Nghiên cứu các biểu hiện trầm cảm và các yếu tố nguy cơ ở phụ nữ mãn kinh và tiền mãn kinh tại xã thủy vân, thị xã hương thủy, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 19

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
LÊ XUÂN LỢI
NGHIÊN CỨU CÁC BIỂU HIỆN TRẦM CẢM
VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ Ở PHỤ NỮ MÃN KINH
VÀ TIỀN MÃN KINH TẠI XÃ THỦY VÂN
THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
Người hướng dẫn luận văn
ThS.BS. VÕ ĐẶNG ANH THƯ
HUẾ - 2011
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng
tôi. Các kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kì công trình nào.
Huế, tháng 5 năm 2011
Tác giả luận văn
Lê Xuân Lợi
3
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BV : Bệnh viện
CĐ : Cao đẳng
CKI : Chuyên khoa I
DMS IV : Diagnostis and Statistical Manual of Mental Disordor
ĐH : Đại học
MK : Mãn kinh
N1 : Số người tiền mãn kinh
N2 : Số người mãn kinh

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
3.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu 19
3.2. Các biểu hiện trầm cảm ở phụ nữ mãn kinh và tiền mãn kinh
3.3. Các yếu tố nguy cơ gây trầm cảm ở phụ nữ mãn kinh và tiền
mãn kinh
Chương 4. BÀN LUẬN 31
4.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 31
4.2. Các biểu hiện trầm cảm ở phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh 33
4.3. Các yếu tố nguy cơ gây trầm cảm trong thời kỳ tiền mãn kinh
và mãn kinh
KẾT LUẬN 40
KIẾN NGHỊ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
5
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ tuổi 45 – 55 trở đi người phụ nữ sang một giai đoạn chuyển tiếp của
đời sống sinh sản, tuổi tắt dục và mãn kinh. Nhưng mãn kinh không phải là
bệnh lý mà là một quá trình sinh lý bình thường, nó có liên quan với nhiều
biến đổi về nội tiết tố và tâm sinh lý. Cách đây nhiều thế hệ, chỉ có ít phụ nữ
sống qua tuổi mãn kinh. Nhưng ngày nay tuổi thọ của con người ngày một
tăng lên, người phụ nữ có thể trải qua một phần ba đến một nửa quãng đời
mình sau thời kỳ này nhờ những tiến bộ của khoa học và những hỗ trợ quan
tâm của xã hội [9].
Rối loạn trầm cảm là một hội chứng rất hay gặp ở người phụ nữ, nhất là
phụ nữ lớn tuổi. Nó hiện diện trên 20% phụ nữ và tỉ lệ này càng tăng trong
giai đoạn chung quanh mãn kinh. Theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới
(World Health Organization) và Trung tâm Dịch tễ học Hoa Kỳ, hằng năm có
khoảng 5% dân số thế giới có biểu hiện bệnh lý trầm cảm. Qua nghiên cứu
của (World Health Organization), đến năm 2020 ở những nước đang phát

kinh và tiền mãn kinh tại Xã Thủy Vân, Thị Xã Hương Thủy, Tỉnh Thừa
Thiên Huế” nhằm các mục tiêu.
1. Nghiên cứu các biểu hiện trầm cảm ở phụ nữ mãn kinh và tiền mãn
kinh
2. Xác định các yếu tố nguy cơ gây trầm cảm ở phụ nữ mãn kinh và tiền
mãn kinh
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. SƠ LƯỢC GIẢI PHẨU BUỒNG TRỨNG VÀ SINH LÝ KINH NGUYỆT
Mỗi người phụ nữ đều có hai buồng trứng, là hai cơ quan hình bầu dục
nằm ở hai bên, cạnh tử cung. Các buồng trứng nằm lọt trong các dây chằng
rộng (đó là những giải mô có tác dụng giữ cho tử cung treo ở đúng vị trí của
nó) và nối với tử cung bởi dây chằng riêng của buồng trứng. Kích thước
buồng trứng ở người trưởng thành là 2,5 – 5 x 2 x 1 cm và nặng 4 – 8g. Trọng
lượng của chúng thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt [15].
Ngay từ khi mới sinh ra, người phụ nữ đã có một số lượng trứng nhất
định (1-2 triệu trứng) trong buồng trứng, đến giai đoạn dậy thì có khoảng 3 -
4 triệu trứng, trứng lúc này được gọi là trứng chưa trưởng thành. Khi đến giai
đoạn trưởng thành, chỉ còn lại khoảng 300.000 trứng phát triển để trở thành tế
bào trứng trưởng thành. Thông thường hàng tháng, sẽ có một nang trứng được
cơ thể tự chọn để phát triển. Nang này chứa nhiều dịch và một tế bào làm
chức năng sinh sản gọi là noãn. Khi đường kính của nang này lớn khoảng 20
mm (nang chín), nó tự vỡ để giải phóng noãn (được gọi là phóng noãn hay là
rụng trứng). Noãn được hút vào vòi trứng, sẵn sàng cho quá trình thụ thai.
Nếu gặp tinh trùng, chúng sẽ kết hợp với nhau (gọi là thụ tinh), rồi phát triển
thành thai nhi. Bình thường, sau khi đã phóng noãn, nang trứng còn lại lớp vỏ
bên ngoài gọi là hoàng thể. Hoàng thể sẽ tiết ra progesteron làm cho niêm
mạc tử cung dày lên, sẵn sàng đón nhận noãn đã được thụ tinh đến làm tổ và
phát triển. Nếu noãn không được thụ tinh thì hoàng thể sẽ tự teo đi, làm cho

