1
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
TRN M LINH
NGHIÊN CứU CáC YếU Tố NGUY CƠ TIM MạCH ở Nữ GIớI
TRONG CộNG ĐồNG QUậN ĐốNG ĐA Hà NộI
CNG LUN VN THC S Y HC
H NI - 2013
2
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
TRN M LINH
NGHIÊN CứU CáC YếU Tố NGUY CƠ TIM MạCH ở Nữ GIớI
TRONG CộNG ĐồNG QUậN ĐốNG ĐA Hà NộI
Chuyờn ngnh : Ni tim mch
Mó s : 60.72.20
CNG LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
PGS.TS. Nguyn Th Bch Yn
3
HÀ NỘI - 2013
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ABI : Vận tốc lan truyền sóng mạch
BMI : Chỉ số khối cơ thể
CRP : C-Reactive Protein
DODALAB : Đơn vị Nghiên cứu Hệ thống Y tế trường Đại học Y Hà Nội
ĐTĐ : Đái tháo đường
HCCH : Hội chứng chuyển hóa
HCMV : Hội chứng mạch vành
4. PGS. TS. Đỗ Doãn Lợi Tim mạch Viện tim mạch Ủy viên
5. PGS. TS. Nguyễn Thị Bạch Yến Tim mạch Viện tim mạch GV hướng dẫn
Kính đề nghị Ban Giám hiệu và Quý Phòng xem xét, giải quyết
Xin trân trọng cảm ơn!
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN TRƯỞNG BỘ MÔN
PGS. TS. Nguyễn Thị Bạch Yến GS. TS. Nguyễn Lân Việt
7
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh tim mạch mà
hàng đầu là xơ vữa động mạch, bao gồm mạch não, mạch vành, mạch máu
ngoại vi, đang là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở người lớn trên toàn thế
giới, đặc biệt ở phụ nữ. Mỗi năm, trên thế giới, phụ nữ chết do bệnh tim mạch
nhiều hơn do ung thư, lao, sốt rét và HIV/AIDS cộng lại. Ước tính cứ một
phút lại có trên 16 phụ nữ tử vong do bệnh tim mạch. Bệnh tim mạch cũng là
nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế, mất sức lao động ở phụ nữ đang tuổi làm
việc, gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc gia [1].
Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là yếu tố liên quan với sự gia tăng
khả nặng mắc bệnh tim mạch. Các yếu tố nguy cơ tim mạch bao gồm: Tuổi,
giới, di truyền, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, hút thuốc lá,
uống rượu, hoạt động thể lực hàng ngày, mức tiêu thụ rau quả hàng ngày, béo
phì, yếu tố tâm lý xã hội, CRP, dày thất trái. Ở phụ nữ còn có thêm yếu tố
nguy cơ gây gia tăng bệnh tim mạch là mãn kinh và dùng thuốc tránh thai
trong khi hút thuốc lá [2]. Đối với một người 40 tuổi, nguy cơ mắc bệnh tim
mạch trong phần đời còn lại là 49% ở nam và 32% ở nữ, những nguy cơ này
biến động rất nhiều phụ thuộc vào mức độ và gánh nặng chồng chất của các
yếu tố nguy cơ [3]. Nghiên cứu MRFTT (Multiple Risk Facto Intervention
Trial) và Chicago Heart Association Project in Industry đã chỉ ra nhóm yếu tố
nguy cơ thấp có tỷ lệ tử vong vì bệnh tim mạch thấp hơn rõ rệt so với nhóm
yếu tố nguy cơ cao (0.2-8.8% so với 2.1-53%). Thời gian sống ước tính của
nhóm yếu tố nguy cơ thấp dài hơn 9,5 năm ở nam và 5,8 năm ở nữ so với
Trong những thập niên gần đây, mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi,
các bệnh nhiễm trùng có xu hướng ngày một giảm thì ngược lại các bệnh
không lây nhiễm như: tim mạch, tâm thần, ung thư… đặc biệt là các bệnh tim
mạch ngày càng tăng.
Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là yếu tố liên quan với sự gia tăng
khả nặng mắc bệnh tim mạch. Sự liên quan này dường như luôn mang tính
chất thống kê. Một người mang một yếu tố nguy cơ nào đó chỉ có nghĩa là có
sự gia tăng khả năng mắc bệnh chứ không phải chắc chắn sẽ mắc bệnh.
