nghiên cứu các yếu tố nguy cơ tim mạch ở nữ giới trong cộng đồng, quận đống đa - hà nội - Pdf 22

Lời cảm ơn
* Nhân dịp hoàn thành bản luận án này, tôi xin chân thành cảm ơn sự
giúp đỡ của:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội.
- Các thầy, các cô của Bộ môn Nội - Tim mạch Trường Đại học Y Hà
Nội.
- Cán bộ và nhân viên Viện Tim mạch Việt Nam.
- Phòng Đào tạo sau đại học và Phòng Nghiên cứu khoa học Trường
Đại học Y Hà Nội.
- Ban Giám đốc cùng toàn thể cán bộ nhân viên Bệnh viện Xanh Pôn Hà
Nội.
* Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô:
- PGS.TS. Nguyễn Thị Bạch Yến, Phó viện trưởng Viện Tim mạch Việt
Nam, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn luận án của tôi.
* Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và những ý kiến đóng
góp quý báu của thầy:
- GS. TS. Nguyễn Lân Việt, nguyên Viện trưởng Viện Tim mạch Việt
Nam, chủ nhiệm Bộ môn Tim mạch Trường Đại học Y Hà Nội.
* Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với bố mẹ, chồng và con trai yêu quý,
những người luôn dành cho tôi tình yêu thương và sự động viên trong cuộc
sống cũng như trong công tác.
Hà nội, Ngày 20 tháng 11 năm 2013.

Trần Mỹ Linh
2
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng các số liệu, kết quả nghiên cứu của tôi là
hoàn toàn trung thực và đề tài này không trùng với bất cứ đề tài nào đã
công bố.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Ký tên

ĐẶT VẤN ĐỀ
Các thống kê dịch tễ học ngày nay cho thấy bệnh tim mạch, đặc biệt là
xơ vữa động mạch, bao gồm mạch não, mạch vành, mạch máu ngoại vi đang
là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tàn tật và tử vong ở phụ nữ.
Ước tính cứ 100.000 người thì có 298 phụ nữ tử vong vì bệnh tim mạch và
tiểu đường [1]. Năm 2008, bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong của 6,5
triệu phụ nữ trên 60 tuổi trên toàn thế giới [2]. Theo báo cáo của Bộ Y Tế,
năm 2012, bệnh tim mạch đứng thứ hai về gánh nặng bệnh tật ở phụ nữ Việt
Nam (18%) [3].
Theo Wilkins JT và cộng sự, nguy cơ trải qua một biến cố tim mạch
trong phần đời còn lại ở phụ nữ trên 45 tuổi là 55%. Trên 50 tuổi, ước tính
nguy cơ xơ vữa động mạch ở phụ nữ là 39% [4]. Trên 40 tuổi, nguy cơ suy
tim ở phụ nữ là 20,3% [5].
Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là yếu tố liên quan với sự gia tăng
khả nặng mắc bệnh tim mạch. Ở phụ nữ, các yếu tố nguy cơ tim mạch hay
gặp nhất là: rối loạn lipid máu (RLLP máu), mãn kinh, tăng huyết áp (THA),
sử dụng thuốc tránh thai, đái tháo đường (ĐTĐ) và hút thuốc lá [6]. Tác giả
Salehi R nghiên cứu trên 250 phụ nữ được chẩn đoán ban đầu là nhồi máu cơ
tim hoặc đau thắt ngực không ổn định, kết quả cho thấy tất cả đối tượng
nghiên cứu đều có yếu tố nguy cơ. Trong đó, RLLP máu gặp ở 98% bệnh
nhân, THA chiếm 78%, 38,5% số phụ nữ nghiên cứu bị ĐTĐ, 66,7% đã mãn
kinh, tỷ lệ phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai là 57% và hút thuốc lá là 27% [6].
Ở những phụ nữ có từ 3 yếu tố nguy cơ trở lên, nguy cơ tử vong do bệnh tim
mạch cao gấp 5 lần, và số năm sống trung bình ngắn hơn 7 năm so với những
phụ nữ không có yếu tố nguy cơ [7].
Trong số các yếu tố nguy cơ tim mạch, rất nhiều yếu tố có thể thay đổi
và kiểm soát nhờ những biện pháp dự phòng đặc biệt. Nghiên cứu yếu tố nguy
6
cơ tim mạch giúp kiểm soát được các yếu tố nguy cơ, làm giảm nguy cơ mắc
bệnh tim mạch, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân tại cộng đồng về

