So sánh phương thức thể hiện ý nghĩa của các thành ngữ anh việt sử dụng các yếu tố chỉ cơ thể con người (giới hạn ở kh - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TÔN VÂN TRANG

SO SÁNH PHƢƠNG THỨC THỂ HIỆN Ý
NGHĨA CỦA CÁC THÀNH NGỮ ANH –
VIỆT SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ CHỈ CƠ THỂ
CON NGƢỜI (GIỚI HẠN Ở KHUÔN MẶT)

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ

Hà Nội - 2003


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TÔN VÂN TRANG

SO SÁNH PHƢƠNG THỨC THỂ HIỆN Ý NGHĨA
CỦA CÁC THÀNH NGỮ ANH – VIỆT SỬ DỤNG
CÁC YẾU TỐ CHỈ CƠ THỂ CON NGƢỜI (GIỚI
HẠN Ở KHUÔN MẶT)
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 50408


Phương pháp so sánh đối chiếu

1.4.

So sánh phương thức thể hiện ý nghĩa của thành ngữ

1.5.

Tiểu kết chương 1

CHƢƠNG 2: THÀNH NGỮ SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ CHỈ CƠ THỂ
CON NGƢỜI (GIỚI HẠN Ở KHUÔN MẶT) TRONG TIẾNG ANH VÀ
TIẾNG VIỆT
2.1.

Khái niệm cơ bản về thành ngữ

2.2.

Vắn tắt vài nét về tình hình nghiên cứu thành ngữ trong Tiếng Anh
và Tiếng Việt.

2.3.

Xác định thành ngữ sử dụng các yếu tố chỉ cơ thể con người (giới
hạn ở khuôn mặt) (TNBPCTKM ) và tiêu chí phân loại TNBPCTKM

2.4.


Tiểu kết chương 3

CHƢƠNG 4: MỘT VÀI SUY NGHĨ TRONG VIỆC SỬ DỤNG THÀNH
NGỮ SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ CHỈ CƠ THỂ CON NGƢỜI (GIỚI
HẠN Ở KHUÔN MẶT) TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
4.1.

Ứng dụng trong khi chuyển dịch thành ngữ từ Tiếng Việt sang Tiếng
Anh.

4.2.

Ứng dụng trong giảng dạy

4.3.

Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
PHẦN PHỤ LỤC


5

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY VÀ VIẾT TẮT
A. Quy ước trình bày ví dụ bằng hai thứ tiếng:
1. Các thành ngữ dẫn chứng đều được sắp xếp theo trật tự: tiếng Anh – tiếng
Việt. Phần trực dịch từng từ được để trong ngoặc kép sau dấu ngoặc đơn của
các thành ngữ tiếng Anh. Nghĩa của thành ngữ được để dưới dạng in nghiêng

Bộ phận cơ thể con người


6

NN:

Ngôn ngữ

TA:

Tiếng Anh

TV:

Tiếng Việt

NNN:

Ngôn ngữ nguồn

NNĐ:

Ngôn ngữ đích

NND:

Ngôn ngữ dịch

VBĐ:


Cấu trúc của TNBPCTKM trong tiếng Anh và
tiếng Việt

Bảng 3.2

Cấu trúc của TNBPCTKM trong tiếng Anh và
tiếng Việt (tiếp theo)

Sơ đồ 3.3

Cấu trúc TNBPCTKM ở tiếng Anh và tiếng Việt

Bảng 3.3

Phân loại TNBPCTKM trên mối liên hệ giữa ngữ
nghĩa và hình ảnh trong tiếng Anh và tiếng Việt.

Bảng 3.4

Thống kê các trường hợp về mối liên hệ giữa hình
ảnh và ý nghĩa thành ngữ.

Bảng 3.5

Bảng thống kê ý nghĩa của các thành ngữ có sử
dụng các bộ phận trên khuôn mặt con người

Bảng 3.6


có. Có thể nói đây là một luận văn đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này một
cách tương đối có hệ thống trên nền của hai ngôn ngữ Anh và Việt. Việc chọn
đề tài nghiên cứu so sánh phương thức thể hiện ý nghĩa của các thành ngữ
Anh – Việt sử dụng các yếu tố chỉ cơ thể con người (giới hạn ở khuôn mặt)
xuất phát từ nhu cầu thực tiễn học tập và giảng dạy ở các trường đại học
chuyên ngữ.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.


