Bước đầu tìm hiểu các tín hiệu ngôn từ biểu hiện sự KTGT trong truyện cổ tích Việt Nam - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN HUYỀN ANH

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CÁC TÍN HIỆU NGÔN TỪ
BIỂU HIỆN SỰ KTGT TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH
VIỆT NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC


khoa học của mình.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn người thân, bạn bè, đặc biệt là tập thể lớp K50
ĐHSP Ngữ Văn đã động viên, ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn
thiện khóa luận này.

Sơn La, tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Huyền Anh

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CÓ SỬ DỤNG TRONG
KHÓA LUẬN

KTGT: Kì thị giới tính
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 1
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 4
4. Ý NGHĨA CỦA KHÓA LUẬN 4
4.1. Ý nghĩa lí luận 4
4.2. Ý nghĩa thực tiễn 4
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU 4
5.1. Phương pháp nghiên cứu 4
5.1.1. Phương pháp phân tích 4
5.1.2. Phương pháp quy nạp 4
5.1.3. Phương pháp hệ thống 5

19
1.4.1. Khoảng trống từ vựng 20
1.4.2. Sự thiếu cân đối về mặt hình thái học trong những danh từ tác nhân
chỉ nam giới và nữ giới 22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CÁC TÍN HIỆU NGÔN TỪ BIỂU
HIỆN SỰ KTGT TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM 25
2.1. KTGT THỂ HIỆN Ở SỰ THIẾU CÂN ĐỐI VỀ MẶT NGỮ NGHĨA . 25
2.1.1 Người đàn bà gắn với sự phục vụ đàn ông, gắn với tình dục – người
đàn ông gắn với tài năng 25
2.1.2. Người đàn bà gắn với tính thụ động - Người đàn ông gắn với tính chủ
động 29
2.1.3 Người đàn bà gắn với liên tưởng tiêu cực – Người đàn ông gắn với liên
tưởng tích cực 31
2.2. SỰ KTGT TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH THỂ HIỆN Ở VẤN ĐỀ TÊN
GỌI VÀ DANH HIỆU 34
2.2.1. Tên người thể hiện sự KTGT 35
2.2.2. Danh hiệu và sự KTGT 36
2.2.3. Sự KTGT và cách xưng hô đối với nam giới và nữ giới 38
2.3. SỰ RẬP KHUÔN VỀ GIỚI TÍNH TRONG NGÔN NGỮ 40
2.3.1. Khái niệm về sự rập khuôn 40
2.3.2. Rập khuôn về giới tính trong ngôn ngữ - một biểu hiện của KTGT 40
2.3.3. Thử đề xuất một số giải pháp đối với tiếng Việt 42
2.3.3.1. Không đánh dấu về giống khi không thật cần thiết 42
2.3.3.2 Tránh những lối nói và cách cấu tạo những diễn ngôn mang tính rập
khuôn/ định kiến giới tính kể cả các lối nói ẩn dụ: 43
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 43
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
1

