I
Stt
1
ASEAN
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
2
CHLB
Cộng hòa liên bang
3
CSHT
Cơ sở hạ tầng
4
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
5
TP
Thành phố
6
UBND
Uỷ ban nhân dân
1.1.3.1. Cơ sở hạ tầng 8
1.1.3.2. Cơ sở vật chất kĩ thuật 9
9
1.2.1. Tình hình phát triển du lịch Việt Nam 9
1.2.1.1. Số lượng khách du lịch 9
1.2.1.2. Doanh thu du lịch 10
1.2.1.3. Cơ sở lưu trú 10
1.2.1.4. Lao động ngành du lịch 11
1.2.2. Tình hình phát triển vùng du lịch Bắc Bộ 11
13
13
13
2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên 13 2.2.1.1. Địa hình 13
2.2.1.2. Khí hậu 15
2.2.1.3. Sông ngòi và hồ 17
2.2.1.4. Sinh vật 18
2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn 19
2.2.2.1. Dân cư, dân tộc 19
2.2.2.2. Các di tích lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, khảo cổ, kiến trúc 21
2.2.2.3. Lễ hội và văn hóa dân gian 22
2.2.2.4. Kiến trúc, nghệ thuật 26
26
2.3.1. Hệ thống giao thông vận tải 26
2.3.2. Thông tin liên lạc 27
2.3.3. Hệ thống điện 28
2.3.4. Hệ thống cung cấp nước 28
PHÁT
3.3.2.3. Định hướng sản phẩm 45
3.3.2.3. Định hướng tổ chức không gian du lịch 46
3.3.2.4. Định hướng đầu tư phát triển du lịch 47
3.3.3. Các giải pháp phát triển du lịch 47
3.3.3.1. Giải pháp về đầu tư phát triển du lịch 48
3.3.3.2. Giải pháp về bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch 48
3.3.3.3. Giải pháp về xúc tiến quảng bá 49
3.3.3.4. Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 50
3.3.3.5. Giải pháp về hợp tác quốc tế phát triển phát triển du lịch 50
3.3.3.6. Nhóm giải pháp về bảo đảm an ninh quốc phòng 51
52
D
STT
Trang
1
2.1
Mức độ thuận lợi của khí hậu đối với hoạt động
du lịch nghỉ dưỡng.
15
2
2.2
Hiện trạng số cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn giai đoạn 2000 - 2012
33
STT
Hình
Trang
1
3.1
Biểu đồ thể hiện thu nhập của ngành du lịch Lạng
Sơn giai đoạn 2000 - 2008
31
STT
1
Bản đồ hành chính tỉnh Lạng Sơn
2
Bản đồ tài nguyên du lịch
3
Bản đồ tổ chức không gian và tuyến, điểm du lịch
Lạng Sơn, từ đó, nghiên cứu đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch
Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay, đồng thời đưa ra những phương hướng và
giải pháp cho hoạt động du lịch là cần thiết. Vì vậy, tôi đã chọn nghiên cứu
đề tài: “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn”.
2.1. Mục tiêu
Trên cơ sở đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch của tỉnh, đề
tài đề xuất những định hướng và giải pháp để phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn có
hiệu quả và bền vững.
2.2 . Nhiệm vụ
- Khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch.
- Phân tích, đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn. 2
- Đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển du lịch của tỉnh Lạng
Sơn đến năm 2020.
2.3. Giới hạn
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển
du lịch tỉnh Lạng Sơn. Từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp cho sự phát
triển du lịch của tỉnh.
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch Lạng Sơn từ
năm 1995 đến năm 2012 và đề xuất các giải pháp để phát triển đến năm 2020.
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi tỉnh Lạng Sơn,
với diện tích 8323,78 km².
3.
3.1. Trên thế giới
Hoạt động du lịch xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người, buổi ban đầu
thường đi kèm với các hoạt động truyền giáo, buôn bán hoặc thám hiểm các
vùng đất mới. Tuy nhiên, nếu xét trong hệ thống khoa học địa lý thì địa lý du
trình nghiên cứu về du lịch. Các nghiên cứu này có ý nghĩa rất lớn đối với việc
phát triển du lịch của các quốc gia trên thế giới.
