tình cảm, thái độ của con ngời; giao tiếp nhằm mục đích tác động Mỗi hoat
động giao tiếp có thể chỉ nhằm một mục đích nhất định, cũng có thể nhằm
nhiều mục đích khác nhau. Những điều này luôn tác động chi phối, chế định
đối với các yếu tố ngôn ngữ, trong đó có câu. Trong các kiểu câu phân loại
theo mục đích nói thì câu cầu khiến có tầm quan trọng rất lớn trong quá trình
giao tiếp. Bởi vì phạm vi bao quát của sự cầu khiến là rất rộng, nó có thể xuất
hiện trong ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, trong ngôn ngữ văn học nghệ thuật và
ngay cả ngôn ngữ khoa học với tần suất sử dụng rất lớn.
Đối với môn Tiếng Việt ở Tiểu học, câu cầu khiến có mặt trong nhiều
văn bản, thuộc các tác giả khác nhau, đợc viết theo nhiều thể loại khác nhau.
Vì vậy việc nghiên cứu lấy đối tợng là các hình thức thể hiện ý nghĩa cầu
khiến trong các bài đọc từ lớp 1 đến lớp 5 sẽ khách quan và có độ chính xác
cao hơn.
Chính vì những lí do trên, tôi muốn thông qua đề tài Tỡm hiu cỏc
hỡnh thc th hin ý ngha cu khin trong sỏch giỏo khoa Ting Vit
Tiu hc (trờn c s ng liu l cỏc bi c t lp 1 n lp 5) nhằm góp
phần nhỏ vào việc tạo hiệu quả cao khi thể hiện ý nghĩa cầu khiến nói riêng và
Nguyễn Thị Phơng - K30 B -GDTH
1
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
việc tạo câu khi giao tiếp nói chung. Bên cạnh đó, tôi mong muốn đề tài

cũng bàn đến khá kỹ nhng họ đều cho rằng ngữ điệu trong tiếng Việt là một
hiện tợng không dễ dàng xác định.
Nghiên cứu về ngữ pháp Tiếng Việt, tập 2 của Nguyễn Kim Thản, tác giả
có điều kiện đi sâu tìm hiểu về câu khiến. Bên cạnh việc giới thiệu về câu
khiến, các phơng thức biểu hiện câu khiến thì tác giả còn giới thiệu về các loại
câu khiến. Theo ông, xét theo tính chất thì có ba loại câu khiến. Tuy nhiên, sự
phân loại chỉ dừng lại ở việc nêu tên mà cha có phân tích, tìm hiểu.
Ngữ pháp Tiếng Việt của Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, 1983, là
cuốn sách viết khá tỉ mỉ về các kiểu câu xét theo cấu tạo ngữ pháp. Nhng so
với các cuốn sách khác khi viết về câu phân loại theo mục đích nói - câu khiến
thì lại có phần sơ sài hơn. Các tác giả chỉ khái quát về 4 dấu hiệu thể hiện ý
nghĩa cầu khiến, cha có sự phân tích đi sâu. Cuốn sách chỉ dừng lại ở việc nêu
tên và đa ra ví dụ về các hình thức đó.
Cùng với việc bàn về câu khiến thì cuốn Câu Tiếng Việt Nguyễn Thị L-
ơng lại trình bày khá rõ ràng và chi tiết. Tác giả chia ra làm 3 mục nhỏ là khái
niệm, hình thức, các dấu hiệu nhận diện câu khiến. Cuốn sách bao quát những
trờng hợp về câu khiến.Với từng dấu hiệu, tác giả tổng hợp và phân tích thành
2 loại là câu cầu khiến tờng minh và câu cầu khiến nguyên cấp. Từ đó làm rõ,
phân tích, so sánh trên các ví dụ, chỉ ra đợc điều kiện cụ thể để biểu thị các
hành vi cầu khiến. Tuy nhiên, ở đây việc phân loại câu khiến cha đợc nói đến.
Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2 của Diệp Quang Ban khi xem xét đến câu
phân loại theo mục đích nói thì chủ yếu đề cập đến các kiểu câu đích thực.
Câu khiến đợc tác giả gọi là câu mệnh lệnh, đợc cấu tạo nhờ những phụ từ tạo
ý mệnh lệnh, bằng ngữ điệu mệnh lệnh. Tác giả cũng dẫn giải và phân tích t-
ơng đối nh SGK, nhng có nói thêm tất cả những câu có chứa các từ nh cấm,
mời, xinVà những trờng hợp nhìn chung không phẩi câu mệnh lệnh .Từ đó
giúp ngời đọc nhận diện đợc câu cầu khiến chính xác hơn.
Nguyễn Thị Phơng - K30 B -GDTH
3
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2