cơ nào đó chỉ có nghĩa là có sự gia tăng khả năng mắc bệnh chứ
không phải chắc chắn sẽ mắc bệnh. Ngược lại, một người không
mang bất kì yếu tố nguy cơ nào cũng không thể chắc chắn sẽ không
mắc bệnh.
Các yếu tố nguy cơ tim mạch bao gồm:
- Yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được: Tuổi, giới, di truyền,
mãn kinh ở nữ giới.
- Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được: THA, tăng cholesterol máu,
lipoprotien (a), hút thuốc lá, béo phì, béo bụng, giảm dung nạp đường, ĐTĐ,
yếu tố tâm lý xã hội, mức tiêu thụ rau, hoa quả hàng ngày, mức tiêu thụ rượu
hàng ngày, mức độ vận động thể lực hàng ngày, sử dụng thuốc tránh thai, C-
Reactive Protein (CRP), dầy thất trái.
8
- Yu t bo v: HDL Cholesterol, tp th dc, Estrogen n gii
v ung ru va phi.
Cỏc yu t nguy c cú khuynh hng xut hin cựng nhau v cú
tỏc ng cng hng. Nhng ngi cú nhiu yu t nguy c thỡ kh
nng mc cỏc bnh tim mch s cao hn nhng ngi yu t nguy c
thp hoc khụng cú yu t nguy c. Khi ỏnh giỏ nguy c, khụng th
ch n thun da vo mt yu t nguy c m cn tớnh n nguy c
tim mch chung cho tng cỏ th. Hn th na, biu hin bnh liờn
quan n mng x va mt mch mỏu ng ngha vi nguy c b
bnh nhiu mch mỏu khỏc. Ngi cú cỏc bnh liờn quan n mng
x va khụng phi mch vnh cng cú cựng nguy c xy ra cỏc bin
c tim mch nh ngi b mch vnh. Trong nghiên cứu NHANTES III
nhóm ngời có nguy cơ mạch vành trong 10 năm trên 10% chiếm khoảng 38% ở
nam và 5% ở nữ, chủ yếu ở nam giới trên 45 tuổi có t 2 yếu tố nguy cơ hoặc ở
nữ trên 55 tuổi có t 3 yếu tố nguy cơ [8]. Nguy cơ tăng khi có mặt nhiều yếu tố
nguy cơ đã đợc ghi nhận ở nhiều nghiên cứu khác trên quần thể, cho thấy ngời có
trờn 2 yếu tố nguy cơ chính (bao gồm Cholesterol 5,2 mmol/L (200mg/dL),