cho bạn vã mồ hôi nhiều, tăng nhịp tim và làm bạn cảm thấy chóng mặt hoặc
buồn nôn. Cơn nóng bừng thường kéo dài khoảng từ 3 đến 6 phút, mặc dù
cảm giác này có thể kéo dài lâu hơn và làm bạn tỉnh dậy vào nửa đêm.
- Chu kỳ kinh nguyệt không đều.
- Nhạy cảm ở vú.
- Tăng nhức đầu migraine.
- Són nước tiểu.
- Cảm xúc không ổn định.
Thời kỳ tiền mãn kinh ở phụ nữ Việt Nam trung bình bắt đầu từ tuổi
42, 43 cho đến khi hết kinh vào khoảng tuổi 45 đến 52 [20].
10
1.2.2. Giai đoạn mãn kinh
Thời kỳ mãn kinh bắt đầu một cách tự nhiên khi các buồng trứng bắt
đầu suy giảm tiết estrogen và progesterone . Do đó mãn kinh – thuật ngữ y
khoa tiếng Anh là Menopause – đã từng được xem là các rối loạn do thiếu hụt
estrogen. Nhưng mãn kinh không phải là bệnh lý mà là một quá trình sinh lý
bình thường. Mãn kinh cũng không phải là điểm kết thúc tuổi thanh xuân hay
khả năng tình dục của người phụ nữ, mặc dù nó có liên quan với nhiều biến
đổi về nội tiết tố và tâm sinh lý [10], [30].
Mãn kinh là tình trạng vô kinh ở người phụ nữ ít nhất là 12 tháng. Thời
kỳ mãn kinh là khoảng thời gian tính từ hiện tượng mãn kinh cho đến hết
cuộc đời. Mỗi người phụ nữ trải qua thời kỳ mãn kinh một khác nhau. Ngay
cả tuổi bắt đầu mãn kinh cũng thay đổi. Một số người bắt đầu từ 30-40 tuổi,
một số khác có thể đến trên 60. Phổ biến nhất là khoảng 50-51 tuổi.
- Mãn kinh tự nhiên: Mãn kinh thường là một quá trình sinh lý bình
thường khi đến độ tuổi, không chịu ảnh hưởng của các tác động bên ngoài.
- Mãn kinh nhân tạo: Là hiện tượng mãn kinh tạm thời hoặc vĩnh viễn
gây ra dưới tác động bên ngoài như [11], [13].
- Phẫu thuật cắt bỏ tử cung: Phẫu thuật cắt bỏ tử cung nhưng còn giữ lại
các buồng trứng thường không gây mãn kinh. Trường hợp này hai buồng