3.2. Ở Việt Nam
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang phát triển nhanh và mạnh ở tất cả các
ngành kinh tế. Hòa chung xu thế đó, ngành du lịch nước ta cũng được quan tâm
và phát triển.
Hoạt động du lịch ở nước ta buổi ban đầu thường gắn với du lịch bao cấp
(khách mời của nhà nước). Do đó hoạt động du lịch của nước ta thực sự phát
triển từ thập niên 90 trở lại đây. Vì thế các công trình nghiên cứu cũng được bắt
đầu từ thời gian ấy. Một số công trình khởi đầu và cũng là nền tảng cho du lịch
đáng chú ý như: Cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng hệ thống du lịch Việt
Nam (đề tài cấp nhà nước, chủ nhiệm Vũ Tuấn Cảnh, 1993 – 1995); Quy hoạch
tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010; Chiến lược phát triển du
lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 của Tổng cục du lịch
Việt Nam…
Thêm vào đó, còn nhiều tác giả dành thời gian tìm hiểu về du lịch và trình
bày dưới dạng sách như: Non nước Việt Nam (Phạm Công Sơn, 2009); Tổ chức
lãnh thổ du lịch Việt Nam (Lê Thông, 1998); Địa lý du lịch Việt Nam (Nguyễn
Minh Tuệ, 2010); Địa lý dịch vụ (Nguyễn Minh Tuệ, 2012)… các sách này đã
trình bày khái quát đặc điểm du lịch của nước ta về tiềm năng, thực trạng và
hướng phát triển.
Ngoài nghiên cứu du lịch cả nước, cũng có các bài nghiên cứu du lịch ở
từng vùng miền cụ thể của nước ta của viện nghiên cứu phát triển du lịch, tổng
cục du lịch: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Bộ và định hướng
đến năm 2020 (2000), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ
đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (2000); Quy hoạch tổng thể phát
triển du lịch vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020 (2000). Các bài nghiên cứu ở từng vùng miền này đã chỉ ra tiềm năng,
thực trạng du lịch của từng vùng. Trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó
khăn để đề ra các bước đi trong các năm tới.
tuyến, trục du lịch đường bộ, đường sắt nối liền với các trung tâm du lịch lớn
của cả nước. Quan điểm hệ thống cấu trúc cho phép phân tích, tổng hợp và xác
định mối quan hệ hữu cơ trong hoạt động sử dụng tài nguyên và phát triển kinh
tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn. Như vậy, khi đánh giá tiềm năng cũng như xác định
hướng phát triển phải xem xét trong mối quan hệ đó.
- Quan điểm lịch sử
Áp dụng quan điểm lịch sử trong nghiên cứu hệ thống lãnh thổ để tìm hiểu
nguồn gốc phát sinh, các quá trình diễn biến theo thời gian và không gian trên
từng địa bàn cụ thể. Trên cơ sở đó hiểu rõ những sự kiện có thật trong lịch sử để
rút ra những bài học kinh nghiệm áp dụng cho hoạt động du lịch. 5
Lạng Sơn là tỉnh có chiều dài lịch sử vẻ vang từ thời dựng nước và giữ
nước với nhiều di tích lịch sử còn mãi đến ngày nay. Đây là tài nguyên quan
trọng đã và đang khai thác phục vụ mục đích du lịch.
- Quan điểm thực tiễn
Quan điểm thực tiễn được vận dụng để đánh giá đặc điểm, hiện trạng sử
dụng lãnh thổ cũng như trong việc đề xuất định hướng sử dụng hợp lý tài
nguyên lãnh thổ với những kiến nghị và giải pháp có tính khả thi. Tất cả những
giải pháp đưa ra đều được xuất phát từ thực tiễn. Không thể đánh giá cũng như
đưa ra các giải pháp nếu không xuất phát từ thực tiễn. Quan điểm này chi phối
tới giới hạn nghiên cứu của đề tài.
- Quan điểm phát triển bền vững
Đây là quan điểm xuyên suốt đề tài. Chúng ta phải tính đến yếu tố phát
triển bền vững khi sử dụng tài nguyên du lịch, có nghĩa là phải tính đến hậu quả
lâu dài sẽ nảy sinh trong tương lai. Chính vì thế, khi nghiên cứu đề tài phải tính
hành phân tích, so sánh, đối chiếu để có kết quả với độ tin cậy cao. Trên cơ sở
số liệu đó có thể xây dựng được bản đồ, biểu đồ và đưa ra được những kết luận
chân thực, chính xác.
