BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRẦN MỸ LINH
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH Ở
NỮ GIỚI TRONG CỘNG ĐỒNG
QUẬN ĐỐNG ĐA – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRẦN MỸ LINH
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH Ở
NỮ GIỚI TRONG CỘNG ĐỒNG
QUẬN ĐỐNG ĐA – HÀ NỘI
Chuyên ngành : Nội tim mạch
Mã số : 60.72.20
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Nguyễn Thị Bạch Yến
HÀ NỘI - 2013
Lời cảm ơn
* Nhân dịp hoàn thành bản luận án này, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ
của:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội.
- Các thầy, các cô của Bộ môn Nội - Tim mạch Trường Đại học Y Hà
Nội.
- Cán bộ và nhân viên Viện Tim mạch Việt Nam.
- Phòng Đào tạo sau đại học và Phòng Nghiên cứu khoa học Trường
Đại học Y Hà Nội.
- Ban Giám đốc cùng toàn thể cán bộ nhân viên khoa I và phòng Tổ
chức cán bộ Bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội.
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BMI : Chỉ số khối cơ thể
BMV : Bệnh mạch vành
CĐ : Chế độ
CRP : C-Reactive Protein
DODALAB : Đơn vị Nghiên cứu Hệ thống Y tế trường Đại học Y Hà
Nội
ĐTĐ : Đái tháo đường
F : Female (nữ)
FRS : Nguy cơ bệnh mạch vành trong 10 năm theo thàng
điểm Framingham
HA : Huyết áp
HDL : Lipoprotein trọng lượng phân tử cao
HDL-C : HDL-Cholesterol
LDL : Lipoprotein trọng lượng phân tử thấp
LDL-C : LDL-Cholesterol
M : Male (nam)
NĐTN : Nhiễm độc thai nghén
RLLP : Rối loạn lipid
TB : Trung bình
TC : Cholesterol
TG : Triglycerid
THA : Tăng huyết áp
WC : Vòng eo
WHO : Tổ chức Y tế thế giới
YTNC : Yếu tố nguy cơ
7
8
ĐẶT VẤN ĐỀ
Các thống kê dịch tễ học ngày nay cho thấy bệnh tim mạch, đặc biệt
vẫn tồn tại quan niệm bệnh tim mạch là bệnh của nam giới, trong khi trên
thực tế, phụ nữ thường có nhiều áp lực trong gia đình và công việc hơn so
với đàn ông, làm tăng gánh nặng của các yếu tố nguy cơ tim mạch. Bên
cạnh đó, phụ nữ khi nhận thức tốt về các yếu nguy cơ tim mạch sẽ là người
bảo vệ phòng ngừa bệnh tim mạch tốt nhất không chỉ cho bản thân mà cho
mọi người trong gia đình.
Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu về yếu tố nguy cơ của bệnh
tim mạch, tuy nhiên ở Việt Nam, những nghiên cứu này chưa nhiều. Đặc
biệt các yếu tố nguy cơ và bệnh tim mạch ở nữ giới mới chỉ được quan tâm
gần đây.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
“Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ tim mạch ở nữ giới trong cộng đồng
Quận Đống Đa - Hà Nội” với hai mục tiêu:
1. Tìm hiểu các yếu tố nguy cơ tim mạch ở nữ giới trong cộng đồng
tại quận Đống Đa – Hà Nội.
2. Ước tính nguy cơ bệnh mạch vành trong 10 năm theo thang điểm
Framingham cho quần thể nghiên cứu.
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Yếu tố nguy cơ tim mạch ở nữ giới
10
1.1.1. Khái niệm chung
Trong những thập niên gần đây, mô hình bệnh tật có nhiều
thay đổi, trong khi các bệnh nhiễm trùng có xu hướng ngày một
giảm thì ngược lại các bệnh không lây nhiễm như: tim mạch, tâm
thần, ung thư… đặc biệt là các bệnh tim mạch ngày càng tăng [3].