- Xử lí t liệu bằng cách phân loại,phân tích, so sánh, đa ra biểu mẫu và
nhận định.
8. Cấu trúc của khóa luận
Mở đầu
Nội dung
Chơng 1: Cơ sở lí luận
Chơng 2: Các hình thức thể hiện ý nghĩa cầu khiến trên ngữ liệu là các bài
đọc trong SGK Tiếng Việt ở Tiểu học
Kết luận
Nguyễn Thị Phơng - K30 B -GDTH
5
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Nội dung
Chơng 1: cơ sở lí luận
1. Câu và việc phân loại câu
1.1. Khái niệm câu
Trong lịch sử ngôn ngữ học, so với các đơn vị ngôn ngữ khác nh âm vị,
hình vị, từ, cụm từ, văn bản thì câu là đơn vị đợc nghiên sớm. Câu có nhiều
phơng diện : hình thức, nội dung, chức năng, phạm vi sử dụng. Một định nghĩa
về câu khó có thể gói đợc tất cả những đặc điểm về câu mà vẫn đảm bảo tính
ngắn gọn - khái quát. Hơn nữa, cách nhìn nhận về câu ở mỗi thời kì, với mỗi
trờng phái, mỗi cá nhân cũng không giống nhau. Gần đây, theo các nhà ngôn
ngữ học một định nghĩa về câu cần nêu đợc các vấn đề sau:
Thứ nhất : Câu không phải là đơn vị có sẵn của ngôn ngữ mà là đơn vị đ-
ợc tạo ra trong quá trình giao tiếp nhờ sự kết hợp những đơn vị có sẵn theo
một quy tắc nhất định.Về mặt này câu khác với âm vị, hình vị, từ và cụm từ cố
định, giống với cum từ tự do, đoạn văn và văn bản.
Thứ hai: Câu có nội dung là một t tởng tơng đối trọn vẹn và có thể kèm
theo thái độ của ngời nói hay nội dung là thái độ, tình cảm của ngời nói.
Thứ ba : Chức năng của câu là thông báo, giúp cho việc hình thành và

Về việc phân loại câu, cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Có thể nói
rằng có những cách phân loại câu khác nhau là tuỳ theo khuynh hớng trờng
phái. Nhng tựu chung lại các tác giả đều thống nhất có hai cách phân loại câu
dựa trên cấu tạo ngữ pháp và dựa trên mục đích nói.
1.2.1. Câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp
Đây là một vấn đề đợc đông đảo các nhà ngôn ngữ quan tâm.
Nguyễn Kim Thản trong cuốn Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt cho
rằng cách phân loại này cũng có những tiêu chuẩn khác nhau. Theo ông, có
thể phân loại dựa vào cấu tạo của vị ngữ. Theo đó có hai loại câu là câu thể từ
Nguyễn Thị Phơng - K30 B -GDTH
7
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
và câu vị từ. Câu thể từ trong đó xác định một sự vật. Câu vị từ trong đó xác
định một quá trình.
Lại có thể phân loại câu theo tiêu chuẩn kết cấu của câu. Theo đó, ta có
câu song phần và đơn phần.
Ngời ta lại có thể căn cứ vào số lợng từ tố tờng thuật mà chia ra câu đơn
giản và câu phức hợp.
Hoàng Trọng Phiến trong cuốn Ngữ pháp Tiếng Việt cho rằng theo cấu
tạo ngữ pháp, câu gồm có câu đơn và câu ghép.
Nh vậy, sự phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp dựa vào những tiêu chuẩn
rất khác nhau. Tổng hợp từ nhiều ý kiến của nhiều nhà ngôn ngữ ngời viết xin
đa ra cách nhìn thống nhất nh sau : cấu tạo ngữ pháp của câu đợc xem xét trên
cơ sở câu đơn hai thành phần. Từ đó câu đợc phân loại thành câu đơn (gồm
câu đơn hai thành phần và câu đặc biệt), câu phức và câu ghép.
1.2.2 . Câu phân loại theo mục đích nói
Cũng nh việc phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp, phân loại câu theo
mục đích nói đợc các tác giả đa ra nhiều quan niệm khác nhau.
Nguyễn Kim Thản cho rằng, chia theo mục đích nói sẽ có bốn kiểu câu:
câu tờng thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán [4, 148]. Theo tác