[9].
Bản thân mi yếu tố nguy cơ cũng có những tác động độc lập. Huyết áp
tâm thu và cholesterol toàn phần có ảnh hởng riêng rẽ đến các biến cố đích
trong mt nghiên cứu đa quốc gia ở châu , Australia và New Zealand. Huyết
áp tâm thu cứ tăng thêm 10mmHg thì nguy cơ tim mạch tăng thêm 21-34% ở
mọi mức cholesterol khác nhau, trong khi cholesterol toàn phần làm tăng nguy
cơ tim mạch ở mọi giai đoạn tăng huyết áp. Những tác động này là độc lập sau
khi đã loại trừ ảnh hởng tơng tác của các yếu tố nguy cơ khác. Ngời có cả hai
yếu tố cholesterol 6,25 mmmol/l (240 mg/dL) và huyết áp tâm thu 160
mmHg sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành thêm 7 lần và nguy cơ đột quỵ
thêm 8 lần so với những ngời có cholesterol <4,75mmol/L (183 mg/dL) và
huyết áp tâm thu < 130mmHg [10].
10
1.1.2. Một số yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp ở nữ giới:
1.1.2.1. Tuổi:
Tuổi già là một trong những yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Càng
lớn tuổi, hoạt động của tim càng kém hiệu quà. Thành tim dày lên, các động
mạch cứng lại khiến cho quá trình bơm máu cũng trở nên khó khăn, đó là lý
do vì sao nguy cơ mắc bệnh tim mạch gia tăng theo tuổi [11].
Nghiên cứu nguy cơ mắc bệnh tim mạch theo nhóm tuổi, kết quả của
Wilkins JT và cộng sự cho thấy tỷ lệ phụ nữ tử vong vì bệnh tim mạch từ 45
đến 55 tuổi là 35,1%, tăng lên ở lứa tuổi từ 55 – 65 tuổi (36,3%) và 65 -75
tuổi (37,7%). Sau 75 tuổi, tỷ lệ tử vong ở phụ nữ vì nguyên nhân tim mạch
cao nhất (45,4%). Tương tự, tỷ lệ mắc bệnh tim mạch ở phụ nữ cũng tăng lên
theo tuổi, ở nhóm từ 45 đến 55 tuổi là 26,3%, từ 55 đến 65 tuổi là 27,3%, từ
65 đến 75 tuổi là 28,3% và cao nhất sau 75 tuổi (33,2%) [4].
Tuy nhiên, ngày nay, bệnh tim không chỉ gặp ở phụ nữ lớn tuổi với
nhiều bệnh phối hợp mà còn gặp nhiều ở phụ nữ dưới 50 tuổi và tử vong do
nhồi máu cơ tim ở nhóm tuổi này thường gấp đôi so với nam giới.
1.1.2.2. Giới:

1.1.2.4. Mãn kinh ở phụ nữ:
Thời kỳ mãn kinh được định nghĩa là hơn 12 tháng mà không hành
kinh [16].
Vai trò của Estrogen (hormon sinh dục ở nữ) không phải lý do chắc
chắn giải thích tại sao phụ nữ thường có xu hướng mắc bệnh tim mạch nhiều
hơn và ở tuổi muộn hơn nam giới. Nhưng có thể nội tiết tố Estrogen có tác
dụng bảo vệ hệ thống tim mạch. Estrogen được cho là có tác động tích cực
trên các lớp bên trong của thành động mạch, giúp giữ cho các mạch máu linh
12
hoạt. Sau mãn kinh, nồng độ Estrogen giảm dần cùng với độ tuổi ngày càng
tăng, dường như đã làm giảm đi vai trò bảo vệ chống lại bệnh tim mạch [17].
Một nghiên cứu khác của Salehi R cùng cộng sự trên 250 phụ nữ được
chẩn đoán ban đầu là nhồi máu cơ tim hoặc đau thắt ngực không ổn định, tỷ lệ
phụ nữ mãn kinh chiếm đến 66,7% [6]. Còn Deo R, Vittinghoff E, Lin F, Tseng
ZH, Hulley SB và Shlipak MG nghiên cứu trên 2763 phụ nữ mãn kinh được chẩn
đoán nhồi máu cơ tim, tỷ lệ đột tử của những phụ nữ này là 0,79% [18].
Cũng liên quan đến mãn kinh, nghiên cứu của tác giả Fukuda K và
cộng sự trên 306 phụ nữ cho thấy, thời kỳ mãn kinh, đặc biệt là trong giai
đoạn đầu, là một yếu tố quan trọng liên quan đến nhồi máu não (OR 4,35, IC
95% 1,05-18,08) [19].
Sau mãn kinh, việc thay đổi nồng độ Estrogen cũng gây ảnh hưởng đến
những yếu tố nguy cơ tim mạch theo chiều hướng bất lợi. Trong một nghiên
cứu của Reddy Kilim S và cộng sự, tác giả tìm hiểu mối quan hệ giữa tình
trạng mãn kinh và sự thay đổi nội tiết tố có liên quan giữa Estrogen với nồng
độ lipid huyết tương. Kết quả cho thấy có sự gia tăng đáng kể lượng
Cholesterol (TC), Triglycerides (TG), LDL – Cholesterol (LDL–C) và VLDL
– Cholesterol (VLDL–C), còn HDL - Cholesterol (HDL–C) lại giảm đáng kể
ở những phụ nữ sau mãn kinh. Chỉ số xơ vữa (Tổng số Cholesterol / HDL-C)
tăng ở phụ nữ sau mãn kinh so với ở phụ nữ tiền mãn kinh [17].
Ở phụ nữ sau mãn kinh, rối loạn giấc ngủ cũng có ảnh hưởng đến nguy