4.2.4. Phương pháp bản đồ
Là phương pháp đặc trưng của địa lí, việc trình bày những dữ kiện du lịch
trên bản đồ là rất cần thiết giúp chúng ta dễ dàng nắm bắt được những thông tin
quan trọng, cập nhật, đáp ứng cho việc đi lại, tham quan, giải trí ăn ở. Để xây
được bản đồ đề tài có sử dụng bản đồ chức năng như bản đồ hành chính, bản đồ
tài nguyên du lịch và các số liệu nghiên cứu.
5. tài
Đề tài hoàn thành sẽ có một số đóng góp:
- Bước đầu đánh giá được tiềm năng phát triển du lịch Lạng Sơn cũng như
thực trạng phát triển du lịch của tỉnh.
- Đề xuất được một số định hướng cũng như giải pháp phát triển du lịch
Lạng Sơn đạt hiệu quả và bền vững.
6. Cu trúc c tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch
Chương 2. Tiềm năng du lịch tỉnh Lạng Sơn
Chương 3. Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển du lịch Lạng Sơn 7
Như vậy có thể kết luận rằng: du lịch là một hoạt động của con người liên quan
tới việc di chuyển chỗ ở đến một nơi khác, trong một khoảng thời gian ngắn để
thỏa mãn việc nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu, khám phá… và có tiêu thụ các giá trị
tự nhiên, kinh tế, xã hội tại nơi du lịch.
1.1.2. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những
thành phần của chúng giúp cho việc phục hồi, phát triển thể lực, tinh lực, khả
năng lao động và sức khỏe của con người mà chúng được sử dụng trực tiếp hoặc 8
gián tiếp để tạo ra dịch vụ du lịch gắn liền với nhu cầu ở thời điểm hiện tại hay
tương lai và trong điều kiện kinh tế - kĩ thuật cho phép (Pirojnik, 1985).
Theo Luật du lịch (2005), tài nguyên du lịch được chia thành hai loại là
tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
- Tài nguyên du lịch tự nhiên: là các đối tượng và hiện tượng trong môi
trường tự nhiên bao quanh chúng ta bị lôi cuốn vào hoạt động du lịch. Tài
nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, địa
hình, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ
mục đích du lịch.
- Tài nguyên du lịch nhân văn: gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn
hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công
trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể
khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
Như vậy, tài nguyên du lịch được khái quát theo sơ đồ sau:
Khí
Sinh
Di
tích
hóa
Dân
Nhân
khác
Khách du lịch nước tăng nhanh, gồm khách quốc tế và khách nội địa.
Khách quốc tế
Khách quốc tế đến nước ta chủ yếu từ sau năm 1990. Vào đầu thập kỷ 90
của thể kỷ XX lượng khách quốc tế tăng nhanh, từ 25.000 người năm 1990 tăng
lên 67.000 người năm 1993 và đạt ngưỡng một triệu lượt người năm 1994. Đây
có thể coi là bước ngoặt về số lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Tốc độ tăng
trưởng khách quốc tế trong những năm này khá cao. Mặc dù nhiều khi số lượng
khách quốc tế bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế hay dịch bệnh nhưng xu
hướng chung vẫn tăng lên. Năm 2012 đạt 6647 nghìn lượt khách. 10
Về cơ cấu khách du lịch, khách đến nước ta chủ yếu là khách từ Đông Á và
Đông Nam Á, trong đó chiếm ưu thế là khách Trung Quốc (17,9%) và Hàn
Quốc (9,8%). Tiếp theo là khách Hoa Kỳ, số lượng khách này tăng nhanh, đặc
biệt là sau khi bình thường hóa quan hệ với Việt Nam.
Khách nội địa
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, số lượng khách nội địa không
ngừng tăng lên. Nếu như năm đầu của thập niên 90, số lượng khách du lịch nội
địa mới chỉ đạt một triệu lượt, thì đến năm 1995 tăng lên 5,5 triệu lượt, năm
2012 đạt 32,5 triệu lượt.
1.2.1.2. Doanh thu du lịch
Do số lượng khách du lịch ngày một đông cùng với các hoạt động dịch vụ
du lịch phát triển mạnh nên doanh thu từ du lịch cũng tăng lên nhanh chóng.