cách cấu tạo đặc thù phân biệt đợc với những kiểu câu khác. Vì vậy, nhấn
chìm kiểu câu cảm thán vào trong những kiểu câu khác là làm nghèo đi bức
tranh miêu tả ngữ pháp tiếng Việt, là không công bằng trong cách đối xử với
nó [8, 225].
Nh vậy, qua ý kiến của Diệp Quang Ban, chúng ta thấy cần thiết phải
hiểu câu cảm thán là một kiểu câu phân loại theo mục đích nói. Nó cũng có
vai trò nhất định trong ngữ pháp tiếng Việt
Phân loại câu theo mục đích nói là cách nhìn có tính chất truyền thống về
câu trong hoạt động của nó. Việc phân chia này là nhằm thực hiện các yêu cầu
về giáo học pháp, yêu cầu về thực thể ngôn ngữ, nhằm phân biệt hình thức ngữ
pháp và ý nghĩa tiềm tàng của một phát ngôn. Tuy nhiên vấn đề ở đây là hoạt
Nguyễn Thị Phơng - K30 B -GDTH
9
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
động của câu còn hạn chế ở cái thế câu cô lập, cha đặt nó vào đời sống hiện
thực của nó với những câu lân cận hay trong tình huống nói. Đồng thời câu ở
đây đợc phân loại có tính đến các dấu hiệu hình thức chứa trong chúng. Vậy
phân loại câu theo mục đích nói không chỉ là cách phân loại theo công dụng
đơn thuần, mà là cách phân loại theo công dụng và ngữ pháp.
Câu phân loại theo mục đích nói là hiện tợng nằm trên đờng biên giới của
câu xét theo cấu tạo hình thức và câu xét ở phơng diện sử dụng. Vì vậy sự
phân loại này phải cùng một lúc sử dụng hai loại tiêu chuẩn :
- Tiêu chuẩn về mục đích sử dụng câu.
- Tiêu chuẩn về hình thức, tức là phơng tiện ngôn ngữ dùng để cấu
tạo câu.
Vận dụng hai mặt này vào việc xem xét cách sử dụng các kiểu câu phân
loại theo mục đích nói cần phân biệt hai trờng hợp lớn sau :
* Câu đích thực (còn gọi là câu nguyên cấp, câu chính danh) là trờng hợp
câu có hình thức cấu tạo của một kiểu câu phân loại theo mục đích nào đó và
đợc dùng phù hợp với mục đích nói vốn có ở nó. Chẳng hạn dùng câu tờng

