LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành sâu sắc đến cô giáo
TS. Đỗ Thúy Mùi, người trực tiếp hướng dẫn em nghiên cứu và hoàn thành
khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại học Tây Bắc,
Thư viện Trường Đại học Tây Bắc, Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo
trong khoa Sử - Địa cùng các phòng ban chức năng đã giúp em trong quá trình
nghiên cứu.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới UBND tỉnh Vĩnh Phúc, Sở tài nguyên và
môi trường tỉnh Vĩnh Phúc, Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc, Thư viện huyện Sông Lô,
Lập Thạch đã giúp đỡ em trong việc thu thập tài liệu, thông tin, số liệu cho đề
tài này.
Qua đây, em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, cô
giáo chủ nhiệm, các bạn sinh viên lớp K50 – ĐHSP Địa Lí, cùng toàn thể các
bạn sinh viên khoa Sử - Địa cũng rất quan tâm tạo cho em những điều kiện
thuận lợi trong quá trình nghiên cứu.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến Hội đồng khoa học đã dành thời
gian nghiệm thu và ghi nhận kết quả khóa luận này của em.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện:
Nguyễn Thị Hà
DANH MỤC BẢNG
STT
Số bảng
Tên bảng
Trang
1
2.1
Hiện trạng sử dụng đất trong ngành nông – lâm –
ngư nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005 –
2011
20
2
2.2
Hiện trạng sử dụng đất trong các ngành phi nông
nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005 – 2011
27
3
2.3
Đất chưa sử dụng của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn
2005 - 2011
31
Vĩnh Phúc giai đoạn 2005 - 2011
28 DANH MỤC BẢN ĐỒ
STT
Tên bản đồ
1
Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc
2
Bản đồ địa hình tỉnh Vĩnh Phúc
3
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Vĩnh Phúc MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu 2
2.2. Nhiệm vụ 2
2.3. Giới hạn nghiên cứu 2
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4. Các phương pháp nghiên cứu 4
4.1. Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu 4
4.2. Phương pháp phân tích, so sánh 4
4.3. Phương pháp thực địa 4
4.4. Phương pháp bản đồ, biểu đồ 4
2.1.2.2. Đất phi nông nghiệp 27
2.1.2.3. Đất chưa sử dụng 30
2.2. Những giải pháp để sử dụng hợp lí tài nguyên đất ở tỉnh Vĩnh Phúc 31
2.2.1. Giải pháp quản lí quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 31
2.2.2. Giải pháp về công tác quản lí tài nguyên đất 33
2.2.3. Giải pháp khai thác đối với từng nhóm đất 34
2.2.4. Giải pháp cải tạo, canh tác trên đất dốc (đối với các huyện như Tam Đảo,
Bình Xuyên, Sông Lô, Lập Thạch) 37
2.2.5. Giải pháp tuyên truyền quản lí giáo dục, xã hội 38
2.2.6. Giải pháp xây dựng hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn 38
2.2.7. Các giải pháp khác 39
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có vị trí địa lí,
kinh tế chính trị và an ninh quốc phòng quan trọng. Thiên nhiên đã ưu đãi cho
tỉnh có nhiều điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi, trong đó
đặc biệt là tài nguyên đất phong phú.
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồi, trung du
với vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống
Đông Nam. Bởi vậy, tài nguyên đất rất đa dạng và phong phú. Hiện nay, cùng
với sự phát triển kinh tế và đi lên của xã hội thì nhu cầu sử dụng đất ngày càng
nhiều. Tài nguyên đất được con người sử dụng với nhiều mục đích khác nhau từ
nông – lâm – ngư nghiệp đến các công trình kiến trúc, giao thông vận tải, các
khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho
người sử dụng. Mặt khác, vị trí địa lí của tỉnh đã đem lại cho Vĩnh Phúc nhiều
điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với các tỉnh trong
- Nghiên cứu khái quát địa lí tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc sử dụng tài nguyên đất của tỉnh
Vĩnh Phúc.
- Đề xuất những giải pháp để khai thác, sử dụng tài nguyên đất hợp lí và
có hiệu quả cao.
2.3. Giới hạn nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề sử dụng tài nguyên đất trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc với diện tích tự nhiên là 1.236,5 km
2
, bao gồm 9 đơn vị hành
chính: Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, các huyện: Bình Xuyên, Lập
Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc.