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 2008 có 57
triệu người tử vong vì nguyên nhân do các bệnh không lây mà hàng
đầu là nhóm bệnh tim mạch (48%) [1].
Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là yếu tố liên quan với sự
gia tăng khả nặng mắc bệnh tim mạch. Sự liên quan này dường
nhận ở nhiều nghiên cứu khác trên quần thể, cho thấy ngời có trờn 2 yếu tố
nguy cơ chính (bao gồm Cholesterol 5,2 mmol/L (200mg/dL), huyết áp
140/90 mmHg, hút thuốc lá) thì nguy cơ đã tăng lên đáng kể ở cả hai giới:
nguy cơ tơng đối mắc bệnh mạch vành tăng 5,5 và 5,7 lần, nguy cơ mắc
bệnh tim mạch gấp 4,1 và 4,5 lần còn nguy cơ tử vong chung cũng tăng gấp
3,2 và 2,3 lần tơng ứng ở nam và nữ [4].
Nghiên cứu Framingham Heart Study đánh giá nguy cơ tim mạch ở
những ngời trên 50 tuổi không có bệnh tim mạch ban đầu trên cơ sở các yếu
tố nguy cơ tim mạch chính bao gồm cholesterol 6,20 mmol/L (240 mg/dL),
huyết áp tâm thu 160 mmHg, huyết áp tâm trơng 100mmHg, hút thuốc lá,
đái tháo đờng. Kết quả cho thấy nguy cơ mắc bệnh tim mạch trong đời tăng
lên nhanh chóng tùy theo số lợng và mức độ trầm trọng của các yếu tố nguy
cơ. So với những ngời có trên 2 yếu tố nguy cơ chính, những ngời không có
yếu tố nguy cơ nào (cholesterol <4,65 mmol/L (180mg/dL), huyết áp <120/80
mmHg, không hút thuốc và không đái tháo đờng) thì có nguy cơ mắc bệnh tim
mạch trong đời thấp hơn hẳn (5% so với 69% ở nam và 8% so với 50% ở nữ),
12
cũng nh có thời gian sống trung bình dài hơn rõ rệt (trờn 39 năm so với 28
năm ở nam và trờn 39 năm ở nữ) [5].
Nghiờn cu trờn 257.384 ngi, Berry JD v cng s nhn
thy trong s nhng nghi tham gia t 55 tui, nhng ngi cú
yu t nguy c tim mch t mc ti u (Cholesterol <180 mg/dL
(4,7 mmol/l), HA tõm thu < 120 mmHg v HA tõm trng < 80
mmHg, khụng hỳt thuc v khụng b T) cú nguy c mc bnh tim
mch trong phn i cũn li thp hn ỏng k so vi ngi cú t 2
yu t nguy c tr lờn (4,7% so vi 29,6% nam v 6,4% so vi
20,5% n). Nguy c b nhi mỏu c tim cú t vong hoc khụng t
vong ngi khụng cú yu t nguy c cng thp hn so vi ngi
cú yu t nguy c cao (3,6% so vi 37,5% nam v < 1% so vi
18,3% n). Nguy c t qu cú t vong hoc khụng t vong cng
nhiều bệnh phối hợp mà còn gặp nhiều ở phụ nữ dưới 50 tuổi và tử vong do
nhồi máu cơ tim ở nhóm tuổi này thường gấp đôi so với nam giới.
1.1.2.2. Giới
Nhìn chung, nam giới có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn phụ
nữ. Nghiên cứu trên 905.115 người, Wilkins và cộng sự cho kết quả nguy
cơ mắc bệnh tim mạch của đàn ông cao hơn phụ nữ ở tất cả các lứa tuổi [4].
Trong một nghiên cứu khác của Lloyd-Jones DM và cộng sự cũng cho kết
quả tương tự [7].