Ví dụ : A và B đang cùng làm việc. Bỗng A nói :
- Bây giờ đã gần 12 giờ (tra) rồi kìa.
Câu của A có hình thức là câu kể nhằm thông báo với B rằng bây giờ đã
muộn rồi. Tuy nhiên, câu nói đó không đơn giản chỉ thông báo mà điều có
thể suy đoán khác ở đây là A muốn đề nghị ngừng làm việc. Vậy câu nói của
A là câu không đích thực.
Câu không đích thực đợc sử dụng khi không muốn tờng minh mục đích
nói của mình qua câu chữ vì những lí do khác nhau, để :
- Thể hiện tính lịch sự.
- Không muốn chịu trách nhiệm về lời nói của mình.
- Nói cạnh khoé, châm chọc, xỏ xiên ai đó.
Lấy hình thức làm cơ sở phân loại và lấy mục đích nói làm tên gọi, câu
xét theo mục đích nói đợc chia thành 4 kiểu câu sau đây :
Nguyễn Thị Phơng - K30 B -GDTH
11
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
- Câu kể (câu tờng thuật)
- Câu hỏi (câu nghi vấn)
- Câu cầu khiến (câu mệnh lệnh)
- Câu cảm thán
Câu phân loại theo mục đích nói có thể đợc diễn đạt dới hình thức câu
đơn, câu ghép, câu phức. Đối với đề tài này, ngời viết xin lấy các ví dụ trong
SGK Tiếng Việt Tiểu học làm ngữ liệu chủ yếu.
2. Câu cầu khiến :
2.1. Khái niệm câu cầu khiến
Câu cầu khiến là kiểu câu chia theo mục đích nói. Tuy không đa dạng nh
việc định nghĩa câu nhng các tác giả cũng có những cách nói khác nhau về
câu cầu khiến :
Nguyễn Kim Thản trong cuốn Ngiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt định
nghĩa câu cầu khiến nhằm mục đích nói lên ý chí của ngời nói và đòi hỏi,

Ví dụ : Đi đi ! (khẳng định)
Đừng đi ! (phủ định)
Đi nào ! (khẳng định)
Chớ đi nào (phủ định)
Nh vậy, ta thấy câu cầu khiến cũng có đầy đủ những đặc điểm của một
kiểu câu phân loại theo mục đích nói và nó có vai trò rất quan trọng trong giao
tiếp. Vậy có những hình thức nào để thể hiện ý nghĩa cầu khiến chúng ta sẽ
tìm hiểu ở phần sau.
2.2. Phân loại câu cầu khiến
Vì câu cầu khiến là kiểu câu phân loại theo mục đích nói nên nó cũng
cần đợc xem xét và phân biệt hai trờng hợp là câu đích thực và không đích
thực. Tuy nhiên, dù là loại câu nào thì phơng tiện để thực hiện ý nghĩa cầu
khiến vẫn là câu và đều nhằm mục đích tác động, điều khiển Phạm vi bao
Nguyễn Thị Phơng - K30 B -GDTH
13
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
quát của sự điều khiển rất rộng nhng khái quát lại chúng ta có thể chia thành 3
loại câu cầu khiến nh sau :
- Câu mời mọc, yêu cầu
- Câu mệnh lệnh, cấm đoán
- Câu kêu gọi, chúc tụng
Tơng ứng với 3 loại câu đó , sẽ có những hình thức thể hiện chung và
riêng khác nhau. Sau đây, chúng ta sẽ phân tích và làm rõ điều đó.
2.2.1. Câu mời mọc, yêu cầu
Những câu cầu khiến loại này nhằm tỏ ý mong muốn, yêu cầu ngời khác
làm việc gì đó một cách lịch sự, trân trọng.
2.2.1.1. Câu mời mọc, yêu cầu đích thực
Câu loại này có hình thức thể hiện là các phụ từ kèm theo :
- Phụ từ mệnh lệnh đi, thôi, nào, đi thôi, đi nào ở cuối câu.
- Phụ từ hãy ở cuối câu.