tim. Điều trị tốt THA làm giảm 40% nguy cơ đột qụy và 15% nguy cơ nhồi
máu cơ tim [29],[30],[31]. Một nghiên cứu lớn ở khu vực Châu Á Thái Bình
Dương cho thấy HA tâm thu cứ tăng thêm 10mmHg thì nguy cơ tim mạch
tăng thêm 21-34% [10].
14
Theo tác giả Salehi R, Motemavele M và Goldust M, xem xét các yếu
tố nguy cơ tim mạch ở phụ nữ thì HA là một trong những yếu tố nguy cơ hay
gặp nhất. Nghiên cứu trên 250 phụ nữ có chẩn đoán ban đầu là nhồi máu cơ
tim hoặc đau thắt ngực không ổn định, số phụ nữ bị THA chiếm 78% [6].
Trong nghiên cứu của tác giả Lloyd-Jones MD và cộng sự, nguy cơ suy
tim trong những năm còn lại của cuộc đời sau 40 tuổi ở phụ nữ là 20,3%.
Nguy cơ này tăng gấp 2 lần trên những bệnh nhân có HA ≥ 160/100 mmHg
so với HA < 140/90 mmHg [5].
Ở phụ nữ, sự liên quan giữa THA với tử vong do bệnh mạch vành
mạnh hơn ở nam giới [32].
Trong một nghiên cứu của mình, các tác giả Simon Capewell, Earl S
Ford, Janet B Croft, Julia A Critchley, Kurt J Greenlund và Darwin R
Labarthe cho thấy số phụ nữ THA tử vong vì bệnh tim mạch có thể giảm
khoảng 48.000 người khi HA tâm thu giảm xuống dưới 118,9 mmHg [33].
1.1.2.6. Rối loạn lipid máu:
Rối loạn lipid máu được định nghĩa khi một hoặc nhiều thành phần sau
bị rối loạn: Tăng cholesterol toàn phần, tăng Triglycerid, tăng LDL-C, giảm
HDL-C, giảm apoprotein AI, tăng apoprotein B [34].
- LDL – Cholesterol: Phân tử LDL–C rất quan trọng đối với nguy cơ bệnh
tim mạch cũng như mảng xơ vữa động mạch. Trong nghiên cứu của tác giả
Shoji T và cộng sự, nồng độ LDL–C nhỏ đậm đặc có mối liên quan chặt chẽ
với độ dày lớp trung nội mạc động mạch cảnh ngay cả khi đã hiệu chỉnh về
tuổi, giới, THA, ĐTĐ, CRP, hút thuốc lá và mức lọc cầu thận [35]. Theo
NCEP – ATP III, nếu giảm 1% LDL–C sẽ giảm 1% nguy cơ bệnh mạch vành
[36]. Trong nghiên cứu The Strong Heart Study, các tác giả kết luận cứ giảm