Ngược lại, một người khác không mang bất kì yếu tố nguy cơ nào cũng không
thể chắc chắn sẽ không mắc bệnh. Bởi trong thực tế, nhiều người bị đột quỵ
nhưng không hề mang yếu tố nguy cơ.
Các yếu tố nguy cơ có khuynh hướng xuất hiện cùng nhau và có tác
động cộng hưởng. Những người có nhiều yếu tố nguy cơ thì khả năng mắc
các bệnh tim mạch sẽ cao hơn những người yếu tố nguy cơ thấp hoặc không
có yếu tố nguy cơ. Khi đánh giá nguy cơ, không thể chỉ đơn thuần dựa vào
một yếu tố nguy cơ mà cần tính đến nguy cơ tim mạch chung cho từng cá thể.
Hơn thế nữa, biểu hiện bệnh liên quan đến mảng xơ vữa ở một mạch máu
đồng nghĩa với nguy cơ bị bệnh ở nhiều mạch máu khác. Người có các bệnh
liên quan đến mảng xơ vữa không phải mạch vành cũng có cùng nguy cơ xảy
ra các biến cố tim mạch như ở người bị mạch vành. Trong nghiªn cøu
10
NHANTES III nhóm ngời có nguy cơ mạch vành trong 10 năm trên 10%
chiếm khoảng 38% ở nam và 5% ở nữ, chủ yếu ở nam giới trên 45 tuổi có 2
yếu tố nguy cơ hoặc ở nữ trên 55 tuổi có 3 yếu tố nguy cơ. Nguy cơ tăng khi
có mặt nhiều yếu tố nguy cơ đã đợc ghi nhận ở nhiều nghiên cứu khác trên
quần thể cho thấy ngời có 2 yếu tố nguy cơ chính (bao gồm Cholesterol
5.2 mmol/L (200mg/dL), huyết áp 100/80 mmHg, hút thuốc lá) thì nguy cơ
đã tăng lên đáng kể ở cả hai giới: nguy cơ tơng đối mắc bệnh mạch vành tăng
5.5 và 5.7 lần, nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp 4.1 và 4.5 lần còn nguy cơ tử
vong chung cũng tăng gấp 3.2 và 2.3 lần tơng ứng ở nam và nữ [7].
1.1.2. Phõn loi cỏc yu t nguy c:
Cỏc yu t nguy c tim mch c phõn loi v lit kờ nh sau:
1.1.2.1. Yu t nguy c khụng th thay i:
- Tui: Tui gi l mt trong nhng yu t nguy c ca bnh tim mch.
Cng ln tui, hot ng ca tim cng kộm hiu qu. Thnh tim dy lờn, cỏc
ng mch cng li khin cho quỏ trỡnh bm mỏu cng tr nờn khú khn, ú
l lý do vỡ sao nguy c mc bnh tim mch gia tng theo tui.
- Gii: Nhỡn chung, nam gii cú nguy c b au tim nhiu hn ph n.
Tuy nhiờn ph n thi k món kinh, nguy c s tng cao hn v sau tui
65, nguy c mc bnh tim mch nam gii v ph n l nh nhau [8].
- Di truyn: Nu trong gia ỡnh cú ngi cựng huyt thng b bnh tim
mch, vớ d nh cha m hoc anh ch em ó tng gp phi cỏc vn v tim
mch trc tui 55, nguy c mc bnh tim mch s cao hn bỡnh thng.
Ngoi ra, nhng yu t nguy c tim mch nh cao huyt ỏp, tiu ng v
bộo phỡ cng cú th mang tớnh di truyn.
12
1.1.2.3. Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi:
- Tăng huyết áp: Tăng huyết áp sẽ dẫn đến nguy cơ bệnh mạch vành và
đột quỵ. Nếu kết hợp thêm cả béo phì, nghiện thuốc lá và cholesterol cao thì
nguy cơ bệnh tim hay đột quỵ sẽ tăng lên đáng kể.