9

Mục đích của luận văn là mô tả sự giống nhau và khác biệt của
TNBPCTKM trong các thứ tiếng Anh và tiếng Việt trên các bình diện ngữ
nghĩa, cấu trúc, phong cách.
Từ đó, luận văn phải thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản như sau:
- Khảo sát và đối chiếu TNBPCTKM Anh, Việt trong ngữ cảnh.
- Đưa ra các tiêu chí phân loại, các nhận xét khách quan về phương thức sử
dụng TNBPCTKM trong Tiếng Anh và Tiếng Việt để có thể làm rõ đặc trưng
dân tộc về tư duy của người Anh và người Việt trong phạm vi sử dụng
TNBPCTKM.
- Đưa ra các chỉ dẫn trong sử dụng TN các thứ tiếng.
3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là TNBPCTKM của tiếng Anh và
tiếng Việt và phương thức thể hiện ý nghĩa của các TNBPCTKM của Tiếng
Anh và tiếng Việt. Đây là những TN thông dụng trong cuộc sống hàng ngày
của Anh hoặc Bắc Mỹ, được dùng phổ biến trong các sách học TA viết cho
người nước ngoài, trong từ điển TN tiếng Anh và tiếng Việt.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào TNBPCTKM trong các
thứ tiếng Anh và tiếng Việt. Về tư liệu khảo sát luận văn chỉ giới hạn tài liệu
nghiên cứu trong phạm vi những TN được coi là thông dụng (theo COBUILD

Mục đích cuối cùng của luận văn là tìm ra những đặc điểm tương đồng và
dị biệt của TN Tiếng Anh và tiếng Việt và đưa ra những chỉ dẫn ngôn ngữ
học, đất nước và văn hoá đối với những người sử dụng các thứ tiếng trên.
5. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn sẽ đóng góp một phần cho việc giảng dạy và học tập ngoại
ngữ ở các trường đại học chuyên ngữ.
Mặc dù nghiên cứu so sánh đối chiếu về thành ngữ tiếng Anh và tiếng
Việt gần đây đã được quan tâm, và đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên
sâu về TN, song cho đến nay chưa có nghiên cứu so sánh phương thức thể
hiện ý nghĩa của TNBPCTKM trong tiếng Anh và tiếng Việt.


11

Thông qua việc xác định nét tương đồng và dị biệt giữa hai
TNBPCTKM ở tiếng Anh và tiếng Việt, luận văn này có thể đóng góp một
phần cho việc giảng dạy và học tập ở các trường đại học chuyên ngữ có hiệu
quả hơn, và đóng góp một phần không nhỏ trong việc tìm hiểu văn hoá, đất
nước, con người của hai ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng Anh thông qua việc
nghiên cứu TNBPCTKM.
Như vậy, luận văn có ý nghĩa thực tế thực sự. Kết quả nghiên cứu cũng
như ngữ liệu của luận văn có thể được áp dụng cho quá trình giảng dạy trong
các trường chuyên ngữ hoặc được sử dụng như tài liệu tham khảo cho công
tác giảng dạy và dịch thuật TN.
6. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 100 trang chính. Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận
văn bao gồm 4 chương:
Chƣơng 1 Một số tiền đề lý thuyết phục vụ cho luận văn;
Chƣơng 2 Thành ngữ sử dụng các yếu tố chỉ cơ thể con người (giới hạn ở
khuôn mặt) trong tiếng Anh và tiếng Việt;

ngữ qua đối chiếu” rằng: “Ngôn ngữ học đối chiếu ra đời từ kinh nghiệm dạy
tiếng. Mỗi người học và dạy ngoại ngữ dễ dàng nhận ra một điều là trong
nhiều trường hợp tiếng mẹ đẻ đã cản trở không nhỏ việc hiểu và nắm thuần
thục ngoại ngữ. Vì vậy, việc tích luỹ những tri thức và kinh nghiệm sẽ giúp ta
khắc phục một cách có hiệu quả khó khăn này” [12; 41].
L.V. Secha cũng cho rằng nghiên cứu đối chiếu không chỉ giúp cho việc
học và dạy ngoại ngữ tốt hơn mà còn giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn tiếng mẹ
đẻ, vì “việc nghiên cứu đó giúp chúng ta thâm nhập vào thực chất của các quá
trình ngôn ngữ cũng như hiểu sâu hơn các quy luật điều khiển các quá trình