đổi tùy người, có thể mỗi giờ một cơn hoặc chỉ thỉnh thoảng mới xuất hiện.
Cơn bốc hỏa có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào, cả ngày lẫn đêm, có thể trong
một vài năm hoặc có khi không hề có triệu chứng này.
- Rối loạn giấc ngủ và đổ mồ hôi trộm ban đêm: Đổ mồ hôi trộm ban
đêm là một triệu chứng đi kèm thường gặp của cơn bốc hỏa. Ban đêm bạn
thường thức giấc, toát nhiều mồ hôi và cảm thấy ớn lạnh. Sau đó khó ngủ sâu
trở lại. Khoảng một phần tư các phụ nữ tuổi trung niên bị rối loạn giấc ngủ.
12
Mất ngủ còn ảnh hưởng đến tính khí và sức khỏe chung của họ.
- Thay đổi bề ngoài: Sau mãn kinh, mỡ thường tập trung nhiều ở hông,
đùi, khu trú trên vùng eo và bụng của người phụ nữ, tóc trở nên mỏng hơn và
xuất hiện nhiều nếp nhăn da. Mặc dù lượng hormone estrogen suy sụp nhưng
cơ thể vẫn tiếp tục tiết ra một số lượng nhỏ nội tiết tố nam testosterol, nên
người phụ nữ có thể mọc ít lông ở cằm, môi trên, ngực và bụng [25].
- Thay đổi tính khí: Có thể có một số thay đổi tính khí trong thời kỳ
mãn kinh, như tăng nhạy cảm hoặc dễ bị mất cân bằng trước những biến cố
xúc cảm. Trước đây người ta nghĩ rằng các triệu chứng này là do sự biến đổi
nội tiết tố. Các yếu tố thúc đẩy khác gồm: stress, mất ngủ và các biến cố khác
trong cuộc đời ở giai đoạn này như người chồng bệnh hoặc mất, các con
trưởng thành rời khỏi gia đình, hoặc nghỉ việc, về hưu [1], [6].
1.3. TRẦM CẢM
Hội chứng trầm cảm là loại rối loạn khí sắc thường gặp trong tâm thần
học biểu hiện bằng giảm khí sắc, buồn rầu, giảm thích thú, thường xuyên mệt
mỏi, rối loạn giấc ngủ, giảm tập trung chú ý, cảm giác không xứng đáng, hay
sám hối, tự tin, bi quan, kèm theo một số triệu chứng cơ thể khác.
Trầm cảm có thể xảy ra ở nhiều lứa tuổi nhưng phổ biến nhất là 18-45
tuổi, phụ nữ nhiều hơn nam giới với tỷ lệ giới tính: nam/nữ là 1/2, giá trị này
chỉ là ước chừng vì còn tùy vào nền văn hóa và dân tộc. Theo Tổ chức Y tế
Thế giới bệnh trầm cảm cướp đi mỗi năm trung bình 850 000 mạng người,
đến năm 2020 trầm cảm là căn bệnh xếp hạng 2 trong số những căn bệnh phổ

• Cảm giác vô dụng, vô giá trị hoặc mặc cảm tội lỗi.
• Giảm khả năng tập trung, do dự.
• Hay nghĩ đến cái chết, có ý tưởng hoặc hành vi tự sát.
1.3.3. Chuẩn ICD-10 F32
Theo ICD:
• F32.0 Giai đoạn trầm cảm nhẹ (người bị bệnh cảm thấy không được
khỏe và tìm sự giúp đỡ của bác sĩ, sinh hoạt bình thường).
• F32.1 Trầm cảm mức trung bình (những yêu cầu trong công việc và
việc nhà không thể đảm nhiệm nổi).
14
• F32.2 Trầm cảm nặng (bệnh nhân cần được điều trị).
• F32.3 Trầm cảm nặng kèm theo những biểu hiện thần kinh khác.
• F32.8 và 9 Những giai đoạn trầm cảm khác.
1.3.4. Trầm cảm ở phụ nữ mãn kinh
Hình 1.3. Trầm cảm ở phụ nữ mãn kinh
Mãn kinh là giai đoạn phụ nữ dễ mắc chứng trầm cảm nhất. Các nhà
khoa học đã tìm ra mối liên hệ trực tiếp giữa việc thay đổi hormon với các
triệu chứng trầm cảm và rối loạn khác trong cơ thể người phụ nữ.Trong giai
đoạn này, nguy cơ mắc bệnh trầm cảm ở phụ nữ tăng 4 lần so với các giai
đoạn khác trong cuộc đời. Đồng thời nguy cơ rối loạn suy nhược cũng tăng
2,5 lần. Nghiên cứu của WHO cũng chỉ ra rằng, đến năm 2020 ở những nước
đang phát triển, trầm cảm sẽ trở thành một trong các nguyên nhân chủ yếu
gây rối loạn hoạt năng ở phụ nữ mãn kinh có thể gây tai nạn hoặc tự sát [7],
[14], [23].
Mãn kinh là hiện tượng sinh lý tự nhiên của người phụ nữ do sự giảm
hoạt động của buồng trứng. Thời kỳ mãn kinh là một cột mốc quan trọng
trong cuộc đời người phụ nữ. Trong nhiều thế kỷ qua, người ta đã nhận thấy
giai đoạn mãn kinh thường kết hợp với sự tăng tần suất và độ trầm trọng của
trầm cảm.
Trầm cảm ở phụ nữ giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh thường gặp