Năm 2000, doanh thu du lịch đạt 17,4 nghìn tỉ đồng, năm 2005 đạt 30 nghìn tỉ
đồng. Năm 2007 là 56 nghìn tỉ đồng, năm 2010 là 96 nghìn tỉ đồng và năm 2012
đạt 160 nghìn tỉ đồng, tăng gấp hơn 9 lần so với năm 2000 và chiếm 5% GDP
của cả nước.
Về cơ cấu doanh thu, nguồn thu chủ yếu là từ hoạt động lưu trú. Tuy
nhiên, cơ cấu nguồn thu đang có sự thay đổi theo hướng giảm dần tỉ trọng lưu
lên chiếm 13,2%, trình độ trung cấp và tương đương chiếm 18,6%, trình độ sơ
cấp 23,5%. Du lịch là ngành có yêu cầu cao về trình độ ngoại ngữ. Đến năm
2010 có khoảng 60% lao động biết và sử dụng các loại ngoại ngữ khác nhau,
trong đó tiếng Anh chiếm tỉ lệ cao nhất.
Song bên cạnh đó, nguồn lao động của ngành du lịch còn ít, chưa đáp ứng
được yêu cầu. Lao động chưa có trình độ còn chiếm số lượng lớn, ảnh hưởng
không nhỏ đến hoạt động du lịch.
1.2.2. Tình hình phát triển vùng du lịch Bắc Bộ
Vùng du lịch Bắc Bộ bao gồm 28 tỉnh, thành phố kéo dài từ Hà Giang đến
Hà Tĩnh. Đây là nơi hội tụ đầy đủ các tiềm năng phát triển du lịch của Việt
Nam. Trong số 3 vùng du lịch, thì vùng du lịch Bắc Bộ là vùng có diện tích tự
nhiên lớn nhất, với 150051,6 km² và dân số 38491,5 nghìn người (2010); chiếm
45,3% diện tích tự nhiên và 44,3% dân số cả nước với mật độ trung bình 257
người/km².
Vùng du lịch Bắc Bộ có 7 tỉnh tiếp giáp với Trung Quốc (Quảng Ninh,
Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên) và 5 tỉnh tiếp
giáp với nước bạn Lào (Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh).
Đặc biệt toàn bộ phía đông của vùng tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ có chiều dài bờ
biển gần 1000km và hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có nhiều đảo có giá
trị về mặt du lịch.
Vùng du lịch Bắc Bộ là vùng có vị trí chiến lược quan trọng, có tiềm năng
và lợi thế to lớn đối với sự phát triển xã hội, quốc phòng an ninh, môi trường
sinh thái của cả khu vực Bắc Bộ và cả nước. Vùng có nhiều điểm du lịch nổi
tiếng như Điện Biên, Sa Pa, Đền Hùng, Kim Liên… trong thời gian qua vùng đã
thu hút một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước.
Có thể nói vùng du lịch Bắc Bộ biểu hiện đầy đủ, tập trung về đất nước và
con người Việt Nam. Thiên nhiên của vùng rất đa dạng và có nhiều nét độc đáo
mang sắc thái của cảnh quan nhiệt đới gió mùa ẩm. Bên cạnh đó, vùng còn là cái
trở thành một ngành kinh tế thu nhiều ngoại tệ cho quốc gia. Nước ta hiện nay
đã và đang đẩy mạnh phát triển du lịch dựa trên các nguồn tài nguyên du lịch
phong phú của nước ta. Phát triển du lịch đi đôi với phát triển bền vững và đưa
nước Việt Nam tiến gần hơn với thế giới. 13
g 2 2.1.
Lạng Sơn – hay còn gọi là “xứ Lạng”, là một tỉnh miền núi Đông Bắc
Việt Nam. Có tọa độ địa lí được xác định từ 21º19’00’’ đến 22º27’30’’ vĩ độ
Bắc và 106º06’07’’ đến 107º21’45’’ kinh độ Đông.
Lạng sơn tiếp giáp với tỉnh Cao Bằng ở phía Bắc (ranh giới dài 55km),
với tỉnh Bắc Giang ở phía Nam (148km), Thái Nguyên (60km) ở phía Tây và
Tây Nam, với tỉnh Quảng Ninh ở phía Đông Nam và tỉnh Quảng Tây (Trung
Quốc) ở phía Đông Bắc với ranh giới dài 253km.