13

này” [24; 26]. Không còn nghi ngờ gì nữa chúng ta có thể đồng ý với nhận
định rằng: “Mặc dầu nghiên cứu đối chiếu viện dẫn cái lý do chủ yếu ở sự cần
thiết cho giáo học pháp ngoại ngữ với sự phát hiện những khác nhau cơ bản
giữa ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ của người học, chúng ta không thể không tính
đến tầm quan trọng của việc phân tích đối chiếu như một phương thức đánh
giá các định đề cũng như những đòi hỏi của chính lý luận ngôn ngữ học”
[41,76].
1.2. Khái niệm về thuật ngữ so sánh đối chiếu
Lịch sử phát triển của những tri thức khoa học bao giờ cũng là một quá
trình liên tục và có tính kế thừa. Nội dung của các thuật ngữ nghiên cứu đối
chiếu cũng được xác định trong quá trình phát triển biện chứng lịch sử đó. Ở
đây, trước hết cần nói đến mối quan hệ tương ứng trong cách dùng các thuật
ngữ: ngôn ngữ học so sánh, ngôn ngữ học đối chiếu.
Trong nghĩa thường dùng, hai từ so sánh và đối chiếu không khác nhau
nhiều về ý nghĩa. “So sánh” là xem xét để tìm ra những điểm giống, tương tự,
hoặc khác biệt nhau về số lượng, kích thước, phẩm chất, còn “Đối chiếu” là
so sánh hai sự vật có liên quan chặt chẽ với nhau. Đối chiếu nguyên bản với

ngữ so sánh (comparative) để chỉ ngôn ngữ học so sánh trong nghĩa rộng và
nghĩa hẹp của từ này. Dần dần về sau thuật ngữ so sánh cũng dùng để chỉ cả
nội dung đối chiếu.
Trong ngôn ngữ học Anh, những thuật ngữ truyền thống được dùng
tương đối lâu dài. Chẳng hạn, trong các công trình của Haliday, Mackinton,
Tơrêvưn và một số tác giả khác, cho mãi đến 1964, vẫn dùng thuật ngữ so
sánh – comparative. Và ngay cả Elic mãi đến 1966 vẫn dùng thuật ngữ
comparative với nghĩa đối chiếu. Cho đến gần đây thuật ngữ “ngôn ngữ học
đối chiếu” – contrastive linguistics mới được dùng với nghĩa của nó một cách
phổ biến tức là chỉ một phân ngành nghiên cứu riêng – nghiên cứu đối chiếu.
Trong phần lớn tài liệu viết bằng các tiếng châu Âu cho thấy có sự
chuyển dần phân biệt so sánh đối chiếu và ngôn ngữ học so sánh lịch sử với


15

ngôn ngữ học đối chiếu. Việc dùng phân biệt đối chiếu và tương phản thì
không thật sự thể hiện rõ ràng.
Trong thực tiễn nghiên cứu, hàng loạt các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ,
việc phân tách ra cái giống nhau và khác nhau trong đối chiếu là rất khó. Nó
được thực hiện một cách đồng thời. Xác định cái khác nhau phải biết cái
giống nhau cùng tồn tại giữa các sự vật. Song bao giờ cái khác nhau cũng dễ
nhận thấy hơn. Vấn đề là ổn định hướng mục đích của các công trình nghiên
cứu. Tìm cái chung hay cái riêng, cái phổ quát hay loại biệt, nhằm mục đích
lý luận hay thực tiễn và cả phạm vi ứng dụng nào? Trả lời các câu hỏi đó là ở
các công trình cụ thể, của các nhà nghiên cứu cụ thể. Nói chung, nghiên cứu
đối chiếu giúp ta xác định cái giống nhau và khác nhau của các ngôn ngữ về
mặt cấu trúc, hoạt động và sự phát triển của chúng.
1.3. Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp đối chiếu hay phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu có