mmol/l chiếm 18,5%, HDL-C < 0,9 mmol/l chiếm 4,6% và LDL-C> 3,12
mmol/l chiếm 24,6% [44].
16
- Cholesterol: Cholesterol toàn phần cũng đóng vai trò quan trọng đối với
nguy cơ tim mạch. Một nghiên cứu trên 333.533 người ở khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương cho kết quả cứ mỗi mmol/l TC tăng trên mức bình thường ở
người không bị tiểu đường sẽ liên quan đến 41% ( CI 95% 23 - 63%) nguy cơ
mắc bệnh mạch vành và 42%(CI 95% 35 - 50%) nguy cơ mắc bệnh mạch
vành ở người bị tiểu đường. Giá trị tương ứng đối với đột quỵ do thiếu máu
cục bộ cơ tim là 23% (CI 95% 0 - 52%) và 31% (CI 95% 20 - 44%) [45].
1.1.2.7. Đái tháo đường:
Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hoá do nhiều nguyên nhân
khác nhau gây nên, đặc trưng của bệnh là tăng đường máu mạn tính cùng với
rối loạn chuyển hoá carbonhydrate (chất đường), lipide (chất béo), protein
(chất đạm) do thiếu insuline có kèm hoặc không kèm kháng insulin với các
mức độ khác nhau. Hệ quả của tăng đường máu mạn tính là tổn thương nhiều
cơ quan như: mắt, thận, thần kinh…
Nhiều nghiên cứu nhận thấy bệnh ĐTĐ hay xảy ra cùng với bệnh
THA. Khoảng 30 -50% bệnh nhân ĐTĐ bị THA, những bệnh nhân này
thường béo. Ngược lại, xét nghiệm đường trong máu thấy tăng cao ở 1/3 số
bệnh nhân THA [46],[47].
Nghiên cứu nhằm đánh giá yếu tố nguy cơ mạch vành ở phụ nữ, tác giả
Salehi R nhận thấy có đến 38,5% bệnh nhân nghiên cứu bị ĐTĐ. Tác giả cũng
đã chỉ ra có mối liên quan tuyến tính giữa ĐTĐ và bệnh mạch vành ở nhóm
phụ nữ nghiên cứu [6].
Nghiên cứu xác định sự phổ biến của các yếu tố nguy cơ tim mạch ở
bệnh nhân có RLLP máu, Machado-Alba JE và cộng sự nhận thấy tỷ lệ bệnh
nhân nữ bị ĐTĐ là 28,5% [48].
Trong một nghiên cứu khác của Sclavo M, tác giả nhận thấy ở những
phụ nữ mắc bệnh tiểu đường, tỷ lệ tử vong tăng gấp 3-7 lần so với mức tăng

tố đe dọa quan trọng của bệnh, vì nguy cơ mắc bệnh mạch vành ở người THA có
hút thuốc lá cao hơn 50 - 60% so với những người THA không hút thuốc lá [50].
Nghiên cứu của Gordon H. Williams cho thấy những yếu tố nguy cơ
của vữa xơ động mạch như tăng cholesterol trong máu, giảm dung nạp
glucose, và/hoặc hút thuốc lá đã làm tăng đáng kể tỷ lệ tử vong ở người có
THA bất kể ở giới, tuổi, hay chủng tộc nào [51].
So sánh nguy cơ nhồi máu cơ tim liên quan đến hút thuốc lá giữa nam
và nữ, E. Prescott Hippe M, Schnohr P và cộng sự nhận thấy so với người
không hút thuốc, phụ nữ có nguy cơ tương đối với nhồi máu cơ tim là 2,24
(1,85 - 2,71), còn ở nam giới là 1,43 (1,26 – 1,62). Nguy cơ tương đối của
nhồi máu cơ tim tăng lên với mức tiêu thụ thuốc lá ở cả nam giới và phụ nữ.
Những rủi ro liên quan đến hút thuốc ở phụ nữ cao hơn ở nam giới [52].
Nghiên cứu Finnmark cho thấy tỷ lệ bệnh mạch vành ở những người
hút thuốc lá trên 20 điếu/ngày tăng lên 3 lần ở nam và 6 lần ở nữ. Phân tích
đa biến xác định ở phụ nữ, hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ liên quan với
bệnh mạch vành mạnh hơn so với ở nam giới [OR ở nữ là 3,3 (CI 95% 2,1 –
5,1), OR ở nam là 1,9 (CI 95% 1,6 – 2,3)] [53].
1.1.2.9. Béo phì, béo bụng
Năm 1986, nhóm chuyên viên về nhu cầu năng lượng của Liên Hợp
Quốc đã đề nghị sử dụng BMI (chỉ số khối cơ thể) để đánh giá tình trạng dinh
dưỡng ở người trưởng thành. BMI là một chỉ số đơn giản của cân nặng theo
chiều cao. Nó được định nghĩa là trọng lượng của một người bằng kg chia cho
bình phương chiều cao của mình theo mét ( kg/m2) [54]. Các tác giả đặc biệt
nhấn mạnh đến vai trò của béo trung tâm, thể hiện ở chu vi vòng bụng (WC).
Người ta cho rằng béo trung tâm là 1 yếu tố dự báo bệnh tim mạch liên quan
đến béo phì ngay cả khi có cân nặng bình thường [32],[54].
19
Béo phì là một trong các yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa và
là một yếu tố nguy cơ tim mạch. Người lớn béo phì có tỷ lệ tử vong cao hơn
những người có BMI thấp [55], đồng thời nguy cơ mắc các bệnh trầm trọng