tâm lớn đối với các nhà nghiên cứu ngôn ngữ không chỉ trong nước mà còn ở cả
quốc tế. Đây không phải là một vấn đề quá mới mẻ đối với các nhà nghiên cứu
cũng như đối với các học giả mà ngay từ trước đó người ta đã quan tâm tới các
vấn đề liên quan như: ngôn ngữ, giới tính và quan niệm của nữ giới trong giao
tiếp tiếng Việt hay những tập quán đặt tên phụ nữ, xưng hô của người phụ nữ.
Stanard (1977) cho rằng điểm đáng chú ý về tổ chức Lucy stone League có
2
trụ sở đóng tại liên bang Maine (Hoa Kì) là sự vận động cho quyền của phụ nữ
được duy trì họ, tên của mình sau khi kết hôn. Lucy Stone chính là tên riêng của
một người phụ nữ kết hôn vào năm 1885 đã quyết định giữ nguyên họ của mình
thay vào việc phải mang họ chồng theo truyền thống. Tổ chức này cho rằng việc
phụ nữ phải từ bỏ họ của mình và mang họ chồng sau khi kết hôn và việc trẻ em
phải mang họ cha là một truyền thống thể hiện tính thiếu bình đẳng nam - nữ,
một truyền thống vẫn còn phổ biến trong văn hóa Hoa Kì cũng như những nền
văn hóa Anh - Mĩ khác.
Theo những nghiên cứu của Kramarae và Treichler (1985) thì ngay từ năm
1908 đã có ý kiến phản đối việc sử dụng bao gộp đại từ he (đại từ ngôi thứ ba,
giống đực, số ít) và man (người đàn ông) và ngay từ năm 1941 đã xuất hiện bài
phê bình về cuốn từ điển nổi tiếng Encyclopaedia Brittanica thể hiện quan điểm
đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ trong ngôn ngữ.
Miller và Swift (1991) cho rằng: Ngay từ những năm 1930 và 1940 nhà văn
đồng thời là nhà sử học Mary Beard và nhà lí luận âm nhạc Sophie Drinker đã
có những nhận xét từ ngữ trong diễn đạt thiên về nam giới trong mỗi ngôn ngữ.
Ở Đan Mạch vào năm 1912, Lis Jacobsen đã công bố một công trình
nghiên cứu về tiếng Đan Mạch thời Trung cổ. Công trình này bà đã đưa ra nhận
xét rằng nam giới được gọi tên theo địa vị xã hội trong khi đó nữ giới lại bị gọi
tên theo quan hệ với người đàn ông - bạn đời của họ.
Những công trình nghiên cứu như: Công trình của Hellinger (1990) về sự
KTGT trong tiếng Anh và tiếng Đức, công trình của Poyntn (1985) về giống và
các từ xưng hô trong tiếng Anh Úc.

Dũng (2002) cũng đã quan tâm và đề cập đến vấn đề ngôn ngữ và giới tính nói
chung nhưng chỉ quan tâm tới đặc trưng đặc trưng ngôn ngữ của từng giới. Bên
cạnh đó, Trần Xuân Điệp (2004) đã có một luận án tiến sĩ nghiên cứu về sự
KTGT trong các ngôn ngữ trên thế giới ngày nay.
Không chỉ dừng lại ở đó, trên các phương tiện truyền thông đại chúng
chúng ta còn thấy các nhà nghiên cứu cũng có những bài viết, lời bàn về ngôn
ngữ thể hiện sự KTGT của người Việt.
Tóm tắt một cách sơ bộ và khái quát những công trình của các nhà nghiên
cứu thì chúng ta dễ nhận thấy rằng chưa có một công trình nghiên cứu chuyên
sâu nào về vấn đề KTGT trong tiếng Việt. Chúng tôi hi vọng với khóa luận này
cũng như với các công trình nghiên cứu về sau sẽ góp phần bổ sung và làm hoàn
thiện hơn những phần còn khuyết trống mà các công trình nghiên cứu trước
chưa có thời gian đề cập đến.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những tín hiệu ngôn từ biểu hiện sự
KTGT trong văn học dân gian Việt Nam, mà hẹp hơn là trong truyện cổ tích
Việt Nam.
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi mà khóa luận quan tâm nghiên cứu là sự KTGT trong văn học dân
gian Việt Nam mà cụ thể hơn là trong truyện cổ tích Việt Nam, gắn với những
quan niệm của người Việt về sự bình đẳng nam nữ còn tồn tại trong xã hội và
được thể hiện trong các phát ngôn, những từ ngữ và những tư tưởng của người
Việt trong sự thể hiện quan niệm về hai giới: nam, nữ. Phạm vi nghiên cứu vừa
có tính khái quát lại vừa có tính chi tiết cụ thể để góp phần thấy rõ được một
cách cơ bản vấn đề KTGT trong ngôn ngữ và trong quan niệm của người dân
Việt Nam.
4. Ý NGHĨA CỦA KHÓA LUẬN
4.1. Ý nghĩa lí luận