phụ từ hãy thờng thể hiện ý yêu cầu có tính chất thuyết phục hơn. Phụ từ
hãy có ý khẳng định và sắc thái trung hoà.
Ví dụ : Em hãy cố gắng nhé !
Câu nói trên, ngời nói muốn động viên ngời nghe hãy cố gắng hơn nữa.
* Câu mời mọc, yêu cầu sử dụng các động từ ngữ vi cầu khiến :
Viết về vấn đề này, tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp tiếng
Việt cho rằng tất cả những câu có chứa các từ nh cấm, mời, xin, đề nghị, cho
phép, yêu cầu nói lên ý muốn của ng ời nói, hoặc của ngôi nhân xng thứ ba,
hoặc của tình huống, không phải là câu mệnh lệnh đích thực. Nhìn chung đó
là những câu tờng thuật với ý nghĩa từ vựng mời mọc, yêu cầu, mong muốn,
cấm đoán Nếu trong tr ờng hợp nào chúng đợc dùng với ý nghĩa mệnh lệnh
thì đó là kiểu câu lâm thời. Tuy nhiên, những câu chứa các từ nêu trên vẫn có
thể là câu mệnh lệnh đích thực trong trờng hợp chính chúng là nội dung của
lệnhdo chủ thể nói đa ra cho ngời nghe (thuộc ngôi nhân xng thứ hai).
Ví dụ : Xin mời đồng chí vào !
Nguyễn Thị Phơng - K30 B -GDTH
15
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Yêu cầu chị giúp tôi việc này !
* Câu mời mọc, yêu cầu đợc nhận diện nhờ ngữ điệu :
Theo Từ điển tiếng Việt [10, 655], ngữ điệu là những biến đổi về độ
cao của giọng khi nói, khi đọc, có liên quan đến cả một ngữ đoạn và có thể
dùng để biểu thị một số ý nghĩa bổ sung nh ý nghĩa cầu khiến.
Ví dụ : Bỗng có tiếng cô giáo :
- Bác nhẹ tay kẻo chau đau.
(Ngời mẹ hiền, TV2, tập 1, tr 63)
Ngữ điệu câu câu cầu khiến có nhiều thang độ và mang những ý nghĩa
tinh tế khác nhau. Nét chung của nó là lên giọng ở cuối câu và kéo dài từ
mang nội dung chính.
2.2.1.2. Câu mời mọc, yêu cầu không đích thực

Ví dụ : a) Cô giáo khuyên tôi nên chăm học.
b) Tôi đã khuyên Hải nên chăm học.
c) Tôi khuyên bạn ấy nên chăm học.
ở ví dụ a) chủ ngữ là cô giáo ở ngôi thứ ba, ở ví dụ b) động từ đợc
dùng ở thời quá khứ, ở phần c) ngời nghe ở ngôi tứ ba. Chính vì những lí do
đó mà các câu nên trên chỉ đợc coi là câu tờng những câu tờng thuật đơn
thuần, không thể hiện đợc ý nghĩa cầu khiến. Động từ khuyên không đợc
dùng đúng hiệu lực ngữ vi.
Theo t liệu thống kê, tiếng Việt có thể sử dụng 32 động từ ngữ vi cầu
khiến làm vị từ trung tâm cho các câu cầu khiến. Đó là các động từ : yêu cầu,
ra lệnh, hạ lệnh, lệnh, chỉ thị, đề nghị, kiến nghị, chỉ định, phân công, phái,
cấm, nghiêm cấm, buộc, bắt, cấm chỉ, can, bảo, cử, khuyên, mời, xin, cầu, cầu
xin, cầu mong, năn nỉ, nài nỉ, nài xin, van, van nài, nhờ.
* Câu mời mọc, yêu cầu đợc nhận diện nhờ tình huống
Để nhận diện đợc ý nghĩa mời mọc yêu cầu trong trờng hợp này phải dựa
vào tình huống sự việc dẫn tới câu nói đó. Chúng có hình thức của kiểu câu
hỏi, câu kể, câu trần thuật, hoặc câu cảm.
Nguyễn Thị Phơng - K30 B -GDTH
17
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
- Dùng câu hỏi để nêu đề nghị :
Ví dụ : Trên xe lửa, một cô gái đang ngồi lật xem cuốn từ điển mới mua.
Chàng trai ngồi bên nhìn chăm chú gần nh thô bạo. Cô gái không bằng lòng
nhng vẫn nhẹ nhàng :
- Xin lỗi, anh có biết lịch sự là thế nào không?
- Để tôi tra cho. Có thế mà không hỏi ngay.
Câu của cô gái có hình thức là câu hỏi, nhng mục đích là đề nghị : anh
nên lịch sự hơn, không nên nhìn tôi nh vậy.
2.2.2. Câu mệnh lệnh, cấm đoán
Nội dung của loại câu này là những mệnh lệnh hoặc ngăn cấm một việc

