y
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NGÀNH: KINH TẾ - XÃ HỘI
TÌM HIỂU TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG
Người hướng dẫn khoa học: T.S. Nguyễn Xuân Trường
TRẦN THỊ HƯƠNG
NGUYỄN THỊ LIÊN
HỒ HUYỀN TRANG
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, tìm tòi với sự cố gắng của bản thân cùng
sự giúp đỡ của thầy, cô giáo và bạn bè trong khoa chúng tôi đã hoàn thành đề
tài: “Tìm hiểu tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Hà Giang”.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của thầy
giáo TS Nguyễn Xuân Trường và các thầy, cô giáo trong khoa Địa lý, Trường
Đại Học Sư Phạm thuộc Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho
chúng tôi thực hiện đề tài của mình.
Chúng tôi cung xin chân thành cảm ơn: UBND tỉnh Hà Giang, Cục thống
kê tỉnh Hà Giang, Sở văn hóa – du lịch và thể thao tỉnh Hà Giang… đã giúp
đỡ chúng tôi hoàn thành đề tài này.
Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành đề tài do khó khăn về thời gian
và năng lực nghiên cứu còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì
vậy, chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô và
các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2012
5.2.2. Phương pháp bản đồ, biểu đồ 13
5.2.3. Phương pháp chuyên gia 13
6. Cấu trúc đề tài 14
PHẦN NỘI DUNG 15
iii
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH 15
1.1. Cơ sở lý luận về du lịch 15
1.1.1. Các khái niệm về du lịch 15
1.1.2. Chức năng của du lịch 20
1.1.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch 21
1.1.4. Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch 25
1.2. Cơ sở thực tiễn 27
1.2.1. Thực tiễn phát triển du lịch ở Việt Nam 27
1.2.2. Thực tiễn phát triển du lịch vùng Trung du và miền núi phía
Bắc 29
Chương 2
TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG 34
2.1. Khái quát chung về Hà Giang 34
2.1.1. Vài nét về lịch sử Hà Giang 34
2.1.2. Tổng quát về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 34
2.2. Tài nguyên du lịch 37
2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên 37
2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn 49
2.2.4. Văn hóa ẩm thực vùng cao Hà Giang 60
2.3. Cơ sở hạn tầng và chính sách phát triển du lịch 62
2.3.1. Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải 62
2.3.2. Bưu chính viễn thông 65
2.3.3. Thực trạng phát triển hệ thống đô thị 65
2.3.4. Đường lối, chính sách phát triển du lịch 67
5 KH Khoa học
6 DL Du lịch
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Lượng khách và doanh thu du lịch Hà Giang 2008 - 2011 73
Bảng 3.2: Số lượng cơ sở lưu trú của Hà Giang giai đoạn 2002 - 2011 76
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang 35
Hình 3.1: Lược đồ tuyến điểm du lịch tỉnh Hà Giang 89
vii
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, du lịch - ngành kinh tế được ví là “công nghiệp không khói”
- đang trở thành hoạt động kinh tế sôi động hàng đầu thế giới. Du lịch là một
ngành kinh tế tương đối nhạy cảm và có trách nhiệm với môi trường, vì vậy
phát triển du lịch góp phần khai thác có hiệu quả cũng như bảo vệ, tôn tạo tài
nguyên thiên nhiên và văn hóa của đất nước, bảo vệ môi trường tự nhiên.
Cùng với xu hướng đó, Việt Nam với tiềm năng du lịch rất phong phú, đa
dạng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch phát triển và khẳng định vị
thế trong nền kinh tế quốc dân.
Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, có vị trí chiến lược
quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và đối
ngoại. Phía bắc Hà Giang có đường biên giới 277,5 km với Trung Quốc, phía
đông, tây và nam Hà Giang giáp với các tỉnh có tiềm năng du lịch như: Cao
Bằng, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, đây là điều kiện rất thuận lợi cho việc
phát triển các tuyến du lịch liên tỉnh. Hà Giang là một vùng đất có tiềm năng
rất lớn về du lịch, đặc biệt là phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng.