1.1.2.3. Di truyền
Nếu trong gia đình có người cùng huyết thống bị bệnh tim mạch, ví
dụ như cha mẹ hoặc anh chị em đã từng gặp phải các vấn đề về tim mạch
trước tuổi 55, nguy cơ mắc bệnh tim mạch sẽ cao hơn bình thường. Ngoài
14
ra, những yếu tố nguy cơ tim mạch như cao huyết áp, tiểu đường và béo phì
cũng có thể mang tính di truyền.
Năm 1996, Sichieri R, Siqueira KS, Pereira RA tiến hành một nghiên
cứu về yếu tố gia đình ở các đối tượng là người lớn tại thủ đô Rio de Janero
city (Brazil). Đối tượng nghiên cứu là 2.802 người trưởng thành được đo
huyết áp (HA), vóc người. Kết quả cho thấy có sự tương quan giữa vóc
người và THA. Điều này củng cố lý thuyết quan trọng về sự phát triển cơ
thể phụ thuộc vào gen ở người lớn THA, nhất là ở phụ nữ [12].
Andersen UB, Dige Petersen H, Ibsen H nghiên cứu kháng insulin ở
những đối tượng có nguy cơ THA do di truyền, so với những đối tượng
không có nguy cơ THA di truyền. Kết quả cho thấy đối tượng nghiên cứu
có họ hàng THA dễ bị THA tự phát, có biểu hiện THA tâm trương hơn so
với những người có họ hàng không bị THA [13].
Năm 1989 - 1992, Trần Đỗ Trinh điều tra dịch tễ học bệnh THA ở Việt
Nam. Khi so sánh giữa 909 cặp của 2 nhóm THA và người bình thường, tác
giả nhận thấy tỷ lệ ở người THA có người trong gia đình bị THA cao hơn ở
nhóm đối chứng, đặc biệt là đối với cha và anh chị em (p < 0,01) [14].
Estrogen với nồng độ lipid huyết tương. Kết quả cho thấy có sự gia tăng
đáng kể lượng Cholesterol (TC), Triglycerides (TG), LDL – Cholesterol
(LDL–C) và VLDL – Cholesterol (VLDL–C), còn HDL - Cholesterol
(HDL–C) lại giảm đáng kể ở những phụ nữ sau mãn kinh. Chỉ số xơ vữa
(Tổng số Cholesterol / HDL-C) tăng ở phụ nữ sau mãn kinh so với ở phụ
nữ tiền mãn kinh [17].
16
Ở phụ nữ sau mãn kinh, rối loạn giấc ngủ cũng có ảnh hưởng đến
nguy cơ tim mạch. Nghiên cứu trên 322 phụ nữ mãn kinh tác giả Seib C và
cộng sự nhận thấy tình trạng rối loạn giấc ngủ chiếm đến 23% [20].
Thời kỳ mãn kinh có liên quan với xu hướng tăng cân [21],[22]. Tác
giả Janssen I và cộng sự theo dõi quá trình mãn kinh trên 949 người nhận
thấy vòng bụng và vòng eo của phụ nữ tăng nhanh sau mãn kinh [23]. Một
vài nghiên cứu khác chỉ ra rằng giảm nội tiết tố buồng trứng ở thời kỳ mãn
kinh dẫn đến việc rối loạn nhiều chức năng cơ thể, trong đó có sự tăng
trọng lượng cơ thể và giảm trao đổi chất cơ bản. Một yếu tố khác liên quan
đến việc kiểm soát trọng lượng cơ thể là tác dụng kích hoạt các thụ thể
estrogen. Estrogen receptor-α, kích hoạt bởi estradiol, có một vai trò quan
trọng trong việc ức chế sự phát triển của các mô mỡ, do đó, có sự gia tăng
các mô mỡ trong thời kỳ mãn kinh như một kết quả của sự thiếu hụt
Estrogen [24],[25],[26].