- Tăng Cholesteron máu: Cholesterol là một chất tương tự chất béo có
sẵn trong máu. Gan sản xuất cholesterol để hình thành màng tế bào và tạo một
số hormon nhất định. Ngoài lượng cholesterol này ra, cơ thể còn nhận thêm
một lượng cholesterol khác từ những thực phẩm được dung nạp, những thực
phẩm này đa phần có nguồn gốc động vật như thịt, trứng, các sản phẩm từ
sữa Các chất béo bão hòa này làm gia tăng lượng cholesterol “xấu” (LDL),
tạo ra những mảng bám trên thành động mạch và bắt đầu quá trình xơ vữa
động mạch. Khi các mảng bám tích tụ trong các động mạch vành, nguy cơ
bệnh mạch vành sẽ tăng cao.
- Lipoprotein (a)
chứng minh có ảnh hưởng đến bệnh tim mạch, đó là:
- Dày thất trái
- Yếu tố tâm lý xã hội
- Mức độ tiêu thụ rau, hoa quả hàng ngày
- Mức độ tiêu thụ rượu hàng ngày
- Mức độ vận động thể lực hàng ngày
Ở phụ nữ còn có thêm yếu tố nguy cơ gây gia tăng bệnh tim mạch là
mãn kinh và dùng thuốc tránh thai trong khi hút thuốc lá.
14
1.1.3. Tn xut v giỏ tr tiờn lng ca cỏc yu t nguy c tim mch:
Hai nghiên cứu theo dõi dọc MRFTT (Multiple Risk Facto Intervention
Trial) và Chicago Heart Association Project in Industry trên 366.559 ngời có
tuổi từ 18 đến 59, xếp nhóm nguy cơ thấp khi cholesterol huyết tơng <5.17
mmol/L (200mg/dL), huyết áp 120/80 mmHg và không hút thuốc lá (chiếm
khoảng 6.9% trong quần thể nghiên cứu). Sau 16 năm (nghiên cứu MRFIT) và
22 năm (nghiên cứu Chiacago) theo dõi, nhóm nguy cơ thấp có tỷ lệ tử vong vì
bệnh tim mạch thấp hơn rõ rệt (0.2-8.8% so với 2.1-53%). Thời gian sống ớc
tính ở nhóm nguy cơ thấp dài hơn 9.5 năm đối với nam và 5.8 năm đối với nữ
nếu so với nhóm có ít nhất một yếu tố nguy cơ [4],[10].
Các yếu tố nguy cơ ở ngỡng ranh giới (tần suất và giá trị dự báo của 5
yếu tố nguy cơ chính: huyết áp, LDL-C, HDL-C, giảm dung nạp đờng và hút
thuốc lá) đợc khảo sát trong quần thể ngời không có bệnh mạch vành, tuổi từ
35 đến 74, ở nghiên cứu Framingham Heart Study. Các yếu tố nguy cơ ở ng-
ỡng ranh giới đợc định nghĩa là:
- Huyết áp tâm thu từ 120 đến 139 mmHg.
- huyết áp tâm trơng từ 80 đến 89 mmHg.
- LDLC từ 2.6 đến 4.1 mmol/l (100 đến 159 mg/dL).
- HDLC từ 1.0 đến 1.5 mmol/l (40 đến 59mg/dL)
- Rối loạn dung nạp đờng huyết khi đói.
- Tiền sử hút thuốc lá đã ngừng hút.
cơ bệnh tim mạch tăng 3 lần. Một kết qủa nghiên cứu ở phụ nữ cho thấy phiền
muộn lo âu là một yếu tố nguy cơ độc lập dẫn đến bệnh tim mạch [15],[16].
16
Tăng huyết áp thường gặp ở phụ nữ béo phì và dùng thuốc ngừa thai,
Tăng huyết áp là một trong những mắc xích khởi đầu quan trọng của chuỗi
bệnh lý tim mạch. Sau 45 tuổi huyết áp tăng đều ở phụ nữ và ở tuổi 60 huyết
áp tâm thu của phụ nữ cao hơn nam giới [17].
Đái tháo đường ở phụ nữ có nguy cơ tim mạch 5-7 lần so với nam giới
chỉ 2-3 lần. Phụ nữ bị đái tháo đường có hút thuốc lá thì nguy cơ đột quỵ 84%
cao hơn so với người không hút thuốc. Cứ 3 phụ nữ bị đái tháo đường sẽ có 2
người chết vì bệnh tim mạch [10],[17].