Từ các dấu hiệu đó giúp ta thấy đợc câu trên có mục đích nhằm thúc
giục, yêu cầu một cách thân mật.
b) Cút đi !
Câu này không có chủ ngữ nhờ vào ngữ cảnh và ngữ điệu ta có thể hiểu
câu nói trên có mục đích nhằm ra lệnh ở mức độ quyết liệt
* Câu mênh lệnh, cấm đoán sử dụng động từ cấm : cấm là động từ
ngữ vi cầu khiến có ý nghĩa ngăn cấm. Những câu chứa từ đó chỉ có thể là câu
mệnh lệnh cấm đoán đích thực khi chính nó là nội dung của lệnh do chủ thể
nói đa ra cho ngời nghe.
Ví dụ : Cấm dừng xe ở đây !
* Câu mệnh lệnh, cấm đoán sử dụng hình thức ngữ điệu :
Dựa vào ngữ điệu chúng ta cũng có thể nhận ra đợc ý nghĩa mệnh lệnh,
câm đoán của câu.
Ví dụ : Im!
Xung phong!
2.2.2.2. Câu mệnh lệnh cấm đoán không đích thực
* Sử dụng động từ cấm : Cũng nh các động từ ngữ vi cầu khiến khác,
câu chứa động từ này đợc coi là câu mệnh lệnh không đích thực khi có những
điều kiên đã nên ở trên.
Nguyễn Thị Phơng - K30 B -GDTH
19
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Ví dụ : Tôi cấm anh nói.
Ngời nói ở ngôi thứ nhất, ngời nghe ở ngôi thứ hai, động từ cấm đợc sử
dụng đúng hiệu lực ngữ vi. Câu nói trên nhằm mục đích cấm đoán hành động
nói.
* Câu mệnh lệnh, cấm đoán nhận diện nhờ tình huống
Ví dụ dùng câu hỏi để ra lệnh :
Cai lệ ngồi phắt trở dậy, gân cổ ra thét :
- Chỗ mày kêu khóc ở đây à, con mẹ kia ?

Trong phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học, học sinh đã đợc cung cấp
các kiến thức về câu nh câu đơn, câu ghép, câu kể, câu hỏi, câu cầu khiến, câu
cảm. Đối với câu cầu khiến, các em đợc học ở SGK Tiếng Việt 4, tập 2 qua ba
tiết :
Tiết 1 : Câu khiến
Tiết 2 : Cách đặt câu khiến
Tiết 3 : Giữ phép lịch sự khi đa ra yêu cầu, đề nghị
Trong đó, SGK định nghĩa về câu cầu khiến nh sau : câu khiến dùng để
nêu yêu cầu, đề nghị, mong muốn của ng ời nói, ngời viết với ngời khác. Khi
viết, cuối câu khiến có dấu chấm than (!) hoặc dấu chấm.
Muốn đặt câu khiến, SGK đa ra bốn cách nh sau :
(6) Thêm từ hãy hoặc đừng, chớ, nên, phải vào tr ớc động từ.
(7) Thêm từ lên hoặc đi, thôi, nào vào cuối câu.
(8) Thêm từ đề nghị hoặc xin, mong vào đầu câu.
(9) Dùng giọng điệu phù hợp với câu khiến.
Dựa vào bốn cách trên học sinh đặt đợc câu cầu khiến. Vì vậy, chúng ta
cũng có thể coi đó là các hình thức thể hiện ý nghĩa cầu khiến. Và với các
hình thức này học sinh đợc củng cố qua các dạng bài tập nh :
- Chuyển các câu kể đã cho thành các câu khiến.
- Đặt câu khiến phù hợp với tình huống đã cho.
- Đặt câu khiến theo yêu cầu.
- Nêu tình huống có thể dùng các câu khiến vừa đặt.
Một trong những mục tiêu của giáo dục là hình thành và rèn luyện cho
học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Vệt trong học tập và giao tiếp nên ngoài
việc giúp các em biết cách đặt câu, SGK còn cung cấp thêm một tiết học nhằm
giúp các em biết giữ phép lịch sự khi đa ra yêu cầu, đề nghị. Trong đó, SGK
nhấn mạnh khi nêu yêu cầu, đề nghị, phải giữ phép lịch sự. Muốn cho lời yêu
Nguyễn Thị Phơng - K30 B -GDTH
22
Khoá luận tốt nghiệp Trờng ĐHSP Hà Nội 2