Cùng với đó là lợi thế tiếp giáp với nước bạn Trung Quốc và nhiều địa bàn
nội địa có ngành du lịch đang phát triển mạnh như Lào Cai, Tuyên Quang,
Bắc Cạn, Cao Bằng… Hà Giang còn có bản sắc văn hoá của cộng đồng 22
Ngoài ra các nhà địa lý Mỹ như Bôhart (1971), nhà địa lý Anh H.Robison
(1976), các nhà địa lý Canada)… cũng đã tiến hành đánh giá các loại tài
nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích du lịch. Bên cạnh đó, một khía cạnh
quan trọng trong nghiên cứu du lịch đã được quan tâm là vấn đề tổ chức lãnh
thổ du lịch. Các nhà địa lý du lịch trên thế giới đã có nhiều công trình nổi
tiếng về vấn đề này được xem là kim chỉ nam - là cơ sở lý luận có tính kế
9
thừa cho các nghiên cứu về sau. Các công trình nghiên cứu đã xác định đối
tượng nghiên cứu của địa lý du lịch là hệ thống lãnh thổ du lịch các cấp hoặc
thể tổng hợp lãnh thổ du lịch và phân tích cơ cấu tổng hợp các yếu tố trên địa
bàn để phát triển du lịch.
Trong những năm gần đây, những lợi ích của du lịch trở nên rõ ràng
hơn cũng như tác động của nó đối với hàng loạt vấn đề nảy sinh mang tính
toàn cầu thì việc nghiên cứu du lịch gắn với sự phát triển vùng lại càng trở
nên cần thiết. Ở Pháp, Jean - Lozoto (1990) đã nghiên cứu và phân tích các tụ
điểm du lịch. Các nhà địa lý Anh, Mỹ gắn công việc nghiên cứu lãnh thổ du
lịch với những dự án du lịch trên một miền hay một vùng cụ thể. Nhìn chung,
nhiều nhà địa lý đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lý du lịch là các hệ
thống lãnh thổ hoặc tổng hợp lãnh thổ du lịch, tức là xác định các hệ thống
địa bàn phát triển du lịch trên lãnh thổ và phân tích cơ cấu tổng hợp các yếu
tố trên địa bàn để phát triển du lịch.
2.2. Ở Việt Nam
Lịch sử ngành du lịch Việt Nam được đánh dấu bắt đầu từ năm 1960,
từ đó đến nay các công trình nghiên cứu địa lý du lịch nhìn chung vẫn chưa
nhiều. Phần lớn tập trung vào các vấn đề về tổ chức không gian du lịch, cơ sở
lý luận và phương pháp nghiên cứu du lịch với một số tác giả tiêu biểu như
PGS.TS Vũ Tuấn Cảnh, GS.TS Lê Thông, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ,
PGS.TS Đặng Duy Lợi, PGS.TS Phạm Trung Lương… Nhiều công trình
nghiên cứu có giá trị trong lĩnh vực này đã được thực hiện như: Đề tài “Tổ
chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” do Vũ Tuấn Cảnh chủ trì (1991); “Cơ sở lý
- Bước đầu phân tích kết quả hoạt động du lịch tỉnh Hà Giang.
- Đề xuất một số giải pháp có tính khuyến khích nhằm phát triển du
lịch của tỉnh Hà Giang
11
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: đề tài tập trung đánh giá tài nguyên du lịch, một số kết
quả hoạt động du lịch theo hai khía cạnh ngành và lãnh thổ.
- Về phạm vi không gian: phạm vi nghiên cứu đề tài là toàn bộ tỉnh Hà
Giang. Bên cạnh đó có sự phân tích cụ thể vào các điểm, tuyến, cụm du lịch,
trung tâm du lịch có ý nghĩa quan trọng của tỉnh; chú ý tới mối quan hệ của
địa bàn nghiên cứu với các tỉnh lân cận.
- Về thời gian: đề tài chủ yếu nghiên cứu giai đoạn 2005 - 2010, giải
pháp phát triển đến năm 2020.
5. Quan điểm, phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1. Quan điểm nghiên cứu
5.1.1. Quan điểm lãnh thổ
Đây là quan điểm đặc thù trong nghiên cứu các vấn đề địa lý. Nếu coi
các đối tượng nghiên cứu của du lịch là thể thống nhất có sự phân bố trên một
không gian lãnh thổ nhất định, trong đó các đối tượng này có tác động qua lại
với nhau và với các thành phần kinh tế - xã hội khác một cách chặt chẽ trên
cùng phạm vi lãnh thổ. Do vậy, khi nghiên cứu tiềm năng du lịch Hà Giang,
cần chú ý đến các mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố và với môi trường trên
lãnh thổ.
5.1.2. Quan điểm hệ thống
Hệ thống lãnh thổ du lịch là hệ thống bao gồm nhiều phân hệ, trong đó
phân hệ tài nguyên du lịch là phân hệ quan trọng bao gồm các yếu tố tự nhiên,
nhân văn và các mối quan hệ qua lại mật thiết giữa chúng. Mặt khác, cần đặt
hệ thống trong các cấp phân vị cao hơn để thấy được vị trí của hệ thống cũng
như các mối liên hệ ra ngoài.