Tỷ lệ rối loạn mỡ máu ở phụ nữ qua nhiều nghiên cứu đều cho thấy cao
hơn nam giới, chiếm >50%. Tiêu chí trong chẩn đoán và điều trị về mức
cholesterol có hại là lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) không khác biệt giữa
nam và nữ nhưng mức cholesterol có lợi là lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) ở
nữ cần phải đạt cao hơn so với nam giới [18].
Một nghiên cứu khác khảo sát sức khỏe hơn 1 triệu phụ nữ Đan Mạch
để kiểm tra mối liên hệ giữa sảy thai và đau tim, đội quỵ hoặc tăng huyết áp
thứ phát do bệnh thận thì kết quả cho thấy, phụ nữ sảy thai 1 lần tăng 11%
khả năng bị đau tim. Nguy cơ này còn tăng lên gấp đôi đối với những phụ nữ
có 4 hoặc nhiều lần bị sảy thai Ngoài ra, phụ nữ sẩy thai 1 lần tăng 13% nguy
cơ đột quỵ, và những người có 4 hoặc nhiều lần sẩy thai tăng đến 89% nguy
cơ bệnh này. Cũng theo nghiên cứu, phụ nữ có 1 lần sẩy thai tăng 15% nguy
cơ cao huyết áp thứ phát do bệnh thận, và những người đã có 4 hoặc nhiều lần
sẩy thai có nguy cơ gấp bốn lần bệnh này. Mỗi lần sẩy thai, người phụ nữ lại
tăng 9% nguy cơ đau tim, tăng 13% nguy cơ đột quỵ và 19% nguy cơ cao
huyết áp thứ phát do bệnh thận.
Vai trò của estrogen (hormon sinh dục ở nữ) không phải là lý do chắc
chắn giải thích tại sao phụ nữ thường có xu hướng mắc bệnh tim mạch nhiều
hơn và ở tuổi muộn hơn nam giới. Nhưng có thể nội tiết tố estrogen có tác
lợng tốt hơn cho những bệnh nhân Châu u. Các tham số đợc tích hợp vo
thang điểm này bao gồm tuổi, giới, huyết áp tâm thu, cholesterol toàn phần,
HDL-C và tình trạng hút thuốc lá. Thời gian theo dõi trung bình là 13 năm với
biến cố đích là tử vong do nguyên nhõn tim mạch. Thang im nguy c Score
cũng đợc xây dựng cho từng vùng nguy cơ thấp và cao của Châu u.
Thang điểm nguy cơ Score khác biệt với thang điểm nguy cơ
Framingham và các mô hình khác ở hai điểm quan trọng: Score ớc tính nguy
cơ xảy ra biến cố xơ vữa mạch bất kỳ gây tử vong trong mời năm (ví dụ nh đột
quỵ, vỡ phồng ĐMC bụng), chứ không phải tử vong chỉ liên quan đến bệnh
mạch vành, mặt khác Score chỉ ớc tính nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch chứ
không tính tất cả các biến cố tim mạch.
Nghiệm pháp gắng sức thể lực - khả năng dung nạp gắng sức, mức
chênh xuống của đoạn ST, khả năng đạt tần số tim theo lý thuyết, khả năng
phụ hồi nhịp tim đều là những yếu tố dự báo của nghiệm pháp gắng sức thể
lực, cho phép nâng cao giá trị dự báo của thang điểm nguy cơ theo
Framingham hoặc Score.