phối hợp với sự thay đổi nội tiết thường xảy ra trong những năm đầu của thời
kỳ mãn kinh. Nếu phát hiện sớm và được điều trị tâm lý, nội tiết, thuốc chống
trầm cảm, bệnh nhân sẽ tiến triển tốt, có thể phục hồi hoàn toàn và thích nghi
dần ở những năm sau.
1.3.6. Hậu quả của trầm cảm ở phụ nữ mãn kinh
- Trầm cảm làm cho người phụ nữ không thể đáp ứng được tất cả những
bổn phận, trách nhiệm, tình cảm trong gia đình và ngoài xã hội mà người thân
chờ đợi.
- Trầm cảm gây ra nhiều tổn hại cho cá nhân, gia đình và xã hội.
- Trầm cảm là nguyên nhân chủ yếu của 2/3 các trường hợp tự sát, là một
trong các nguyên nhân của các tai nạn ở nơi làm việc và trên đường phố.
- Trầm cảm thường kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm nếu không
được điều trị.
1.4. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY TRẦM CẢM Ở PHỤ NỮ TIỀN
MÃN KINH VÀ MÃN KINH
Các yếu tố môi trường, tự nhiên, xã hội, điều kiện sinh hoạt tác động rất
lớn đến việc hình thành và phát triển các rối loạn trầm cảm. Sự tác động này
biểu hiện rõ nét ở người cao tuổi.
Nghiên cứu Harvard (2006) trên 460 phụ nữ quanh tuổi mãn kinh từ 36 -
45 không có trầm cảm trước đó: Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trầm cảm
xuất hiện tăng gấp 2 lần ở phụ nữ đi vào mãn kinh so với phụ nữ vẫn còn kinh
nguyệt, và trầm cảm đặt biệt có liên quan đến những phụ nữ có các triệu
chứng rối loạn vận mạch.
Suau (2005) với mục đích khảo sát tỷ lệ trầm cảm ở phụ nữ từ 40 - 55
tuổi đến khám tại phòng khám phụ khoa Medical Sciences Campus của đại
học Puerto Rico. Đây là nghiên cứu cắt ngang từ tháng 6/2000 đến tháng
12/2000. Kết quả khảo sát trên 64 phụ nữ quanh tuổi mãn kinh (40 - 55 tuổi)
thấy trầm cảm có liên quan với các yếu tố bao gồm: Trình độ học vấn, đã từng
phải đi khám về tâm lý, tiền căn đã được chẩn đoán trầm cảm và sử dụng các
17

điểm nghiên cứu. Đây là một xã đồng bằng cách trung tâm thành phố khoảng
3km. Dân số 6261 người, cơ cấu về kinh tế, văn hoá, xã hội rất phong phú.
Phương tiện đi lại dễ dàng.
Riêng về mặt y tế xã Thuỷ Vân có nhiều điều kiện thuận lợi với một
trạm y tế cấp vừa được xây mới trong thời gian gần đây. Trạm có 1 bác sỹ,
1 y sỹ đa khoa, 1 y sỹ y học dân tộc, 1 nữ hộ sinh trung học, 1 dược sỹ
trung học. Bên cạnh đó xã Thuỷ Vân còn là nơi được trường Đại học Y
dược chọn làm địa điểm giảng dạy cộng đồng. Chính điều này càng làm
cho người dân trong xã có điều kiện tiếp xúc với các vấn đề y tế thông qua
các buổi đi thực địa để thực tập, tuyên truyền và giáo dục sức khoẻ trong
cộng đồng của sinh viên.
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Gồm 200 phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh từ 45 tuổi trở lên, sinh sống
tại xã Thủy Vân, thị xã Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.2.1. Tiêu chuẩn chọn đối tượng
- Phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh từ 45 tuổi trở lên.
- Nhóm phụ nữ mãn kinh là những phụ nữ mãn kinh tự nhiên, sau hai
năm không có kinh trở lại.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Những phụ nữ mãn kinh do cắt tử cung, cắt buồng trứng, điều trị hóa
chất, tia xạ, dùng thuốc…
- Những phụ nữ mãn kinh đã và đang dùng liệu pháp hormone thay thế.
19
- Những phụ nữ có tiền sử bệnh lý loạn thần, động kinh hoặc đang mắc
bệnh lý thực thể nặng.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo kiểu nghiên cứu cắt ngang mô tả có sử
dụng bộ câu hỏi điều tra.
2.3.2. Thời gian nghiên cứu