cách ứng xử của người dân Việt Nam đối với hình ảnh của người phụ nữ trong
xã hội xưa.
5.1.4. Phương pháp khảo sát, thống kê
Phương pháp này được sử dụng để tiến hành khảo sát các tài liệu có các
câu, phát ngôn trong các lời thoại, lời dẫn, lời bình luận trong truyện cổ tích liên
quan đến đề tài và sau đó thống kê lại toàn bộ nội dung đã được khảo sát. Việc
sử dụng phương pháp này giúp cho chúng ta thống kê được nhiều nguồn dữ liệu
một cách chính xác và có hiệu quả, giúp ta nắm bắt được những vấn đề nào còn
khuyết thiếu để từ đó chúng ta tiến hành bổ sung hoàn chỉnh lại vấn đề.
5.1.5. Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp so sánh đối chiếu được chúng tôi sử dụng để làm nổi bật sự
KTGT trong ngôn ngữ. Người viết đã so sánh đối chiếu giữa ngôn ngữ tiếng
Việt với các ngôn ngữ khác đặc biệt là tiếng Anh để rút ra được những kết luận
khoa học và khách quan hơn trong biểu hiện KTGT của người Việt.
5.2. Nguồn ngữ liệu
Khóa luận được thực hiện dựa trên nguồn ngữ liệu là nền văn học dân gian
Việt Nam mà hẹp hơn là truyện cổ tích Việt Nam.
6. Mục đích và nhiệm vụ
6.1. Mục đích
Mục đích của khóa luận là tìm hiểu các tín hiệu ngôn từ biểu hiện sự KTGT
trong các truyện cổ tích Việt Nam.
6.2. Nhiệm vụ
Khóa luận có ba nhiệm vụ chính:
a. Cơ sở lí luận về thuật ngữ KTGT trong ngôn ngữ với những quan điểm
khác nhau
b. Khảo sát các tín hiệu ngôn từ biểu hiện sự KTGT trong truyện cổ tích
Việt Nam
c. Đề xuất một số giải pháp đối với sự KTGT trong tiếng Việt

6

cụ thể của sự KTGT là tư tưởng trọng nam khinh nữ. Như vậy, trong ngôn ngữ
KTGT là sự biểu đạt bằng ngôn ngữ qua hình thức rất dễ nhận thấy là sự coi
thường - coi trọng về giới.
Ví dụ:
Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.
Ví dụ trên đã biểu đạt cho chúng ta thấy rõ sự khác biệt - đối lập giữa hai
giới qua việc dùng hai hình ảnh đối lập: giếng khơi và cơi đựng trầu. Người đàn
ông trong cuộc sống dù họ có những suy nghĩ và hành động như thế nào nhưng
xét cho cùng thì đó lại là những suy nghĩ rất sâu xa mang tầm chiến lược. Hành
động mà họ thể hiện đều được chiêm nghiệm rất kĩ. Còn đàn bà được gắn với
hình ảnh chiếc cơi đựng trầu. Mà chúng ta biết rằng chiếc cơi đựng trầu thì
không có độ sâu. Chính vì vậy, hình ảnh người phụ nữ hiện lên được gắn với
chiếc cơi đựng trầu mang một hàm ý cho thấy những nghĩ suy của người phụ nữ
8
thông thường không có sự sâu xa, không mang tầm chiến lược như người đàn
ông trong xã hội. Hay như trong phát ngôn: Đúng là đàn bà, nhát như cáy! thì ở
phát ngôn này tuy biểu đạt sự đánh giá đối với phẩm chất của một người đàn bà cụ
thể nào đó nhưng lại thể hiện rõ phẩm chất ấy là do giới tạo nên: Đàn bà nhát gan.
1.1.2. Về thuật ngữ KTGT trong tiếng Anh
Trong tiếng Anh, khái niệm KTGT trong ngôn ngữ (sexism in language)
có các cách gọi khác: Sexist language (ngôn ngữ KTGT), Sex - exclusive
language (ngôn ngữ loại trừ giới tính), Gender - biased language (ngôn ngữ
mang tính thiên kiến về giống). Ví dụ: Every cook praises his own broth (Mỗi
người đầu bếp đều tán dương chính món nước xáo của anh ta), thì his được sử
dụng để thay cả cho her. Lối dùng từ his theo kiểu bao gộp như vậy thể hiện
xu hướng thiên về nam giới, coi nam giới là đại diện cho cả nữ giới.
Miller & Swift (1972) đưa ra định nghĩa: sự KTGT trong ngôn ngữ hay
ngôn ngữ mang tính KTGT là bất kì cách diễn đạt nào thể hiện thái độ và sự
trông mong về giới hoặc bất kì cách diễn đạt nào thể hiện tính trội cố hữu của