- Thời gian nghiên cứu chủ yếu là từ 1995 đến 2011, đề xuất các giải pháp
đến năm 2030.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề sử dụng tài
nguyên đất. Tác giả Vũ Cao Thái, Phan Quang Khánh và Nguyễn Văn Khiêm,
Viện Thổ nhưỡng nông hóa đã có công trình nghiên cứu: “Điều tra đánh giá tài
nguyên đất theo phương pháp của FAO và quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn
tỉnh (lấy Đồng Nai làm ví dụ)”. Công trình này đã điều tra, đánh giá việc sử
dụng tài nguyên đất theo các tiêu chí của FAO, mà đánh giá cụ thể vào tỉnh
Đồng Nai. Công trình này sẽ là một bước đột phá, giúp các tỉnh thành khác có
thể vận dụng để đánh giá, quy hoạch sử dụng đất hợp lí hơn.
Tác giả Tôn Thất Chiểu, Đỗ Đình Thuận, Hội Khoa học Đất Việt Nam
năm 1996 đã có công trình nghiên cứu: “Đất Việt Nam”. Công trình này đã đánh
giá về tài nguyên đất ở Việt Nam, đất đã khai thác và chưa khai thác, đất đã
được sử dụng vào các mục đích khác nhau. Có thể nói, đây là một công trình có
3
ý nghĩa rất lớn cho các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực từ những nhà quản lí,
đến đời sống, việc làm của người dân; Đánh giá hiện trạng và định hướng sử
dụng đất nông nghiệp huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2008 –
2015; Ứng dụng ảnh viễn thám và công nghệ GIS để thành lập bản đồ biến
động sử dụng đất trên địa bàn phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc;…
4
Những công trình nghiên cứu đó là những tư liệu quý giá giúp cho tác giả
tổng hợp, phân tích, đánh giá việc sử dụng tài nguyên đất ở tỉnh Vĩnh Phúc một
cách đầy đủ hơn.
4. Các phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu
Thu thập, tổng hợp tài liệu là bước đầu tiên trong quá trình nghiên cứu đề
tài. Đã có một số tác giả nghiên cứu về tài nguyên đất ở tỉnh Vĩnh Phúc. Trong
các Nghị quyết, Chỉ thị của tỉnh cũng đã đề cập đến vấn đề khai thác sử dụng tài
nguyên đất. Người nghiên cứu đã thu thập, sưu tầm, tổng hợp các nguồn tài liệu
đó. Tuy nhiên, việc thu thập tài liệu đòi hỏi tác giả phải có tư duy, chọn lọc để
có nguồn tài liệu đáng tin cậy trong quá trình nghiên cứu. Tất cả những nguồn
tài liệu đó giúp tôi hiểu và có cách đánh giá tổng quan hơn về việc sử dụng tài
nguyên đất ở tỉnh Vĩnh Phúc.
4.2. Phương pháp phân tích, so sánh
Phương pháp này được dùng để xử lí và phân tích các thông tin thu thập
được trong sách giáo trình, sách tham khảo, các bài báo… Tôi đã sử dụng
phương pháp này để phân tích, so sánh diện tích đất của toàn tỉnh với cả nước,
diện tích đất giữa các năm, giữa các ngành, các huyện của tỉnh Vĩnh Phúc… Từ
đó, tôi chọn lọc, sắp xếp trình bày vấn đề sao cho đơn giản và dễ hiểu nhất.
4.3. Phương pháp thực địa
Địa lí là môn khoa học gắn với thực tế tự nhiên và xã hội. Nghiên cứu về tài
nguyên đất của tỉnh Vĩnh Phúc, ngoài việc thu thập được các tài liệu lí luận
chung, thì việc nghiên cứu thực tế có vai trò hết sức quan trọng. Thực địa để
tài nguyên đất ở tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề tài hoàn thành là một tư liệu quý để chúng ta hiểu rõ hơn về thực
trạng sử dụng, khai thác tài nguyên đất ở Vĩnh Phúc, giúp cho các nhà quy
hoạch, quản lý tài nguyên đất, các nhà hoạch định chính sách tham khảo thêm để
đề xuất các giải pháp sử dụng tài nguyên đất phù hợp hơn.