2

×
×=
n
Để tăng độ chính xác của nghiên cứu chúng tôi tiến hành nhân đôi số
mẫu. Như vậy cỡ mẫu của nghiên cứu là 200.
2.3.3.2. Cách chọn mẫu
Địa bàn xã Thuỷ Vân có 4 thôn, chúng tôi làm việc với chính quyền địa
phương và trạm y tế xã chọn cả 4 thôn đưa vào điều tra là: thôn Dạ Lê, thôn
Công Lương, thôn Vân Dương và thôn Xuân Hoà.
Từ 4 thôn này chúng tôi chọn mỗi thôn 50 đối tượng ngẫu nhiên từ
20
danh sách lưu ở ủy ban xã (để có đối tượng phụ nữ từ 45 tuổi trở lên). Trong
khi điều tra nếu đối tượng không phù hợp với tiêu chuẩn chọn mẫu sẽ tiếp tục
chọn ngẫu nhiên thêm lại trong danh sách.
2.4. CÁC KỸ THUẬT THỰC HIỆN
2.4.1. Bộ câu hỏi điều tra
Bộ câu hỏi điều tra được viết bám sát theo mục tiêu của đề tài dựa trên
kiến thức cơ bản về trầm cảm và các yếu tố liên quan trong thời kỳ tiền mãn
kinh và mãn kinh (phụ lục đính kèm). Bộ câu hỏi gồm có 3 phần chính:
- Phần 1: Tìm hiểu về đối tượng nghiên cứu.
- Phần 2: Khảo sát các biểu hiện và các yếu tố liên quan đến trầm cảm
thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh
- Phần 3: Thang điểm đánh giá trầm cảm Beck.
2.4.2. Tiến hành điều tra
2.4.2.1. Thành lập nhóm để điều tra
Địa bàn điều tra tương đối rộng, đối tượng điều tra bận rộn nhiều công
việc. Do đó để tiếp cận được với đối tượng để điều tra tương đối khó. Vì vậy
chúng tôi thành lập nhóm điều tra.

- Các yếu tố nguy cơ gây trầm cảm ở phụ nữ mãn kinh và tiền mãn kinh.
+ Tỷ lệ trầm cảm theo nhóm tuổi.
+ Tỷ lệ trầm cảm theo nghề nghiệp.
22
+ Tỷ lệ trầm cảm theo tôn giáo.
+Tỷ lệ trầm cảm theo trình độ học vấn.
+ Tỷ lệ trầm cảm theo số năm hết kinh nguyệt.
+ Tỷ lệ trầm cảm theo tình trạng hôn nhân.
+ Tỷ lệ trầm cảm theo các yếu tố nguy cơ khác.
2.5. XỬ LÝ SỐ LIỆU
Xử dụng phần mềm thống kê y học Epi.Info phiên bản 6.04.
23
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU
Qua điều tra tại 4 thôn của xã Thủy Vân – Thị xã Hương Thủy - Tỉnh
Thừa Thiên Huế, chọn 200 phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh, ngẫu nhiên
chúng tôi có một kết quả như sau:
Bảng 3.1. Phân bố số phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh của 4 thôn
Thôn
Tiền mãn kinh Mãn kinh Tổng
p
n1 n2 N %
Dạ Lê 17 40 57 28,5
> 0,05
Xuân Hòa 15 35 50 25,0
Công Lương 9 41 50 25,0
Vân Dương 19 24 43 21,5
Tổng 60 140 200 100,0
Qua nghiên cứu ta thấy:

Mãn
kinh
Tổng
p
n1 n2 N %
Nông dân 27 38 65 32,5
< 0,05
Công nhân 8 21 29 14,5
Buôn bán 15 18 33 16,5
Khác 10 63 73 36,5
Tổng 60 140 200 100,0
Qua bảng trên chúng tôi nhận thấy tỉ lệ PNTMK và MK của số phụ nữ
có nghề nghiệp khác chiếm 36,5% số PN đang còn lao động chiếm 63,5%. Sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Bảng 3.4. Phân bố theo kinh tế gia đình
Kinh tế
gia đình
Tiền mãn kinh Mãn kinh Tổng
p
n1 n2 N %
Nghèo 3 20 23 11,5
< 0,05
Trung bình 26 69 95 47,5
Khá 29 48 77 38,5
Giàu 2 3 5 2,5
Tổng 60 140 200 100,0
Số PNTMK và MK có kinh tế nghèo là 11,5%, kinh tế trung bình là
47,5%, kinh tế khá là 38,5% còn lại là kinh tế giàu chiếm 2,5%. Sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Bảng 3.5. Phân bố theo tôn giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status