thiết chế, những quan niệm và những hệ tư tưởng của cộng đồng và xã hội gắn
liền với ngôn ngữ.
Theo quan điểm “quyết định luận ngôn ngữ” (linguistic determinism), “tính
tương đối ngôn ngữ học” hay còn được gọi là “giả thuyết Sapir - Whorf”, ngôn
ngữ quyết định phương thức tạo dựng và xem xét thế giới của một cá nhân. Tuy
vậy, quan điểm này lại có phiên bản, đó là:
Phiên bản “mạnh” cho rằng: Ngôn ngữ quyết định tư duy.
Phiên bản “yếu” thì cho rằng: Ngôn ngữ đóng góp vào việc tạo dựng tư duy.
Quan điểm “tương tác” cho rằng ngôn ngữ không chỉ phản ánh thực tế mà
còn đóng góp vào việc tạo dựng nên thực tế. Một số nhà lí thuyết cho rằng đây
chính là phiên bản yếu của giả thuyết Sapir - Whorf. Những người khác lại cho
rằng đây là quan điểm biện chứng về ngôn ngữ, cá nhân và xã hội. Graddol &
Swann (1989:165) cho rằng đó là: “Một quan điểm tổng hợp mà theo quan điểm
này thì ngôn ngữ vừa đóng góp vào việc tạo nên tình trạng bất bình đẳng giới tính
lại vừa phản ánh sự tồn tại của tình trạng ấy trong xã hội”. [6]
Với tất cả những quan điểm trên, nếu xét theo phương diện khái quát thì
chúng ta có thể thấy rằng: nguồn lực có khả năng cải thiện đời sống xã hội đó
chính là ngôn ngữ. Tuy nhiên, nếu xét ở một khía cạnh nào đó cụ thể và chi tiết
hơn thì những quan điểm trên vẫn bộc lộ một số điểm khác biệt.
1.2.2. Những quan điểm khác nhau về sự cần thiết phải có sự tác động
vào ngôn ngữ
1.2.2.1. Quan điểm phủ nhận mối liên hệ giữa ngôn ngữ và thực tế
Theo quan điểm phủ nhận mối quan hệ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thực
tế xã hội thì mặc dù trong thực tế xã hội có hiện tượng KTGT nhưng trong ngôn
ngữ không hề có hiện tượng đó và vì thế không cần phải tác động vào ngôn ngữ
hay cải cách ngôn ngữ.
10
Quan điểm cho rằng ngôn ngữ chỉ thuần túy phản ánh thực tế thường được
vận dụng để phản đối. Những người theo quan điểm này thường có thiên hướng ít
ủng hộ việc tác động vào ngôn ngữ hay cải cách ngôn ngữ vì họ không tin vào khả