5.1.3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
13
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các hình ảnh, các
bảng biểu, các tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được thể hiện
trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về du lịch
Chương 2: Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh hà giang
Chương 3: Hiện trạng và định hướng phát triển du lịch hà giang trong
xu thế hội nhập
14
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH
1.1. Cơ sở lý luận về du lịch.
1.1.1. Các khái niệm về du lịch
1.1.1.1. Khái niệm du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống
văn hóa xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ,
trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới. Du lịch
góp phần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu
nhập cho người dân…
Quan niệm về du lịch luôn là một vấn đề được tranh luận trong suốt
một thời gian dài. Từ khi thành lập Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch
International Union of Official Travel Organization (IOUTO) năm 1925 tại
Hà Lan, theo Hiệp hội IOUTO khái niệm du lịch được hiểu một cách đầy đủ
như sau: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên
quan đến sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trứ thường xuyên
nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ
nhận thức về văn hóa kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế,
văn hóa (P.I.pirogionic)
là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du
lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước
ngoài du lịch”.
16
1.1.1.3. Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng
nhất hữu hình và vô hình, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ
sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ cán bộ nhân viên
du lịch. Theo Michael M. Coltman, sản phẩm du lịch có thể là một món hàng
cụ thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ,
bầu không khí tại nơi nghỉ mát. Cơ cấu của sản phẩm du lịch:
- Những thành phần tạo lực hút (lực hấp dẫn đối với du khách) gồm
nhóm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn.
- Cơ sở du lịch (Điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch) gồm cơ
sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch.
- Dịch vụ du lịch: là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa
những tổ chức cung ứng du lịch và khách du lịch và thông qua các hoạt động
tương tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ
chức cung ứng du lịch.
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Sản phẩm du lịch là tập hợp các
dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du
lịch”. Như vậy, hiểu một cách chung nhất, sản phẩm du lịch là sự kết hợp
những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du
lịch đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Sản phẩm du lịch = Dịch vụ du lịch +
Tài nguyên du lịch. Dịch vụ du lịch gồm có: dịch vụ lữ hành; dịch vụ vận
chuyển; ăn uống; dịch vụ vui chơi, giải trí; dịch vụ mua sắm; dịch vụ thông
tin, hướng dẫn; dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung.
1.1.1.4. Tài nguyên du lịch
Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt.
Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ, đến việc hình
18
+ Tài nguyên nhân văn: gồm các loại tài nguyên nhân văn hữu thể như:
các di tích lịch sử, di tích LSVH, công trình đương đại, vật kỷ niệm, bảo vật
quốc gia.
Một số chỉ tiêu đánh giá tài nguyên du lịch là:
- Tính hấp dẫn: Tính hấp dẫn là yếu tố quan trọng nhất để đánh giá tài
nguyên du lịch vì nó quyết định sức thu hút khách du lịch. Độ hấp dẫn có tính
chất tổng hợp rất cao và thường được xác định bằng vẻ đẹp của phong cảnh,
sự thích hợp của khí hậu, sự đặc sắc và độc đáo của tài nguyên du lịch tự
nhiên và nhân văn.
- Tính an toàn: Là chỉ tiêu thu hút du khách đảm bảo sự an toàn về sinh
thái và xã hội, được xác định bởi tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội, vệ
sinh môi trường.
- Tính bền vững: Tính bền vững nói lên khả năng bền vững của các
thành phần và bộ phận tự nhiên trước áp lực của hoạt động du lịch và các hiện
tượng tự nhiên tiêu cực như thiên tai.
- Tính thời vụ: Thời vụ hoạt động du lịch được xác định bởi số thời
gian thích hợp nhất trong năm của các điều kiện khí hậu và thời tiết đối với
sức khỏe của du khách và số thời gian trong năm thuận lợi nhất cho việc triển
khai các hoạt động du lịch. Tính thời vụ của tài nguyên du lịch ảnh hưởng
trực tiếp đến hướng khai thác đầu tư quy hoạch kinh doanh du lịch được đánh
giá cho tài nguyên tự nhiên và nhân văn.
- Tính liên kết.