Phụ nữ thường có nhiều áp lực trong gia đình và công việc hơn so với
đàn ông. Điều này góp phần làm tăng gánh nặng nguy cơ tim mạch ở phụ nữ.
Sultan-Taieb và cộng sự đã nghiên cứu mối liên quan giữa căng thẳng
trong công việc và nguy cơ bệnh mạch vành ở phụ nữ. Tác giả nhận thấy so
với những người không có căng thẳng, tỷ lệ phụ nữ bị căng thẳng trong công
việc nguy cơ mắc bệnh mạch vành tăng hơn rõ rệt (27,1% so với 14,3%) [69].
Orth-Gô-Me K và cộng sự nghiên cứu mối liên quan giữa tình trạng
căng thẳng trong hôn nhân với tỷ lệ mắc bệnh mạch vành, kết quả nghiên cứu
chỉ ra phụ nữ có căng thẳng trong hôn nhân nguy cơ mắc bệnh mạch vành
tăng 2,9 lần so với bình thường [67].
1.1.2.11. Chế độ ăn:
Đến nay đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan giữa chế độ ăn
uống và bệnh tim mạch. Nghiên cứu trên 71.141 phụ nữ, Bhupathiraju
SN, Wedick NM và cộng sự nhận thấy ở những phụ nữ ăn nhiều trái cây họ cam
quýt, các loại rau lá màu xanh lá cây, β-carotene, trái cây giàu vitamin C và rau
quả có liên quan với nguy cơ bệnh mạch vành thấp hơn những phụ nữ khác [70].
Chế độ ăn thấp carbonhydrat giúp giảm đáng kể trọng lượng cơ thể (-
7,04kg), giảm BMI (-2,09 kg/m
2
), giảm HA tâm trương (-3,1 mmHg), giảm
TG (-29,71 mg/dL), tăng HDL-C (1,73 mg/dL), từ đó giúp kiểm soát tốt các
yếu tố nguy cơ tim mạch [71].
Các bằng chứng cho thấy rau quả có liên quan với giảm nguy cơ bệnh
mạch vành [71]. Ăn rau quả từ 3-5 phần ăn/ngày có liên quan đến việc giảm
17% nguy cơ mắc bệnh mạch vành [72].
21
Ngược với tác dụng bảo vệ của chế độ ăn rau quả và ít carbonhydrat,
chế độ ăn nhiều muối lại làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch nói chung và
mạch vành nói riêng. Các thử nghiệm cho thấy rằng ăn muối nhiều (trên 14
g/ngày) sẽ gây THA, trong khi ăn ít muối (dưới 1g/ngày) gây giảm HA. Ảnh