- Đề tài hoàn thành còn là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai
đang quan tâm đến địa lý tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm có 2 chương:
Chương 1: Khái quát chung về địa lí tỉnh Vĩnh Phúc;
Chương 2: Thực trạng và những giải pháp khai thác hợp lí tài nguyên đất
ở tỉnh Vĩnh Phúc. 6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA LÍ TỈNH VĨNH PHÚC
1.1. Vị trí địa lí và lãnh thổ
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng thuộc Trung du
và miền núi phía Bắc. Vĩnh Phúc có tọa độ địa lí từ 21
0
08’ – 21
0
19’ vĩ độ Bắc,
105
0
Hiện nay, Vĩnh Phúc nằm trong 3 vùng quy hoạch: vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ, vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Thủ Đô. Thủ tướng Chính
phủ vừa ban hành Quyết định số: 20/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch
chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2030 và tầm nhìn
class="bi x30 y124 w11 h17"
7
đến năm 2050. Như vậy, trong tương lai Vĩnh Phúc sẽ trở thành trung tâm kinh
tế lớn của vùng Thủ đô.
1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
1.2.1. Địa hình
Địa hình Vĩnh Phúc kéo dài theo phương tây bắc - đông nam, là phương
chung của địa hình ở miền Bắc và Đông Bắc Bắc bộ Việt Nam. Phía bắc của
tỉnh có dãy núi Tam Đảo với đỉnh Đạo Trù cao 1.592 m, phía tây Nam được bao
bọc bởi 2 con sông lớn là sông Hồng và sông Lô, tạo nên dạng địa hình thấp dần
từ đông bắc xuống tây nam và chia ra 3 vùng có địa hình đặc trưng: đồng bằng,
gò đồi, núi thấp và trung bình.
Địa hình đồng bằng: gồm 76 xã, phường và thị trấn, với diện tích tự
nhiên là 46.800 ha. Vùng đồng bằng bao gồm vùng phù sa cũ và phù sa mới, chủ
yếu do phù sa của các hệ thống sông lớn như: Sông Hồng, sông Lô, sông Đáy
bồi đắp nên vùng phù sa cũ chiếm diện tích khá rộng, gồm phía bắc của thị xã
Phúc Yên, các huyện Yên Lạc, Vĩnh Tường và phía nam của các huyện Tam
Dương, Bình Xuyên, được hình thành cùng thời kì hình thành châu thổ sông
Hồng, Kỉ Đệ tứ - Thống Pleitoxen. Vùng phù sa mới dọc theo các con sông
thuộc các huyện Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, nam Bình Xuyên, được hình
thành vào thời kì Đệ tứ - Thống Holoxen. Đất đai vùng đồng bằng được phù sa
sông Hồng bồi đắp nên rất màu mỡ, là điều kiện lí tưởng cho việc phát triển kinh
tế nông nghiệp thâm canh.
Địa hình đồi: gồm 33 xã, phường và thị trấn, với diện tích tự nhiên là
24.900 ha, đây là vùng đồi thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả
sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, điều kiện khí hậu ở Vĩnh Phúc cũng có những tác động tiêu
cực nhất định, các hiện tượng thời tiết bất lợi như sương muối, sương giá… có
ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp, sự phân hoá theo mùa rõ rệt đã
gây ra hiện tượng thiếu nước tưới về mùa khô ở một số nơi, lượng nhiệt cao
cộng với độ ẩm lớn là môi trường thuận lợi cho nấm mốc, sâu bệnh và dịch bệnh
phát triển. Những mặt trái này của thời tiết đã gây ra khó khăn cho hoạt động
sản xuất và đời sống của người dân.
Về thuỷ văn, tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều con sông chảy qua, song chế độ
thuỷ văn phụ thuộc vào 2 sông chính là sông Hồng và sông Lô. Sông Hồng chảy
qua Vĩnh Phúc với chiều dài 50 km, còn Sông Lô chảy qua tỉnh dài 35 km, đã
đem phù sa màu mỡ cho đất đai. Ngoài ra, tỉnh còn có hệ thống sông nhỏ như
sông Phan, sông Phó Đáy, sông Cà Lồ có mức tác động thuỷ văn thấp hơn nhiều
so với sông Hồng và Sông Lô, nhưng chúng có ý nghĩa to lớn về thủy lợi.
Hệ thống sông kết hợp với các tuyến kênh mương chính như kênh Liễn
Sơn, kênh Bến Tre cung cấp nước tưới cho đồng ruộng, tạo khả năng tiêu úng
về mùa mưa; hệ thống hồ chứa hàng triệu m
3
nước như: Đại Lải, Thanh Lanh,
Làng Hà, Đầm Vạc, Xạ Hương, Vân Trục, Đầm Thủy…, tạo nên nguồn dự trữ
nước mặt phong phú đảm bảo phục vụ tốt cho hoạt động kinh tế của nhân dân.