không thừa nhận các cặp ngang nhau mà thừa nhận các cặp đối chiếu có giống
và khác nhau mà thường giống nhau hoàn toàn là rất hiếm thấy.
2. Phạm vi đối chiếu: Trong xác định phạm vi thường được phân giới theo các
nguyên tắc sau:
Phân biệt đối chiếu ngôn ngữ và đối chiếu dấu hiệu. Đối chiếu ngôn ngữ
quy định phạm vi nghiên cứu là các ngôn ngữ khác nhau. Đó là cách đối chiếu
tổng thể, đại quan hoặc bao quát chung. Việc chọn ngôn ngữ đối chiếu cũng
có hai khả năng chính. 1) Lấy một ngôn ngữ làm cơ sở chỉ đạo, ngôn ngữ này
là ngôn ngữ đối tượng cần phân tích, làm sáng tỏ. Ngôn ngữ (hay các ngôn
ngữ) còn lại sẽ là phương tiện, là điều kiện cho phép làm sáng tỏ đặc điểm
của ngôn ngữ đối tượng. Ngôn ngữ đối tượng cần được tập trung làm sáng tỏ
có thể hoặc là chỉ có ý nghĩa cho nó, hoặc là có thể có đại diện cho một số
ngôn ngữ khác. Nó là cá thể riêng biệt và cũng có thể là cái mẫu, là tiêu điểm
chú ý của việc nghiên cứu xét về nhiều mặt. Chẳng hạn trong quá khứ ở
phương tây tiếng Latinh đã làm tiêu điểm, là cơ sở để đối chiếu với tiếng


17

Pháp, tiếng Đức, các tiếng Slavơ. 2) Khả năng thứ hai là cả hai hay các ngôn
ngữ đối chiếu đều được chú ý như nhau. Trường hợp như thế gọi là phân tích
đối chiếu song ngữ.
Trong phân tích đối chiếu song song, phạm vi các vấn đề đối chiếu là ở cả
hai ngôn ngữ. Nó được chú ý đồng đều về tất cả các mặt ở ngôn ngữ đưa vào
nghiên cứu. Khả năng này được vận dụng để tìm cái chung và riêng ở các
ngôn ngữ được nhiều nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các phổ quát và ứng dụng
thực tiễn trong phiên dịch. Thường những phân tích như thế được tiến hành
đối với các ngôn ngữ cùng loại hình, các ngôn ngữ có cùng hoặc gần gũi về
ngữ hệ. Ví dụ: những nghiên cứu đối chiếu song song tiếng Bun-ga-ri và tiếng
Ba-lan, tiếng Nga và tiếng Bun-ga-ri v. v...

cấu tạo có tính cấu trúc – hệ thống. Khi đối chiếu hai hay nhiều ngôn ngữ nhất
thiết phải đối chiếu các yếu tố, các đơn vị, các cấp độ, các mặt cấu tạo nên cái
tổ chức cấu trúc – hệ thống đó. Chẳng hạn đối chiếu ngữ âm - âm vị, mặt hình
thái học v.v... Khi thực hiện phân tích đối chiếu thường bắt đầu đồng thời hai
khâu kế tiếp nhau. Phân tích đối lập (đối chiếu trong) các đơn vị, các hiện
tượng ở cả hai ngôn ngữ theo một quan điểm lý luận thống nhất và sau đó
thực hiện đối chiếu trên cơ sở các kết quả đạt được (đối chiếu đối lập ngoài –
giữa các ngôn ngữ). Cũng có thể tổng hợp các bước phân tích đối chiếu cấu
trúc theo công thức: đối lập (phân tích) - đối chiếu.
Phương thức đối chiếu chức năng thực hiện xác định mặt giống, khác nhau
về chức năng của các hiện tượng; sự kiện ở các ngôn ngữ. Trong tiếng Việt,
Nga, Bun-ga-ri, Đức có trọng âm từ. Nhưng chức năng của trọng âm trong
tiếng Nga, tiếng Bun-ga-ri giống nhau nhiều hơn. Ví dụ trọng âm có chức
năng biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa sắc thái tu từ –
biểu cảm v.v... Cùng một hiện tượng mà khả năng hoàn thành chức năng,
phạm vi hoạt động không giống nhau. Điều đó cũng có thể áp dụng cho dấu
hiệu khu biệt âm vị dài, ngắn trong tiếng Anh và tiếng Việt. Sự đối lập a (dài/