sự áp bức phụ nữ
Quan điểm “quyết định luận ngôn ngữ” về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và
11
thực tế đã xem ngôn ngữ là một sức mạnh áp đảo, nếu không muốn nói là một
sức mạnh trung tâm trong việc tạo nên cũng như duy trì sự KTGT trong xã hội.
Đây chính là việc áp dụng phiên bản mạnh của giả thuyết Sapir - Whorf. Do đó
ngôn ngữ sẽ nắm giữ vai trò then chốt trong việc giải phóng phụ nữ trong xã hội.
Tác giả tiêu biểu cho quan điểm này là nhà ngôn ngữ học người Anh: Dale
Spender (1980:3).
c. Quan điểm cho rằng cần phải có một vị trí cho phụ nữ trong ngôn ngữ
Quan điểm này được xây dựng dựa trên quan niệm cho rằng: do đặc điểm
khác nam giới về mặt sinh vật học nên nữ giới đã không có một vị trí bình đẳng
với nam giới trong ngôn ngữ. Vì thế cần phải thay đổi ngôn ngữ để mang lại cho
nữ giới vị trí đó.
Ngôn ngữ đóng vai trò trung tâm trong việc gây ra sự đối xử bất công đối
với nữ giới và sự lệ thuộc của nữ giới. Đây là quan điểm của những học giả chịu
ảnh hưởng của phương pháp tiếp cận hậu cận đại đối với ngôn ngữ, đó là phân tích
luận tâm lí học và phân tích luận văn học và triết học. Tiêu biểu là các học giả
người Pháp: Hélène Cixous, Julia Kristeva và Luce Irigaray, những người chịu
nhiều ảnh hưởng từ tư tưởng phân tâm học của Lacan. Nhìn chung quan điểm của
trường phái ngôn ngữ này vẫn là một cách nhìn của “quyết định luận ngôn ngữ”.
Tiếp thu những tư tưởng của Sigmuna Freud, Lancan đã tin tưởng tuyệt đối vào vai
trò trung tâm của ngôn ngữ trong việc hình “cái tôi” của con người.
Lancan cho rằng quá trình sinh ra và lớn lên của con người chỉ là quá trình
hình thành “cái tôi”. Sự hình thành “cái tôi” xảy ra qua quá trình học tiếng và
trải qua những giai đoạn khác nhau. Lancan gọi các giai đoạn này là các những
“trình tự” (order) trong đó giai đoạn đầu là “trình tự tưởng tượng” (imaginary
order) giai đoạn sau là “trình tự tượng trưng “(symbolic order) . Trong giai đoạn
đầu, đứa trẻ chưa có “cái tôi” vì nó chỉ là một bộ phận của mẹ nó. Sự hình thành
ý thức của bản thân mình (cái tôi) bao gồm việc thoát ra khỏ giai đoạn đầu và

toàn nhất trí với Lacan về mối liên hệ giữa giới tính và ngôn ngữ. Tuy nhất trí
với Lacan về sự hiện hữu của sự KTGT trong ngôn ngữ nhưng những tác giả
này lại cho rằng: thay đổi ngôn ngữ có tính khả thi cao. Do đó họ còn chủ
trương một số hình thức tác động vào ngôn ngữ mà theo họ sẽ có tác dụng tốt
hơn đối với nữ giới.
Các học giả này cho rằng vị trí mà trẻ chiếm lĩnh trong trình tự tượng trưng
không chỉ được quyết định bởi cơ quan sinh dục mà còn bởi sự tương đồng với
bố hoặc mẹ của trẻ. Nói cách khác, con gái không nhất thiết phải giống mẹ và
con trai không nhất thiết phải giống bố. Do đó không nên có sự cào bằng giữa
“nữ” và “cái”, giữa “nam “và “đực”. Nam giới có thể chiếm một vị trí của giống
cái và nữ giới có thể có một vị trí của giống đực trong trật tự tượng trưng.
Trên cơ sở quan niệm như vậy các học giả này xem việc tác động vào ngôn
ngữ là một bước quan trọng tiến tới việc giải phóng nữ giới ra khỏi trật tự tượng
trưng vốn hiện đang nghiêng về nam giới và mang tính áp bức của giống đực.
Các tác giả này còn chủ chương nữ giới nên có một loại ngôn ngữ riêng khác
với loại ngôn ngữ thiên về nam giới như hiện tại nhằm mục đích tạo và đánh giá
13
nghĩa theo cách riêng của nữ giới, tách khỏi sự phụ thuộc vào nam giới về mặt
ngôn ngữ như hiện trạng.
d. Quan điểm cho rằng tác động vào ngôn ngữ là một bộ phận cấu thành
của cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ
Đây chính là tinh thần của quan điểm “tương tác” về bản chất của mối quan
hệ giữa ngôn ngữ và thực tế. Do ngôn ngữ không chỉ phản ánh và còn góp phần
tạo dựng và duy trì thực tế KTGT nên tác động vào ngôn ngữ phải có tác dụng
nhất định đối với hiện tượng đó trong thực tế. Tuy nhiên, khác với những người
theo quan điểm “Quyết định luận ngôn ngữ”, những người theo quan điểm này
không hề quan niệm rằng ngôn ngữ giữ vai trò then chốt và quyết định trực tiếp
đến phong trào giải phóng phụ nữ. Họ cũng không quan niệm rằng sự can thiệp
vào ngôn ngữ, một mình nó, có thể tác động mạnh mẽ trong việc làm giảm đi
những thói quen KTGT và tình trạng áp bức (đối với phụ nữ) trên những bình