1.2.3. Tài nguyên đất
Vĩnh Phúc có tổng diện tích đất tự nhiên là 123.650,05 ha (năm 2011).
Trong đó, đất nông nghiệp là 86.382,3 ha, chiếm 69,9% tổng diện tích; đất phi
nông nghiệp 35.108,6 ha, chiếm 28,4%; đất chưa sử dụng 2.159,2 ha, chiếm 1,8%.
Trong tổng diện tích đất nông nghiệp thì đất sản xuất nông nghiệp là
50.140,5 ha (chiếm 58%); đất lâm nghiệp là 32.574,5 ha (chiếm 37%); đất nuôi
trồng thủy sản là 3.584,1 ha (chiếm 4,1%), còn lại là đất nông nghiệp khác.
9
Khoáng sản ở Vĩnh Phúc được hình thành qua các giai đoạn vận động
kiến tạo địa chất, mỗi một thời kỳ có một số loại khoáng sản đặc trưng, tuy
nhiên cho đến thời điểm hiện nay, khoáng sản ở Vĩnh Phúc chưa được điều tra
theo hệ thống và chưa có mỏ nào được thăm dò chi tiết.
10
Khoáng sản ở Vĩnh Phúc khá đa dạng về loại bao gồm cả các loại khoáng
sản nhiên liệu (than nâu, than bùn), khoáng sản phi kim, khoáng sản kim loại và
các khoáng sản được sử dụng làm vật liệu xây dựng khác. Hầu hết các mỏ
khoáng sản ở Vĩnh Phúc đều có trữ lượng nhỏ, chiều dài vỉa từ vài mét đến vài
chục mét, chiều dày thường không đến một mét. Tài nguyên khoáng sản của tỉnh
bao gồm các nhóm sau:
- Nhóm khoáng sản nhiên liệu: gồm than antraxit trữ lượng khoảng 1
nghìn tấn ở Đạo Trù (Tam Đảo); than nâu ở các xã Bạch Lưu, Đồng Thịnh
(Sông Lô), trữ lượng khoảng vài nghìn tấn; than bùn ở Văn Quán (Lập Thạch);
Hoàng Đan, Hoàng Lâu (Tam Dương) có trữ lượng 693.600 tấn, đã được khai
thác làm phân bón và chất đốt.
- Nhóm khoáng sản kim loại: gồm barit, đồng, vàng, thiếc, sắt Các loại
khoáng sản này được phát hiện chủ yếu ở vùng đứt gãy Tam Đảo và rải rác ở
các huyện Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên.
- Nhóm khoáng sản phi kim loại: nhóm khoáng sản phi kim loại chủ yếu
là cao lanh, tỉnh có khoảng 3 mỏ và 1 điểm quặng với trữ lượng khoảng 4 triệu
tấn, tập trung ở Tam Dương, Vĩnh Yên, Lập Thạch. Đây là nguyên liệu sản xuất
gạch chịu lửa, đồ gốm, sứ, làm chất độn cho sơn, cao su, giấy ảnh, giấy in tiền
- Nhóm vật liệu xây dựng: gồm sét gạch ngói khoảng 10 mỏ với tổng trữ
lượng 51,8 triệu m
3
, sét đồng bằng, sét vùng đồi, sét màu xám đen, xám nâu, cát
sỏi lòng sông và bậc thềm, cát cuội sỏi xây dựng (có 4 mỏ, tổng trữ lượng 4,75
triệu m
Động vật của tỉnh cũng rất đa dạng và độc đáo. Riêng rừng Tam Đảo có
tới 4 lớp động vật, 26 bộ, 86 họ, 282 loài sinh sống. Trong đó, lớp lưỡng cư có
19 loài (cá lóc Tam Đảo, chỉ phát hiện được ở vùng núi Tam Đảo thuộc lớp này
và là loài động vật cực kỳ quý hiếm, được đưa vào sách đỏ); lớp bò sát có 46
loài; lớp chim có 158; lớp thú có 58 loài và các loài nhỏ khác. Một số loài phát
hiện được có giá trị khoa học và giá trị kinh tế cao như: cheo cheo, voọc đen má
trắng, voọc mũi hếch…
Trong số 281 loài động vật đã phát hiện được ở vùng rừng núi Tam Đảo,
có 47 loài được xem là động vật quý hiếm, trong đó có loài hiện đang có nguy
cơ tuyệt diệt. Vườn quốc gia Tam Đảo với diện tích tự nhiên là 36.883 ha,
trong đó có 23.000 ha rừng chạy dài 80 km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Hiện nay, vườn quốc gia Tam Đảo vẫn được xem là một bảo tàng thiên nhiên
vô cùng quý giá, là trung tâm nghiên cứu khoa học về hệ sinh thái rừng, về
bảo vệ nguồn gen động, thực vật quý hiếm, về cân bằng môi trường sinh thái,
điều hoà nguồn nước…
Bảo tồn các loài sinh vật trong vườn quốc gia Tam Đảo nói riêng và khu
vực rừng núi Tam Đảo nói chung có ý nghĩa quan trọng về mọi mặt không chỉ
đối với tỉnh Vĩnh Phúc mà còn đối với cả nước.