Một nghiên cứu khác của tác giả Fang SH và cộng sự còn cho thấy
mối liên quan giữa tình trạng mãn kinh và THA hoặc THA tâm thu đơn độc
ở phụ nữ. Trong 965 phụ nữ nghiên cứu, tỷ lệ THA ở nhóm tiền mãn kinh
là 21,9% và tăng hơn nhiều ở nhóm sau mãn kinh (49,3%) (p < 0,05) [27].
Phụ nữ sử dụng liệu pháp hormon có thể có nguy cơ thấp đối với
bệnh mạch vành và nhồi máu cơ tim, họ vẫn có nguy cơ bị đột quỵ, huyết khối
tĩnh mạch và bệnh động mạch ngoại vi. Mặc dù liệu pháp hormon làm giảm
LDL – Cho và lipoprotein (a), làm tăng HDL – Cho, nhưng nó lại ảnh hưởng
xấu đến chất béo trung tính và quá trình cầm máu [28]. Vì vậy, tuy Estrogen
Rối loạn lipid máu được định nghĩa khi một hoặc nhiều thành phần
sau bị rối loạn: Tăng cholesterol toàn phần, tăng Triglycerid, tăng LDL-C,
giảm HDL-C, giảm apoprotein AI, tăng apoprotein B [34].
- LDL – Cholesterol (LDL-C): Phân tử LDL–C rất quan trọng đối với nguy
cơ bệnh tim mạch cũng như mảng xơ vữa động mạch. Trong nghiên cứu
của tác giả Shoji T và cộng sự, nồng độ LDL–C nhỏ đậm đặc có mối liên
quan chặt chẽ với độ dày lớp trung nội mạc động mạch cảnh ngay cả khi đã
hiệu chỉnh về tuổi, giới, THA, ĐTĐ, CRP, hút thuốc lá và mức lọc cầu thận
[35]. Theo NCEP – ATP III, nếu giảm 1% LDL–C sẽ giảm 1% nguy cơ
bệnh mạch vành [36]. Trong nghiên cứu The Strong Heart Study, các tác
giả kết luận cứ giảm 1mg/dL LDL–C sẽ giảm 12% nguy cơ bệnh tim mạch
[37]. Một nghiên cứu khác của Stephen N Davis cũng cho thấy cứ giảm 1
mmol/l LDL-C (18mg/dL) sẽ giảm 36% nguy cơ mạch vành [38].
- HLD – Cholesterol (HDL-C): Tầm quan trọng của HDL–C trong bảo vệ
tim đã được chứng minh bởi các nghiên cứu dịch tễ học về mối quan hệ
thuận nghịch giữa nồng độ HDL–C và nguy cơ bệnh mạch vành. Mặc dù
vai trò trực tiếp lên cơ chế xơ vữa mạch chưa được hiểu biết đầy đủ nhưng
người ta thấy rằng HDL–C thấp thường kết hợp với tăng LDL–C nhỏ đậm
đặc, và liên quan đến sự xuất hiện các yếu tố gây xơ vữa khác. Trong
nghiên cứu PROCAM, HDL-C thấp là yếu tố tiên đoán độc lập nguy cơ
bệnh mạch vành với tất cả các mức LDL-C. Tăng 1% HDL-C sẽ giảm 2-
3% nguy cơ bệnh mạch vành [39]. Trong nghiên cứu Framingham, nguy cơ
mắc bệnh tim mạch tăng 6 lần ở phụ nữ có HDL-C < 1,2 mmol/l so với phụ
nữ có HDL-C > 1,7 mmol/l [40]. Trong nghiên cứu UKPDS, nguy cơ
tương đối mắc bệnh tim mạch giảm 0,15 lần với mỗi 0,1 mmol/l HDL-C ở
19
bệnh nhân ĐTĐ týp 2 [41]. Các bằng chứng về vai trò bảo vệ của HDL
cũng được củng cố bởi các nghiên cứu khác.