một phạm trù phức tạp nhất trong trong tất cả các phạm trù ngữ pháp. Đó là
một chủ đề gây quan tâm không chỉ đối với người hoạt động trong lĩnh vực ngôn
ngữ mà còn đối với những người ở ngoài lĩnh vực ngôn ngữ. Trong một số ngôn
ngữ, giống đóng vai trò quan tâm và xuyên suốt, ngược lại trong nhiều ngôn ngữ
cũng không xuất hiện phạm trù giống này .
Cho dù có chuyên về ngôn ngữ học hay không chuyên về ngôn ngữ học thì
các tác giả không quan tâm nghiên cứu về sự KTGT trong ngôn ngữ đều hết sức
chú ý tới phạm trù giống trong việc khảo sát và phân tích sự khắc họa về giới
trong ngôn ngữ. Các tác giả này đã rất quan tâm tới phạm trù giống (trong
ngôn ngữ) và phạm trù giới (thuộc về vấn đề xã hội). Chính điều này đã nói rõ
mối quan hệ giữa phạm trù giống (trong ngôn ngữ) và phạm trù giới (vấn đề xã
hội ngoài ngôn ngữ). Việc nghiên cứu vấn đề giống trong ngữ pháp và sự
KTGT trong ngôn ngữ đã tạo nên khá nhiều ý kiến khác nhau trong giới nghiên
cứu chuyên về ngôn ngữ cũng như không chuyên về ngôn ngữ.
1.3.1. Giống, việc dán nhãn giống và những hệ thống giống trong ngôn ngữ
Giống là một phạm trù ngữ pháp có ảnh hưởng đến danh từ. Giống được xem
như một kiểu hệ thống để phân loại danh từ thành những nhóm khác nhau.
Những nhóm hoặc lớp danh từ đó sẽ ứng xử khác nhau trong sự phù ứng đối với
những bộ phận khác của lời nói hoặc ngôn ngữ. Mặc dù giống không phải hoàn
toàn là phổ quát trong ngôn ngữ nhưng vẫn có một số đáng kể các ngôn ngữ thể
hiện là có phạm trù này.
Mặc dù thuật ngữ “giống” được dùng rộng rãi để chỉ phạm trù ngữ pháp
này nhưng người ta cũng còn dùng thuật ngữ khác như “lớp” hoặc “lớp danh
từ”. Thuật ngữ “giống” vốn là một từ được dịch ra từ nhiều tiếng nước ngoài mà
bản thân trong các tiếng nước ngoài ấy, thuật ngữ này cũng được dịch hoặc
mượn từ từ genus trong tiếng La Tinh. Do vậy, đây không phải là một từ dùng
trong ngôn ngữ hàng ngày hay trong các loại văn bản thuộc chuyên ngành khác.
Có nhiều ngôn ngữ có hệ thống gồm hai hoặc ba giống, lại có những ngôn ngữ
với hệ thống có tới hai mươi giống và tiểu giống. Những nhãn hiệu dán cho
những giống này cũng rất khác nhau. Bên cạnh những nhãn hiệu phổ biến đối