1.2.7. Tài nguyên du lịch
Vĩnh Phúc có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch tự nhiên và du lịch
nhân văn. Điều kiện môi trường và sinh thái của Vĩnh Phúc cơ bản còn tốt, vẫn
giữ được yếu tố mà thiên nhiên ưu đãi.
Đặc biệt, vườn quốc gia Tam Đảo với phong cảnh thiên nhiên đẹp, khí
hậu trong lành, mát mẻ và các vùng phụ cận thuộc loại rừng nguyên sinh có
nhiều loài động thực vật được bảo tồn tương đối nguyên vẹn. Bên cạnh đó, Vĩnh
12
Phúc còn có hệ thống sông ngòi, đầm hồ tương đối phong phú, địa thế đẹp có
thể vừa phục vụ sản xuất vừa có giá trị cho phát triển du lịch như: Đại Lải, Vân
Trục, Đầm Vạc, đầm Dưng, Thanh Lanh ; Nhiều lễ hội dân gian đậm đà bản
lâm, ngư nghiệp chiếm 14,8%. Năm 2008, tỉ lệ lao động đã qua đào tạo tăng lên
13
đáng kể đạt 42,9%, năm 2010 tỉ lệ này là 51,2%, năm 2011 đạt 54,9%. Trong đó
chủ yếu là lao động trẻ, có kiến thức văn hóa và tinh thần sáng tạo để tiếp thu kỹ
thuật và công nghệ tiên tiến.
Cùng với tốc độ gia tăng dân số, những năm tới lực lượng lao động sẽ
tăng đáng kể do dân số bước vào tuổi lao động ngày càng nhiều. Mỗi năm tỉnh
có trên 1 vạn người bước vào độ tuổi lao động. Đây là nguồn nhân lực dồi dào
cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đặc biệt là cung cấp và đáp ứng nguồn
nhân lực cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh, đặc biệt là phát triển
công nghiệp, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là đặc biệt quan trọng.
1.3.2. Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng
1.3.2.1. Giao thông
Vĩnh Phúc tập trung xây dựng hệ thống các loại hình giao thông vận tải,
đảm bảo nhu cầu lưu thông đi lại của nhân dân, thuận lợi phát triển kinh tế.
Mạng lưới giao thông bao gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy.
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, đường bộ có tổng chiều dài là 4.058,4 km,
trong đó: Quốc lộ: 105,3 km, trên địa bàn tỉnh có 4 tuyến quốc lộ đi qua là quốc
lộ 2, quốc lộ 2B, quốc lộ 2C và quốc lộ 23; Đường tỉnh: 297,55 km có 18 tuyến,
về chất lượng mặt đường cơ bản được rải nhựa hoặc bê tông xi măng; Đường đô
thị: 103,5 km, bao gồm Thành phố Vĩnh Yên 61,7 km, TX. Phúc Yên 27,8 km và
thị trấn Tam Đảo 14 km. Trong đó, có 90,7 km (chiếm 87,6%) đường đã được
rải nhựa hoặc bê tông hoá, còn 12,8 km là đường cấp phối thuộc thị xã Phúc
Yên; Đường huyện: 426 km với 290,5 km (chiếm 68,2%) đã được rải nhựa hoặc
bê tông xi măng, có 40,1 km đang thi công (chiếm 11,4%) còn lại là đường cấp
phối; Đường xã: 3.136 km, đã từng bước xây dựng với quy mô hiện đại đáp ứng
được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế của đất nước.
(2x125)MVA lên quy mô (125+ 205)MVA, vận hành năm 2012. Xây dựng mới
đường dây mạch kép trạm biến áp 220 KV Bá Thiện - trạm biến áp 220 KV Sóc
Sơn, chiều dài 28 km, tiết diện ACK500, vận hành năm 2013.