ngơi, đặc biệt là thời gian dành cho giấc ngủ cũng hết sức quan trọng. Một
nghiên cứu của Sands-Lincoln M và cộng sự cho thấy phụ nữ mất ngủ nguy
cơ mắc bệnh tim mạch là 38%, nguy cơ này giảm xuống còn 27% khi giấc
ngủ được điều chỉnh hợp lý. Cũng trong nghiên cứu của mình, tác giả nhận
thấy ở những phụ nữ có thời gian ngủ ít hơn 5 giờ hoặc dài hơn 10 giờ mỗi
ngày làm biến cố mạch vành tăng đáng kể (25%) so với những phụ nữ có giấc
ngủ từ 5 – 10 giờ mỗi ngày (19%) [79].
1.1.2.13. Thai nghén:
Ngoài những yếu tố nguy cơ thường được biết đến như đã nói ở trên, ở
phụ nữ, THA khi mang thai, ĐTĐ thai kỳ, sản giật, tiền sản giật… cũng làm
tăng nguy cơ tim mạch sau này [80].
Charlton F và cộng sự nhận thấy các bất thường cơ bản ở phụ nữ bị tiền
sản giật vẫn còn lại sau khi tình trạng này được kiểm soát, và nó là một nguy
cơ làm tăng khả năng mắc bệnh tim mạch của những bệnh nhân này về sau.
Ngoài ra, ở những phụ nữ có thai thường có tình trạng tăng TC, TG và LDL-
C. Những RLLP máu này nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ góp phần
làm tăng khả năng mắc bệnh tim mạch về sau ở phụ nữ [81].
Nghiên cứu trên 3400 phụ nữ đầu thập niên 90 và theo dõi sức khỏe
của họ trong 20 năm, nghiên cứu Avon nhận thấy ở tuổi 50, nguy cơ mắc
bệnh tim mạch 10 năm của những phụ nữ có tiền sử tiền sản giật cao hơn 31%
so với những phụ nữ có quá trình mang thai bình thường. Ở những phụ nữ
tiền sử ĐTĐ thai kỳ, nguy cơ mắc bệnh tim mạch 10 năm tăng 19% [82].
23
Như vậy, những yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp ở phụ nữ là: tuổi,
đặc điểm giới, di truyền, mãn kinh, THA, ĐTĐ, RLLP máu, hút thuốc lá, béo
phì, yếu tố tâm lý xã hội và căng thẳng, chế độ ăn, mức độ vận động thể lực
và nghỉ ngơi, thai nghén. Trong số đó, có rất nhiều yếu tố có thể thay đổi
được nhờ hiểu biết và can thiệp hợp lý. Vì vậy, nghiên cứu yếu tố nguy cơ tim
mạch là cần thiết. Đây cũng chính là lý do thôi thúc chúng tôi tiến hành
nghiên cứu.

Bảng 1.2. Điểm Framingham theo Cholesterol toàn phần và tuổi
cho nữ giới
TC toàn
phần
(mmol/l)
Điểm ở tuổi
20-39
Điểm ở tuổi
40-49
Điểm ở tuổi
50 -59
Điểm ở tuổi
60-69
Điểm ở tuổi
70-79
< 4,1 0 0 0 0 0
4,1 - 5,1 4 3 2 1 1
5,1 – 6,2 8 6 4 2 1
6,2 – 7,2 11 8 5 3 2
> 7,2 13 10 7 4 2
Bảng 1.3. Điểm Framingham theo tình trạng hút thuốc và tuổi cho nữ giới
Điểm ở
tuổi 20-39
Điểm ở
tuổi 40-49
Điểm ở
tuổi 50-59
Điểm ở
tuổi 60-69
Điểm ở

điểm Framingham cho nữ giới
Nguy cơ Lượng giá nguy cơ theo Framingham
Thấp < 10%
Trung bình 10% - 19%
Cao ≥ 20%
1.2.1.2. Một số nghiên cứu về thang điểm Framingham trong lượng giá nguy
cơ bệnh mạch vành ở nữ giới:
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng thang điểm
Framingham vào lượng giá yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành cho cả nam và
nữ. Năm 1967, Truett và cộng sự đã công bố một phân tích đa biến dựa theo
nghiên cứu Framingham. Trong phân tích này, 7 yếu tố nguy cơ được sử dụng
để lượng giá nguy cơ tim mạch ở nam giới và nữ giới tuổi từ 30-62: tuổi,
cholesterol, huyết áp tâm thu, trọng lượng tương đối, hemoglobin, hút thuốc
lá, và phì đại thất trái biểu hiện trên điện tâm đồ [84]. Năm 1976, Kannel và
cộng sự khẳng định tầm quan trọng của HA tâm thu trong nghiên cứu
Framingham, các tác giả nhận thấy những người có huyết áp tâm thu dưới 140

Trích đoạn Chu vi vũng bụng và chỉ số eo/hụng Hỳt thuốc lỏ Vai trũ của thang điểm Framingham trờn nhúm bệnh nhõn nghiờn cứu: DANH MỤC BẢNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status