Qua bài học này, học sinh biết một số cách để giữ lịch sự khi yêu cầu, đề nghị,
nhng cũng là những cách để giữ lịch sự nói chung trong nói năng [9, 155].
Điểm qua nh vậy, ta có thể thấy kiến thức về câu cầu khiến đợc cung cấp
trong SGK là rất đầy đủ, phù hợp với trình độ và lứa tuổi. Chính vì vậy, các
em có điều kiện tìm hiểu sâu hơn tới từng câu cầu khiến trong các bài đọc,
cũng nh trong giao tiếp. Qua đó, sự tìm tòi, phát hiện ở các em cũng đợc bộ lộ
và phát triển.
2. Các hình thức thể hiện ý nghĩa cầu khiến
Qua thống kê phân tích các hình thức thể hiện ý nghĩa cầu khiến trong
các bài đọc ở SGK Tiếng Việt Tiểu học chúng tôi bớc đầu thu thập đợc những
số liệu sau :
Tổng số câu Câu mời mọc,
yêu cầu
Câu mệnh lệnh,
cấm đoán
Câu kêu gọi, chúc
tụng
173
100%
105
60,7%
66
38,1%
2
1,2%
Qua bảng số liệu ta thấy tổng số câu cầu khiến trong các bài đọc ở Tiểu
học không nhiều, chỉ có 173 câu đợc phân bố từ lớp 1 đến lớp 5. Trong đó
nhiều nhất là loại câu mời mọc, yêu cầu (105/173 câu) chiếm 60,7%, tiếp đến
là câu mệnh lệnh cấm đoán (66/173) chiếm 38,1%, ít nhất là loại câu kêu gọi,
chúc tụng (2/173) chiếm 1,2%. Sau đây chúng ta đi phân tích cụ thể những số

17,7%

Qua thống kê ta thấy lớp 1, lớp 4 không có câu mời mọc, yêu cầu nào ;
lớp 3 nhiều nhất có 9/17 câu chiếm 52,9% ; lớp 2 có 5/17 câu chiếm 29,4% ;
lớp 5 có 3/17 câu chiếm 17,7%. Trong các phụ từ, phụ từ đi có mặt ở 12/17
câu, phụ từ thôi 2/17 câu, phụ từ nào là 3/17 câu. Không gặp các tổ hợp
kiểu đi thôi, đi nào
- Phụ từ đi : so với các phụ từ mệnh lệnh vừa nêu thì phụ từ đi đợc sử
dụng nhiều nhất. Nét nghĩa chung của những câu này là thể hiện sự mời mọc,
yêu cầu.
Ví dụ : Cậu có trăm trí khôn nghĩ kế gì đi !
(Một trí khôn hơn trăm trí khôn. TV2, tập 2, tr 31)
Hình thức là câu cầu khiến, mục đích là yêu cầu bạn nghĩ tìm ra kế thoát
thân.
Tuy nhiên mỗi câu lại có những nét nghĩa khác nhau.
+ Hàm ý kêu gọi sự đồng tình :
Ví dụ :
a) Ta lại thân nhau nh trớc đi !
(Ai có lỗi, TV3, tập 1, tr 12)
Câu trên nhằm mục đích đề nghị một cách thân mật : bạn và mình hãy
thân nhau nh trớc.
b) Bọn mình ra xem đi !
Nguyễn Thị Phơng - K30 B -GDTH
25

Trích đoạn Câu mệnh lệnh, cấm đoán không đích thực Câu kêu gọi, chúc tụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status