Việc đánh giá nguy cơ dựa vào một số yếu tố nguy cơ nhất định có thể
xác định đợc ở những ngời có nguy cơ cao, song thờng xếp loại sai ở những
ngời có các yếu tố nguy cơ giới hạn trở thành nhóm có nguy cơ thấp. Mặt
khác công thức đa biến ớc tính nguy cơ nhằm xác định những ngời có khả
năng phát triển bệnh tim mạch trong một giai đoạn nhất định (ví dụ bệnh
mạch vành trong vòng 10 năm theo thang điểm Framingham), theo đó những
ngời có nguy cơ tiến triển thành bệnh tim mạch thấp hơn 10% đợc xếp vào
nhóm có nguy cơ thấp. Tuy nhiên, cách tiếp cận này lại không tính đến nguy
cơ tim mạch cả đời, vốn cao hơn nhiều và dễ dàng khuyến khích ngời bệnh
19
phải giảm tích cực các yếu tố nguy cơ. Ví dụ theo thang điểm Framingham/
ATP III, một ngời nam giới 50 tuổi, không mắc bệnh đái tháo đờng và không
hút thuốc lá với xét nghiệm lipid máu có cholesterol toàn phần 6.47 mmol/L
(250 mg/dL) và HDL-C 1.55 mmol/L (60mg/dL), huyết áp tâm thu 160
cho bệnh ĐTĐ týp 2. Nếu ở các nước đang phát triển ĐTĐ týp 2 thể thừa cân
và béo phì thường thấy ở lớp người có thu nhập cao, lao động nhẹ nhàng, tĩnh
tại, thì các nước phát triển ĐTĐ týp 2 thể thừa cân béo phì lại thường thấy ở
tầng lớp dân nghèo ít học, không có ý thức phòng bệnh [19].
Tăng huyết áp tại Việt Nam ngày càng gia tăng. Theo thống kê của Đặng
Văn Chung năm 1960, tần suất THA ở người lớn phía Bắc Việt Nam chỉ là
1% và hơn 30 năm sau (1992) theo điều tra trên toàn quốc của Trần Đỗ Trinh
và cộng sự thì tỷ lệ này đã 11,7%, tăng lên hơn 11 lần và mỗi năm tăng trung
bình 0,33% [17]. Và mười năm sau (2002), theo điều tra dịch tễ học THA và
các yếu tố nguy cơ tại 4 tỉnh phía Bắc Việt nam ở người dân ≥ 25 tuổi thì tần
suất THA đã tăng đến 16,3%, trung bình mỗi năm tăng 0,46% [17]. Như vậy,
tốc độ gia tăng về tỷ lệ THA trong cộng đồng ngày càng tăng cao. Tỷ lệ THA
ở vùng thành thị là 22,7% cao hơn vùng nông thôn là 12,3%. Với dân số hiện
nay khoảng 84 triệu người (2007), Việt Nam ước tính có khoảng 6,85 triệu
người bị THA, nếu không có các biện pháp dự phòng và quản lý hữu hiệu thì
đến năm 2025 sẽ có khoảng 10 triệu người Việt Nam bị THA [17]. Nghiên
cứu dịch tễ học tai biến mạch não trong cộng đồng và bệnh viện (1996), điều
tra 1.707.609 người dân, cho thấy tăng huyết áp là nguyên nhân chính (chiếm
59,3% các nguyên nhân) gây ra tai biến mạch máu não (Nguyễn Văn Đăng
và CS). Theo niên giám thống kê của Bộ Y tế, tỷ lệ mắc TBMMN là
47,6/100.000 dân. Như vậy, hàng năm có khoảng 39.980 ca bị TBMMN và chi
phí trực tiếp để điều trị cho số bệnh nhân này là 144 tỷ VNĐ/năm trong đó hậu
quả do tăng huyết áp gây ra là 85,4 tỷ VNĐ. Có khoảng 15.990 người bị liệt,
tàn phế, mất sức lao động do TBMMN/năm [20]. Theo điều tra dịch tễ học
suy tim và một số nguyên nhân chính tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam năm
21
2003 do Viện Tim mạch phối hợp với Tổ chức Y tế Thế giới thực hiện cho
thấy nguyên nhân hàng đầu gây suy tim tại cộng đồng là do tăng huyết áp
(chiếm 10,2%), sau đó là do bệnh van tim do thấp (0,8%) [21].
Theo điều tra trên toàn quốc của Viện Dinh dưỡng quốc gia năm 2005,
trên10 km2 với dân số khoảng 352,000 người sống trên các phường có hình
thái kinh tế xã hội khác nhau. Quận Đống Đa có đặc điểm điển hình của một
vùng thành thị Việt Nam. Quận có 21 phường với 21 trạm y tế phường và 1
trung tâm y tế quận. Phần lớn người dân làm nghề công chức nhà nước và
buôn bán nhỏ.