Tỉnh Lạng Sơn gồm một thành phố: thành phố Lạng Sơn và 10 huyện:
Lộc Bình, Đình Lập, Bắc Sơn, Văn Quan, Hữu Lũng, Bình Gia, Văn Lãng,
Tràng Định, Thất Khê, Cao Lộc với tổng diện tích 8320,76 km² (2011) với hơn
80% diện tích là đồi núi, với dân số là 741238 người (2011).
Lạng Sơn nằm ở vị trí có các tuyến đường bộ quan trọng: quốc lộ 1A nối
Lạng Sơn với thủ đô Hà Nội, quốc lộ 1B (Lạng Sơn – Thái Nguyên), quốc lộ 4A
(Lạng Sơn – Cao Bằng), quốc lộ 4B (Lạng Sơn – Quảng Ninh), quốc lộ 31 nối
với cửa khẩu quốc gia Chi Ma. Lạng Sơn còn có tuyến đường sắt liên vận quốc
tế Hà Nội – Lạng Sơn đến cửa khẩu Đồng Đăng dài 162km. Đây là một sự thuận
Quan và tiểu vùng Hữu Lũng. Độ cao trung bình toàn vùng là 400 – 500m , cao
về phía Tây Bắc (độ cao 500 – 600m) và thấp dần về phía Đông Nam (độ cao
300m). Trong vùng đá vôi rộng lớn này đang diễn ra quá trình Cácxtơ hóa với
mức độ khác nhau, tạo thành các dạng địa hình đá tai mèo, phiễu cácxtơ, thung
lũng cácxtơ, hang động cácxtơ… Trong khu vực vùng đá vôi Bắc Sơn có nhiều
hang động cácxtơ không chỉ đẹp mà còn là di chỉ khảo cổ của nền văn hóa tiền
sử Bắc Sơn, có giá trị phục vụ du lịch và thăm quan nghiên cứu, ví dụ như hang
Cả (dài 3342m), hang Dơi (có cửa hang dài tới 110m). Các hang có phong cảnh
đẹp là hang Canh Tẻo, Đồng Mỏ, hang Gió ở huyện Chi Lăng, hang Thẩm
Khuyên, Thẩm Hai ở huyện Bình Gia…
- Vùng đồi núi tả ngạn sông Kì Cùng và dọc thung lũng sông Thương,
chiếm 40% diện tích lãnh thổ của tỉnh. Bao gồm 4 tiểu vùng: tiểu vùng đồi núi
huyện Bình Gia và phía tây các huyện Tràng Định, Bắc Sơn; tiểu vùng đồi núi
phía đông huyện Chi Lăng và phía Nam các huyện Cao Lộc, Lộc Bình và Đình
Lập; tiểu vùng đồi núi huyện Văn Quan; tiểu vùng đồi núi dọc thung lũng sông
Thương. Địa hình ở đây chủ yếu là núi thấp và đồi, cấu tạo chủ yếu bằng đá
trầm tích lục nguyên, có xen một ít đá mắc ma. Hướng dốc của địa hình là từ
Tây Bắc (giáp Cao Bằng, Bắc Cạn) xuống Đông Nam (Bắc Giang). Độ cao
trung bình ở phần Tây Bắc là 700 – 800m và phần phía nam là 200 - 300m.
Vùng này do điều kiện địa hình cộng với khí hậu đặc trưng đã tạo nên những sản
phẩm nông nghiệp nhiệt đới (như khoai, lạc ) cùng với các loại cây ăn quả nổi
tiếng như na Chi Lăng, quýt Bắc Sơn… đã tạo nên vùng nông sản phục vụ
khách du lịch.