19

ngắn) i (dài/ngắn) trong tiếng Anh có ý nghĩa âm vị học, còn trong tiếng Việt
thì lại không có giá trị ấy.
Phương thức đồng nhất/ khu biệt hoạt động góp phần xác định sự thông
dụng, tính phổ biến hay hạn chế của các hiện tượng, sự kiện ngôn ngữ đều có
trong các ngôn ngữ đối chiếu. Phương thức này chỉ rõ các hiện tượng ngôn
ngữ xét về mặt phương diện nào đó là giống nhau (đều có) trong các ngôn
ngữ, nhưng ở ngôn ngữ này được sử dụng phổ biến, hoạt động mạnh còn ở
ngôn ngữ khác thì ngược lại. Chẳng hạn trong địa hạt từ vựng – ngữ nghĩa,
tiếng Bun-ga-ri, tiếng Việt đều có một số từ vay mượn từ tiếng Ấn - Âu

định được những đặc trưng đó mà cho phép chúng ta không chỉ xác định được
loại hình phong cách chức năng mà cả loại hình giao tiếp – văn hoá ngôn
ngữ, giúp chúng ta hiểu ngôn ngữ qua lăng kính văn hoá và ngược lại văn hoá
qua hiện thực ngôn ngữ.
1.4.So sánh phương thức thể hiện ý nghĩa của thành ngữ
Ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ rất biện chứng. Từ lâu các nhà ngôn
ngữ học và văn hoá học đã nhìn thấy và nghiên cứu mối quan hệ này. Mối
quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ được thể hiện trong tất cả các cấp độ của
ngôn ngữ. Đặc biệt, thành ngữ là một trong những lĩnh vực thể hiện rất rõ mối
quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá.
Để góp phần làm sáng tỏ thêm mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ
trong thành ngữ, chúng tôi sẽ phân tích hình ảnh mắt và mặt trong thành ngữ
Việt – Anh để làm ví dụ.
Khảo sát thành ngữ tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy đa số thành ngữ mắt và
mặt trong tiếng Việt tập trung miêu tả vẻ bề ngoài của con người (cổ cong
mặt lệnh, đầu trâu mặt ngựa, mặt ủ mày chau, mặt sứa gan lim, con mắt là
mặt đồng cân, da ngà mắt phượng, mắt cú da lươn, mắt sắc như dao cau...).
Không chỉ sử dụng mắt và mặt để miêu tả vẻ bề ngoài, người Việt còn dùng
mắt và mặt để miêu tả tâm sinh lý của con người (đỏ như mắt cá chày, ham


21

lợi trước mắt quên hoạ sau lưng, chướng tai gai mắt, tay bắt mặt mừng, tắm
khi nào vuốt mặt khi ấy, ngoảnh mặt làm ngơ...).
Mắt trong tiếng Việt, ngoài chức năng miêu tả chức năng thị giác, mắt còn
được sử dụng miêu tả đánh giá con người, thái độ của con người (ví dụ: coi
đời bằng nửa con mắt, khuất mắt cho qua, sáng con mắt chặt đầu gối, nhắm
mắt bước qua...).
Tương tự như thành ngữ tiếng Việt, mắt (eye) trong tiếng Anh cũng được