- Triglycerid (TG): Ngày nay người ta đã công nhận vai trò của TG đối với
nguy cơ bệnh mạch vành. Cùng với HDL-C, TG là yếu tố quan trọng góp
Nhiều nghiên cứu nhận thấy bệnh ĐTĐ hay xảy ra cùng với bệnh
THA. Khoảng 30 -50% bệnh nhân ĐTĐ bị THA, những bệnh nhân này
thường béo. Ngược lại, xét nghiệm đường trong máu thấy tăng cao ở 1/3 số
bệnh nhân THA [46],[47].
Nghiên cứu nhằm đánh giá yếu tố nguy cơ mạch vành ở phụ nữ, tác
giả Salehi R nhận thấy có đến 38,5% bệnh nhân nghiên cứu bị ĐTĐ. Tác
giả cũng đã chỉ ra có mối liên quan tuyến tính giữa ĐTĐ và bệnh mạch
vành ở nhóm phụ nữ nghiên cứu [6].
Nghiên cứu xác định sự phổ biến của các yếu tố nguy cơ tim mạch ở
bệnh nhân có RLLP máu, Machado-Alba JE và cộng sự nhận thấy tỷ lệ
bệnh nhân nữ bị ĐTĐ là 28,5% [48].
Trong một nghiên cứu khác của Sclavo M, tác giả nhận thấy ở những
phụ nữ mắc bệnh tiểu đường, tỷ lệ tử vong tăng gấp 3-7 lần so với mức
tăng gấp 2-3 lần ở đàn ông [32].
Simon Capewell và cộng sự nghiên cứu mối liên quan giữa yếu tố
nguy cơ tim mạch với nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành. Kết quả thu
được ở nhóm phụ nữ 65 tuổi bị ĐTĐ OR = 3,53 (CI 95% 2,49 - 5,01) và ở
nhóm phụ nữ bị ĐTĐ trên 65 tuổi OR = 2,59 (CI 95% 1,78 - 3,78) [33].
Theo NCEP – ATP III, nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng lên đáng kể
ở cả ĐTĐ týp 1 và 2. Hơn nữa, tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân ĐTĐ khi
21
trải qua một biến cố tim mạch cao hơn nhiều so với những người không bị
ĐTĐ, đặc biệt là ở những bệnh nhân ĐTĐ bị bệnh mạch vành. Sự gia tăng
nguy cơ THA, thừa cân, béo phì và RLLP máu cũng thường thấy ở những
người bị ĐTĐ. Kiểm soát đường huyết chặt chẽ giúp giảm nguy cơ biến
chứng mạch máu ở bệnh nhân tiểu đường, đặc biệt ở phụ nữ [36].
1.1.2.8. Hút thuốc lá
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc hút thuốc lá làm tăng nguy cơ
ung thư phổi, và cũng làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Hút
thuốc làm tăng nhịp tim, thắt chặt các động mạch lớn và làm cho nhịp tim
mạch vành mạnh hơn so với ở nam giới [OR ở nữ là 3,3 (CI 95% 2,1 – 5,1),
OR ở nam là 1,9 (CI 95% 1,6 – 2,3)] [53].
1.1.2.9. Béo phì, béo bụng
Năm 1986, nhóm chuyên viên về nhu cầu năng lượng của Liên Hợp
Quốc đã đề nghị sử dụng BMI (chỉ số khối cơ thể) để đánh giá tình trạng
dinh dưỡng ở người trưởng thành. BMI là một chỉ số đơn giản của cân
nặng theo chiều cao. Nó được định nghĩa là trọng lượng của một người
bằng kg chia cho bình phương chiều cao của mình theo mét ( kg/m2) [54].
Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của béo trung tâm, thể hiện ở
chu vi vòng bụng (WC). Người ta cho rằng béo trung tâm là 1 yếu tố dự
báo bệnh tim mạch liên quan đến béo phì ngay cả khi có cân nặng bình
thường [32],[54].
Béo phì là một trong các yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa và
là một yếu tố nguy cơ tim mạch. Người lớn béo phì có tỷ lệ tử vong cao hơn
những người có BMI thấp [55], đồng thời nguy cơ mắc các bệnh trầm trọng
khác như bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim và ĐTĐ týp 2 cũng cao hơn.