- Vùng máng trũng Thất Khê – Lộc Bình và đồi núi dọc biên giới Việt –
Trung, chiếm khoảng 35% diện tích lãnh thổ, gồm 8 tiểu vùng: tiểu vùng bồn
địa Thất Khê; tiểu vùng bồn địa Na Dương – Lộc Bình; tiểu vùng bồn địa Bản
Ngà – thành phố Lạng Sơn; tiểu vùng núi Mẫu Sơn; tiểu vùng thượng nguồn
sông Kì Cùng; tiểu vùng núi Khau Phạ; tiểu vùng Tri Phương và tiểu vùng đồi
núi dọc biên giới Việt Trung. Các tiểu vùng tạo thành một dải đất trũng chạy
Về lượng mưa, Lạng Sơn nằm trong khu vực ít mưa. Lượng mưa trung
bình năm là 1450mm với số ngày mưa là 135 ngày. Nơi có lượng mưa trên
1600mm là vùng núi Mẫu Sơn (2589mm). Vùng giữa các tỉnh với phần đất rộng
lớn lại là nơi nhận được ít mưa nhất như Na Sầm (1118mm), Đồng Đăng
(1100mm). Chế độ mưa phân hóa thành hai mùa: mùa mưa tương ứng với mùa
hè và mùa khô là mùa đông, mưa trong hè chiếm đến 80% lượng mưa, nhưng
mùa khô lại không sâu sắc do có mưa phùn trong mùa đông.
Độ ẩm tương đối đạt 83% và ít chênh lệch về độ ẩm giữa các vùng theo độ
cao. Tháng 7 có độ ẩm cực đại đạt 85%, còn tháng một là cực tiểu chỉ đạt 78%. 16
Do ảnh hưởng của vị trí địa lý và địa hình mà khí hậu có sự phân hóa tạo
nên tính chất riêng biệt so với các nơi khác và chia Lạng Sơn thành ba tiểu vùng
khí hậu:
Tiểu vùng khí hậu núi cao Mẫu Sơn: là nơi ôn hoà và mát mẻ nhất tỉnh
Lạng Sơn.
Tiểu vùng khí hậu núi trung bình và đồi núi thấp phía bắc và phía đông:
ấm và ẩm hơn, có diện tích rộng nên có sự phân hoá trong tiểu vùng.
Tiểu vùng khí hậu núi thấp phía nam: nơi có nhiệt độ cao nhất tỉnh và
lượng mưa khá. Đặc điểm khí hậu mang tính chất quá độ giữa nhiều khu vực
khác nhau.
Sự phân hóa khí hậu như trên đã cho phép Lạng Sơn có thể phát triển đa
dạng, phong phú các cây trồng ôn đới, á nhiệt đới và nhiệt đới. Đặc biệt là các
loại cây trồng dài ngày như: hồi, trám, quýt, lê, thông… Sự phân hóa theo mùa
của khí hậu còn còn tạo nên những rau quả, hương liệu ôn đới đặc trưng như:
hồi, đào, mận, na… là sản phẩm du lịch đặc trưng mà mọi du khách đến nơi đây
đều muốn mua về làm quà.
Ở Lạng Sơn hàng năm xảy ra các hiện tượng thời tiết đặc biệt như: sương
muối, sương mù, mưa phùn và đặc biệt là băng tuyết. Về mùa đông ở khu vực
Ghi chú:
Rất thích hợp với sức khỏe con người
Thích hợp với sức khỏe con người
Ít thích hợp cho sức khỏe con người
(Nguồn: Trung tâm xúc tiến du lịch tỉnh Lạng Sơn) 17
Tuy nhiên các tháng không thuận lợi là vào mùa hè, khi đó có một số địa điểm
như núi Mẫu Sơn có khí hậu mát mẻ thuận lợi phát triển du lịch nghỉ dưỡng.
Nét đặc trưng của khí hậu còn tạo nên những mùa du lịch của Lạng Sơn. Và
với khu nghỉ dưỡng Mẫu Sơn thì mùa hè là mùa nghỉ mát trên núi cao, còn mùa
đông lại là lúc chiêm ngưỡng những hiện tượng thời tiết hiếm thấy.
Nhìn chung đặc điểm khí hậu, thời tiết Lạng Sơn thuận lợi cho các hoạt
động du lịch. Chính đặc điểm này đã tạo nên sự đa dạng về các giá trị tự nhiên,
cảnh quan lãnh thổ, làm tăng tính hấp dẫn của du lịch.
2.2.1.3. Sông ngòi và hồ
Là tỉnh miền núi và nằm trong đới khí hậu gió mùa nên Lạng Sơn có nhiều
sông, suối, ao, hồ. Mật độ sông suối của Lạng Sơn thuộc loại trên trung bình so
với cả nước, từ 0,6 – 1,2 km/ km². Tổng lưu lượng nước của các sông hàng năm
đạt 5,9 tỉ m³.