Từ năm 2007, Đơn vị Nghiên cứu Hệ thống Y tế trường Đại học Y Hà
Nội tại quận Đống Đa, Hà Nội (DODALAB), với sự giúp đỡ của các chuyên
gia Thụy Điển tại trường Đại học Nordic School of Public Health và trường
Đại học Oxpord Anh Quốc về chuyên môn và tài chính đã tiến hành thiết lập
và nghiên cứu về hệ thống y tế và các chỉ số y tế, kinh tế xã hội của quần thể
người dân tại Quận Đống Đa. Các chỉ số về y tế, sức khỏe người dân và các
yếu tố kinh tế xã hội được khảo sát hàng năm và được theo dõi cũng như lưu
trữ trên các phần mềm quản lý trong suốt 5 năm qua. Đây là cơ sở dữ liệu rất
lớn, được theo dõi dọc theo thời gian của quần thể người dân Quận Đống Đa
về y tế - xã hội. Nghiên cứu này được triển khai tại quận Đống Đa để có thể
tận dụng được cơ sở dữ liệu này vào việc phân tích mối liên quan giữa các
yếu tố nguy cơ tim mạch với đặc điểm kinh tế, xã hội – cũng là một trong
những yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ tim mạch của người dân.
Nghiên cứu sẽ tiến hành ở 03 phường nằm trong DODALAB theo từng
vùng đặc điểm kinh tế-xã hội khác nhau trong quận Đống Đa (Phường Trung
Phụng, phường Kim Liên, phường Quang Trung).
23
2.3. Thời gian nghiên cứu:
Dự kiến nghiên cứu sẽ được tiến hành từ tháng 10 năm 2012 đến tháng
10 năm 2013.
2.4. Đối tượng nghiên cứu và cỡ mẫu:
2.4.1. Đối tượng nghiên cứu:
2.4.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn:
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ người dân ≥ 25 tuổi có hộ khẩu và
đang sinh sống tại 03 phường nghiên cứu (phường Trung Phụng, phường Kim
Theo cách tính của WHO để có cỡ mẫu đủ lớn để khảo sát được các yếu tố
nguy cơ tim mạch tại cộng đồng cỡ mẫu cần phải có là 1500 người cho 1 điểm
nghiên cứu có đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau. Như vậy cỡ mẫu nghiên cứu là
1500 người dân ≥ 25 tuổi tại 03 phường thuộc quận Đống Đa, Hà Nội (phường
Trung Phụng, phường Kim Liên và phường Quang Trung).
2.4.2.2. Cách chọn mẫu:
Bước 1: Chọn mẫu theo tiêu chí: Từ danh sách các phường thuộc quận
Đống Đa, Hà Nội, chúng tôi lựa chọn 03 phường đã có những nghiên cứu về
kinh tế xã hội trước đó vì kinh tế xã hội cũng là một yếu tố có liên quan đến
bệnh tim mạch. 03 phường đó là Trung Phụng, phường Kim Liên và phường
Quang Trung.
Bước 2: Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn có phân tầng tuổi: Lập danh sách
dách những người dân ≥ 25 tuổi đang sinh sống tại 03 phường trong nghiên
cứu (phường Trung Phụng, phường Kim Liên và phường Quang Trung),
không phân biệt giới, nghề nghiệp. Chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu
ngẫu nhiên bằng bảng số ngẫu nhiên trong chường trình EPI-INFO 6.1 2000
của WHO để chọn ra 500 người dân nghiên cứu chính và 150 người dân dự
phòng/1 phường trong danh sách rồi mời đến khám tại trung tâm y tế phường
để đánh giá các yếu tố nguy cơ tim mạch.
25
2.5. Phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu:
2.5.1. Phương pháp thu thập số liệu:
- Địa điểm: Thu thập số liệu tập trung, địa điểm thu thập tại trạm y tế xã.
- Thời gian thu thập: xét nghiệm máu vào buổi sáng, từ 5-11h sáng,
khám và phỏng vấn theo bộ câu hỏi cả ngày. Số lượng đối tượng được thăm
khám và làm xét nghiệm một ngày khoảng 120 đối tượng và thời gian điều tra
mỗi phường khoảng 20 ngày.
- Các chỉ số về thể lực: Tất cả các đối tượng điều tra đều được khám để
thu thập các số liệu về chiều cao, cân nặng, vòng eo, vòng hông, chỉ số huyết
áp tâm thu và chỉ số huyết áp tâm trương.