Cứ mỗi 5kg/m2 cao hơn chỉ số BMI bình thường thì mối liên quan
giữa béo phì, thừa cân với nguy cơ tim mạch tăng lên là 1,27 và với đột quỵ
là 1,18. Tỷ lệ đột quỵ đối với thừa cân là 98% và 69% cho béo phì [56].
23
Thừa cân và béo phì có thể gây ra nhồi máu cơ tim và thiếu máu cục
bộ cơ tim [57]. Đối với những người không có hội chứng chuyển hóa BMI
bình thường, nguy cơ nhồi máu cơ tim là 1,26 (CI 95% 1,00 – 1,61), tỷ lệ
này tăng ở người béo phì (1,88 với CI 95% 1,34 – 2,63) và thừa cân (1,39
với CI 95% 0,96 – 2,02). Ở những người có hội chứng chuyển hóa, nguy cơ
thiếu máu cục bộ cơ tim nếu béo phì hoặc thừa cân còn tăng hơn nữa. Tuy
nhiên, nghiên cứu cũng khẳng định béo phì và thừa cần là một yếu tố nguy
cơ của bệnh mạch vành dù có hay không có hội chứng chuyển hóa [57].
Béo phì thấy ở phụ nữ (56,4%) nhiều hơn nam giới (40%) [58].
Trong một nghiên cứu của Wang C và cộng sự, chỉ số BMI ≥ 30 là
SN, Wedick NM và cộng sự nhận thấy ở những phụ nữ ăn nhiều trái cây họ
cam quýt, các loại rau lá màu xanh lá cây, β-carotene, trái cây giàu vitamin
C và rau quả có liên quan với nguy cơ bệnh mạch vành thấp hơn những phụ
nữ khác [70].
Chế độ ăn thấp carbonhydrat giúp giảm đáng kể trọng lượng cơ thể (-
7,04kg), giảm BMI (-2,09 kg/m
2
), giảm HA tâm trương (-3,1 mmHg), giảm
TG (-29,71 mg/dL), tăng HDL-C (1,73 mg/dL), từ đó giúp kiểm soát tốt
các yếu tố nguy cơ tim mạch [71].
Các bằng chứng cho thấy rau quả có liên quan với giảm nguy cơ
bệnh mạch vành [71]. Ăn rau quả từ 3-5 phần ăn/ngày có liên quan đến
việc giảm 17% nguy cơ mắc bệnh mạch vành [72].
Ngược với tác dụng bảo vệ của chế độ ăn rau quả và ít carbonhydrat,
chế độ ăn nhiều muối lại làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch nói chung
và mạch vành nói riêng. Các thử nghiệm cho thấy rằng ăn muối nhiều (trên
14 g/ngày) sẽ gây THA, trong khi ăn ít muối (dưới 1g/ngày) gây giảm HA.
Ảnh hưởng của việc giảm ở mức độ trung bình lượng muối trong chế độ
ăn, từ 2,5 đến 5g/ngày vẫn còn đang được bàn luận. Hạn chế chế độ ăn
25
muối là một trong những biện pháp dễ nhất để phòng ngừa THA và có lẽ
là cách điều trị không dùng thuốc tốt nhất [50].
Phần lớn ở Việt Nam, người lo cho bữa ăn trong gia đình là phụ nữ.
Vì vậy, hiểu được tầm quan trọng của chế độ ăn đối với nguy cơ mắc bệnh
tim mạch là rất cần thiết, từ đó, người phụ nữ không những bảo vệ được
cho chính bản thân mình khỏi nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch mà còn bảo
vệ được cho cả những người thân trong gia đình.
1.1.2.12. Mức độ vận động thể lực và nghỉ ngơi
Trong những năm gần đây, một số nghiên cứu đã khẳng định mối
liên quan giữa hoạt động thể chất và bệnh mạch vành [73].