trong ngôn ngữ đã nêu phạm trù giống như là một sự cản trở cơ bản đối với sự
bình đẳng giới tính trong ngôn ngữ.
Nhiều nhà ngôn ngữ học hiện đại như Hjelmslev (1956), Lyons (1969),
Ibrahim (1973) cho rằng những hệ thống giống ngữ pháp, những hệ thống phân
loại danh từ thành giống “đực”, giống “cái” và giống “trung” gần như hoặc
không có quan hệ gì đến phạm trù giới nằm ngoài ngôn ngữ. Theo Herbert và
16
Nykiel - Herbert: Ngược lại với hệ thống giống tự nhiên, các hệ thống giống ngữ
pháp phân loại các đối tượng một cách võ đoán nghĩa là không hề có những
tương đồng hay mối liên hệ mang tính cố hữu nào giữa các đối tượng trong mọi
phạm trù (1986: 57). [20]
Kallioinen etal (1987: 1987) lại cho rằng sự đối lập đực và cái trong ngữ
pháp là một ước lệ ngôn ngữ mà về cơ bản là mang tính võ đoán và có thể được
thay thế bằng một thuật ngữ trừu tượng hơn.
Baron 1986 là một trong những học giả có quan điểm bình đẳng giới tính.
Ông có nhận xét như sau:
Những nỗ lực rõ rệt nhất nhằm gắn liền hình thái ngôn ngữ với những đặc
điểm được định kiến về giới thì không thể thấy được trong những lí thuyết kinh
điển thất thiệt, mà chỉ thấy được trong việc nghiên cứu hiện tượng giống ngữ
pháp. (Dẫn theo [15])
Cameron (1985: 64-5) đã tìm ra nguồn gốc của phạm trù giống ngữ pháp là
Protagoras - nhà ngữ pháp học người Hi Lạp. Protagoras phân loại danh từ thành
“đực”, “cái” và “bất động vật” căn cứ vào giới (khi có giới) hoặc không có giới
của giống sở chỉ.
Cameron còn dẫn ra ý kiến của Jakob Grimm - một chuyên gia về ngữ pháp
tiếng Đức và là nhà Ngữ văn về nhóm tiếng Giecman thế kỉ XIX cho rằng giống
ngữ pháp là một giai đoạn phát triển sau này của giống tự nhiên. Giống ngữ
pháp xuất hiện trong các ngôn ngữ đó chuyển từ việc chỉ công nhận những sinh
vật đực và cái sang việc thừa nhận tính đực và cái mang nội dung trừu tượng
mà theo các tiêu chuẩn của tính đực, cái trừu tượng này người ta có thể phân loại

If a friend wishes to become a member, please ask him to write for
information.
(Nếu một người bạn muốn trở thành hội viên thì hãy bảo anh ta viết thư tìm
hiểu thông tin).
Từ friend (bạn) cũng là từ chỉ chung về giới nhưng đại từ nhân xưng cho
nó lại là him (giống đực) chứ không phải là her (giống cái). Ngay cả trong
những trường hợp giống của danh từ được đánh dấu, như actor (nam diễn
viên), actress (nữ diễn viên) thì danh từ giống đực thường được dung là danh
từ bao gộp (chỉ chung).
Trong tiếng Việt, ở khu vực giáo dục, một ví dụ tương tự là cách sử dụng
từ thầy với tư cách là một chức danh chỉ sự tôn xưng và là một từ nhân xưng.
Ngày nay để chỉ những người làm công tác giảng dạy người ta dùng cụm từ:
thầy cô giáo. Nhưng chỉ quan hệ nói chung giữa người dạy và người học, người
ta thường chỉ dung cách nói quan hệ thầy - trò ,chứ không dùng cách nói quan
hệ cô - trò. Giai đoạn gần đây, cách nói cô – trò đã bắt đầu hình thành và đang
được sử dụng trong những bối cảnh ngôn ngữ chuyên biệt. Đối tượng giao tiếp
lúc này là các cô giáo với học trò và ngược lại. Còn trong bối cảnh giao tiếp có
18
cả thầy, cô với người học trò thì chủ yếu vẫn sử dụng cách diễn đạt quen thuộc:
thầy – trò. Như thế từ thầy đã được dùng để chỉ cả cô trong trường hợp này. Nói
cách khác từ thầy vốn là một từ chỉ giống đực nay đã được dùng như một danh
từ bao gộp chỉ chung về giới (cả nam và nữ).
Trong khi chuyển dịch các văn bản, tài liệu học tập từ tiếng nước ngoài
sang tiếng Việt người ta cũng khó tránh khỏi việc dùng đại từ nhân xưng ngôi
thứ 2 anh - đại từ bao gộp chỉ cả nam và nữ giới. Nguyễn Lai (1997: 62) đã viết:
Và khi xuất hiện thì ngôn ngữ ấy là của tôi và của anh, ngôn ngữ ấy cho tôi và
cả cho anh… [12]
Trong hoạt động tôn giáo cũng có những trường hợp tương tự. Đó là việc
dùng những từ như thầy và chú trong những tập hợp từ như sư thầy, chú tiểu để
chỉ cả nam và nữ tu hành. Các nhà ngôn ngữ học có tư tưởng bình đẳng nam nữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status