Lưới điện 110 KV: xây dựng mới 6 trạm biến áp với tổng công suất 332
MVA và xây dựng mới 71 km đường dây 110 KV.
Hiện tại, trên địa bàn tỉnh hệ thống cấp điện gồm có: Đường dây, trạm
biến áp và nhiều công trình đang triển khai xây dựng, như: Đường dây 220 KV
và các đường dây 110 KV vận hành tốt, ổn định và vừa tải. Các trạm biến áp 110
KV gồm có: trạm Lập Thạch, trạm Vĩnh Yên, trạm Phúc Yên. Các trạm 110 KV
và hầu hết các trạm trung gian hiện đang vận hành ở chế độ đầy tải. Tỉnh còn có
một số công trình đang được xây dựng: Đường dây và trạm 110 KV Thiện Kế,
đường dây và trạm biến áp 110 KV Vĩnh Tường. Ngoài ra, đang có kế hoạch
nâng công suất trạm 110 KV Phúc Yên.
15
1.3.2.3. Hệ thống thông tin liên lạc
Hệ thống cơ sở vật chất ngành bưu chính viễn thông liên tục được đầu tư
nâng cấp, đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin liên lạc của mọi tổ chức, cá nhân
có nhu cầu, đồng thời phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh.
Dịch vụ bưu chính hiện nay đã được phát triển rộng khắp trong toàn tỉnh
Vĩnh Phúc. Theo thống kê, đến năm 2008, tất cả các xã đã có điểm phục vụ, với
176 điểm phục vụ, trong đó có 27 bưu cục và 123 điểm bưu điện văn hoá xã.
Nhìn chung, cùng với sự phát triển nhanh của mạng lưới thông tin trong
cả nước, mạng lưới bưu chính, viễn thông, thông tin trong tỉnh đã đáp ứng được
yêu cầu thông tin phục vụ sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của người dân. Mạng
thông tin, hạ tầng viễn thông phục vụ công tác quản lý ngày càng hiện đại đã
đáp ứng được đầy đủ và kịp thời công tác thông tin phục vụ yêu cầu chỉ đạo,
- Giáo dục Trung học cơ sở
Năm học 2009 - 2010 có 146 trường. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia còn
thấp (mới có 42/146 trường, đạt tỷ lệ 28,8%). Chất lượng giáo viên THCS từng
bước được nâng lên và ở mức khá. Tính chung tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn trở lên
là 98,2%, trong đó trên chuẩn là 55,2%.
- Giáo dục THPT
Giáo dục THPT tiếp tục phát triển theo chiều sâu. Tỷ lệ học sinh tốt
nghiệp THCS được vào học lớp 10 và bổ túc THPT đạt 91,7% so với số học
sinh tốt nghiệp THCS năm vào năm học 2008 - 2009.
Toàn tỉnh có 38 trường THPT, trong đó có 36 trường công lập và 2 trường
dân lập. Nhìn chung, hệ thống giáo dục phổ thông của tỉnh về cơ bản có đủ
giáo viên về số lượng. Song, nếu xét về cơ cấu môn học thì còn thiếu giáo
viên ở một số bộ môn, đặc biệt là một số bộ môn quan trọng như tin học,
ngoại ngữ. Chất lượng đội ngũ giáo viên được đảm bảo và thường xuyên
được bồi dưỡng, nâng cao.
- Giáo dục thường xuyên
TTGDTX trên địa bàn tỉnh gồm có TTGDTX tỉnh, 7 TTGDTX của các
huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh, 135 Trung tâm học tập công đồng
cấp xã, phường, thị trấn. Các TTGDTX trên địa bàn tỉnh có nhiệm vụ tổ chức bổ
túc văn hoá THPT và triển khai tổ chức dạy nghề, tổ chức các lớp liên kết, hỗ
trợ đào tạo đại học, cao đẳng, và tư vấn giúp đỡ các trung tâm học tập cộng đồng
tại địa phương, bước đầu đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân.
1.3.2.5. Y tế
Mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở được kiện toàn và hoạt động có nề nếp.
Tuyến tỉnh có 6 bệnh viện chuyên khoa và đa khoa; 9 Bệnh viện đa khoa cấp
huyện và 8 phòng khám đa khoa trực thuộc bệnh viện huyện; 9 Trung tâm y tế; 9
Trung tâm An toàn vệ sinh thực phẩm; tuyến xã có 139/137 trạm y tế.
Mạng lưới y tế cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển: 132/137
17