sắc thái nghĩa như vậy, các thành ngữ có từ chỉ mắt tập trung miêu tả các hoạt
động liên quan tới chức năng thị giác của đôi mắt. Mặt được người Anh coi
đơn thuần chỉ là một bộ phận cơ thể con người, vì vậy nghĩa biểu trưng của
mặt trong tiếng Anh cũng khác với mặt trong các thành ngữ tiếng Việt, nó
không còn mang nghĩa biểu trưng là con người để mô tả vẻ bề ngoài, đánh giá
tính cách của con người nữa, mà mặt được sử dụng theo đúng ý nghĩa chức
năng của khuôn mặt.
Qua so sánh thành tố mắt và mặt trong tiếng Việt và tiếng Anh, chúng ta
thấy sự khác biệt văn hoá rất lớn giữa hai nền văn hoá này, trong khi sự tương
đồng là rất nhỏ. Điều này lý giải sự khác nhau trong ngữ nghĩa và cũng như
trong cách sử dụng các thành ngữ có chung hình ảnh là mắt và mặt. Để khắc
phục “rào cản” này, trong giảng dạy ngoại ngữ, nhất thiết phải coi yếu tố văn
hoá là một yếu tố quan trọng trong việc truyền đạt kiến thức cho người học.
1.5. Tiểu kết chương 1
Chương 1 của luận văn nêu một vài nét khái quát về phương pháp so
sánh đối chiếu. Ngôn ngữ học đối chiếu hình thành trong trào lưu nghiên cứu
so sánh chung. Song ngôn ngữ học đối chiếu hình thành rất lâu sau hai ngành
ngôn ngữ học so sánh là ngôn ngữ học so sánh - lịch sử, ngôn ngữ học khu
vực (ngữ vực) và loại hình học. Là một ngành mới ra đời nên ngôn ngữ học
đối chiếu vẫn đang là một ngành nghiên cứu gây nhiều tranh cãi.
Trong chương này, chúng tôi cũng trình bày khái niệm về thuật ngữ so
sánh đối chiếu. Cho tới nay vẫn còn có nhiều tranh cãi về thuật ngữ so sánh


23

đối chiếu. Song khái niệm được sử dụng nhiều là: “nghiên cứu đối chiếu giúp
ta xác định được cái giống nhau và khác nhau của ngôn ngữ về mặt cấu trúc,
hoạt động và sự phát triển của chúng.”
Trong chương này, chúng tôi cũng trình bày phương pháp so sánh đối

Như vậy, có thể chấp nhận một TN là một ngữ phức hợp có nghĩa tổng
thể thống nhất, mang tính biểu trưng cao, có hình thức cơ bản cố định và
trong từng trường hợp cụ thể có ý nghĩa phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp.
2.2. Vài nét về tình hình nghiên cứu TN trong tiếng Anh và tiếng Việt


25

Có thể nói, TN TA đã được nghiên cứu khá hệ thống với các cách tiếp
cận khác nhau, phong phú và đa dạng. Đặc biệt, các nhà nghiên cứu TN TA
đã phát triển hướng đi của mình là nghiên cứu TN từ góc độ NN học chức
năng, khác hẳn với lối đi truyền thống của các nhà nghiên cứu TN TV.
Cũng như các thứ tiếng khác, TN TA được các nhà nghiên cứu quan
tâm với ý kiến khác nhau về khái niệm, cấu trúc, và phân loại. Nhìn chung các
TN TA có cấu trúc thành phần cố định bao gồm có ít nhất là hai từ trở lên với
cấu trúc có thể là một cụm từ hoặc một câu. Trong Anh ngữ có một số tác giả
như Hockett (1958), Katz và Postal (1963) cho rằng TN cũng chỉ có thể bao
gồm một từ và khó được đại đa số chấp nhận. Hockett (1958) cho rằng ngữ
cảnh là điều kiện tiên quyết để xác định một TN thực sự là một TN hay
không, mặc dù ông không để ý tới một thực tế là TN cũng có thể là những tổ
hợp từ có khả năng kết hợp cố định (fixed collocation).
Trên thực tế, đại đa số các tác giả (Wood, 1986; Cowie et al. 1975,
1983; Long et al., 1979; Smith, 1925; Malkiel, 1959; Weinreich, 1969;
Makkai, 1972; Fernando và Flavell, 1981; Strassler, 1982; Pawley và Syder,
1983; Pawley, 1986) cho rằng TN là một biểu ngữ đa từ (multiword
expression) với những đặc điểm ngữ pháp khác hẳn với các cụm từ tự do khác
đó là tính TN, hay còn gọi là tính thống nhất về nghĩa (semantic unity) và tính
cố định hoặc tương đối cố định của các từ thành phần. Nói cách khác một tập
hợp từ càng có ít khả năng thay đổi một trong các từ thành phần bao nhiêu,
tập hợp từ đó càng có nhiều khả năng là TN bấy nhiêu. Một số những đặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status