1.1.1.5. Các loại hình du lịch
Các hoạt động du lịch rất phong phú và đa dạng. Tùy theo yêu cầu và
mục đích khác nhau mà hoạt động đó được phân loại thành các loại hình khác
nhau. Các loại hình du lịch chủ yếu là:
19
- Theo nhu cầu của khách: du lịch văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng, thể
thao, chữa bệnh, MICE…
1.1.2.3. Chức năng sinh thái
Du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ và khôi phục môi
trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực
tiếp đến sức khỏe và các hoạt động của con người. Du lịch tạo cho con người
có điều kiện hiểu biết sâu sắc về tự nhiên, thấy được giá trị của tự nhiên đối
với đời sống con người, là bằng chứng thực tiễn phong phú góp phần tích cực
vào việc giáo dục môi trường. Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du
lịch có mối quan hệ chặt chẽ. Một mặt, xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu
của du lịch, nhưng mặt khác phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động
xâm hại của dòng khách du lịch cũng như của việc xây dựng cơ sở vật chất –
kỹ thuật phục vụ du lịch. Như vậy, giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối
quan hệ qua lại với nhau.
1.1.2.4. Chức năng chính trị
Du lịch là phương tiện hữu hiệu để giáo dục về truyền thống dân tộc, về
lòng yêu quê hương đất nước. Du lịch cũng là nhân tố mở rộng sự hiểu biết giữa
các dân tộc, thúc đẩy giao lưu quốc tế, củng cố hòa bình giữa các quốc gia. Du
lịch quốc tế khiến cho những con người ở những vùng khác nhau trên thế giới
hiểu biết lẫn nhau, xích lại gần nhau và tạo tình hữu nghị giữa các dân tộc.
1.1.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch
1.1.3.1. Vị trí địa lý
Đây là một nhân tố có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển
du lịch. Vị trí địa lý bao gồm vị trí địa lý về mặt tự nhiên (các chỉ tiêu về giới
hạn tọa độ, giới hạn lãnh thổ…) và vị trí địa lý kinh tế - xã hội, chính trị. Đối
21
với hoạt động du lịch, có hai yếu tố về vị trí cần xét đến là điểm đến nằm
trong khu vực phát triển về du lịch ở mức độ nào và khoảng cách từ điểm đến
tới nơi phát sinh cầu du lịch ngắn hay dài.
1.1.3.2. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử cùng các
thành phần của chúng có sức hấp dẫn du khách đã, đang và sẽ được khai
b) Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu làm
xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực. Nền
sản xuất xã hội càng phát triển thì nhu cầu về du lịch của dân cư càng lớn,
chất lượng dịch vụ càng đa dạng.
c) Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội
Du lịch nói chung và du lịch quốc tế nói riêng chỉ có thể phát triển
được trong bầu không khí hòa bình, ổn định trong tình hữu nghĩ giữa các dân
tộc. Ngược lại, du lịch có tác dụng ngược trở lại đến việc củng cố hòa bình.
Thông qua du lịch quốc tế, con người thể hiện nguyện vọng của mình được
sống, lao động trong hòa bình và tình hữu nghị. Điều kiện đảm bảo về y tế
trước các dịch bệnh cũng ảnh hưởng lớn đến tâm lý và nhu cầu của du khách.
Bên cạnh đó, các tai biến thiên nhiên (động đất, sóng thần…) gây mất an toàn
cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách du lịch của cac
quốc gia, vùng lãnh thổ.
d) Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch
Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch và sự thay đổi của nó theo thời gian và
không gian trở thành một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá
23
trình ra đời và phát triển du lịch. Nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch mang tính chất
kinh tế - xã hội và là sản phẩm của sự phát triển xã hội, đó là nhu cầu của con
người về khôi phục sức khỏe và khả năng lao động, thể chất và tinh thần bị
hao phí trong quá trình sống.
e) Cách mạng khoa học – công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế
Những tiến bộ tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ trong
thế kỷ XX và sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa là những yếu
tố trực tiếp làm nảy sinh nhu cầu và hoạt động du lịch.
f) Đô thị hóa
Trong quá trình đô thị hóa, bên cạnh những đóng góp tích cực, còn rất
nhiều mặt trái làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người như tiếng ồn, lao động
(2005) còn đưa thêm khu du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch trong thực tế ở
quy mô nhỏ hơn như cấp tỉnh. Trong khuôn khổ đề tài có đề cập đến một số
hình thức chính sau:
1.1.4.1. Điểm du lịch
“Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu
tham quan của khách du lịch” (Luật Du lịch Việt Nam, 2005). Điểm du lịch
có thể phân thành hai loại: điểm tài nguyên và điểm chức năng. Điểm du lịch
quốc gia phải đủ các điều kiện sau: có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối
với nhu cầu tham quan của khách du lịch; Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du
lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất 100 nghìn lượt khách
tham quan một năm. Điểm du lịch địa phương phải đủ các điều kiện: có tài
nguyên du lịch
hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; Có kết cấu hạ
tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất 10
nghìn lượt khách tham quan một năm.
25