tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tuyến quốc lộ 2 - Pdf 25



i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, tài liệu được sử dụng có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng.

Hà Nội, ngày… tháng…năm 2014
Tác giả Phạm Văn Hiếu


iii

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích và nhiệm vụ 1
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2
4. Cấu trúc của khoá luận 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1. Quan niệm về du lịch 4
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch 6
1.2.1. Tài nguyên du lịch 6
1.2.2. Các nhân tố kinh tế - xã hội - chính trị ảnh hưởng đến sự hình thành
và phát triển du lịch 13
1.2.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật 16
1.3. Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch 17
1.3.1. Quan niệm 17
1.3.2. Các hình thức tổ chức lãnh thỗ du lịch…………………………… 18
1.4. Vai trò của điểm, tuyến đối với sự phát triển của du lịch 20
CHƯƠNG 2. TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG KHAI THÁC DU LỊCH
TRÊN TUYẾN QUỐC LỘ 2 22
2.1. Tiềm năng phát triển du lịch 22
2.1.1. Vị trí địa lý 22
2.1.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên 22
2.1.3. Tài nguyên du lịch nhân văn 28
2.1.4. Cơ sở hạ tầng 33
2.1.5. Đánh giá chung về tài nguyên du lịch 34
2.2. Thực trạng khai thác du lịch trên tuyến quốc lộ 2 36

v DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NQ
Nghị quyết
HNTW
Hội nghị Trung ương
QG
Quốc gia
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
QĐ-TTg
Quyết định – Thủ tướng
NXB
Nhà xuất bản

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Đặc điểm các vườn quốc gia 25
Bảng 2.2. Di tích văn hóa – lịch sử tuyến quốc lộ 2……………………………29
Bảng 2.3. Số lượng khách du lịch đến tuyến giai đoạn 2005 - 2013 36

Đền Hùng, Khu di tích Tân Trào, Cao nguyên đá Đồng Văn…
Dựa trên các điều
kiện thuận lợi đó, trong những năm qua hoạt động du lịch trên địa bàn đã có những
khởi sắc thể hiện qua sự gia tăng nhanh về doanh thu, lượng khách du lịch.
Tuy nhiên quá trình khai thác hoạt động du lịch ở đây cũng bộc lộ nhiều bất
cập về mức độ liên kết và phát triển bền vững với những hoạt động du lịch còn
mang tính đơn lẻ và thiếu các quy hoạch mang tính đồng bộ. Xuất phát từ những
lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch
tuyến quốc lộ 2” làm đề tài khóa luận.
2. Mục đích và nhiệm vụ
2.1. Mục đích
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch, tổ chức lãnh thổ nghiên cứu
tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch của tuyến quốc lộ 2 từ đó đề xuất giải
pháp phát triển bền vững hoạt động du lịch trên tuyến quốc lộ 2.
2

2.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan cơ sở lý luận về du lịch.
- Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng phát triển du lịch trên tuyến quốc lộ 2.
- Đề xuất giải pháp đảm bảo sự phát triển bền vững và khai thác có hiệu
quả hoạt động du lịch trên tuyến quốc lộ 2.
2.3. Giới hạn đề tài
- Về không gian: Các tỉnh dọc theo tuyến quốc lộ 2 bao gồm các Vĩnh
Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang (trừ Hà Nội).
- Về thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch
trên tuyến quốc lộ 2 từ năm 2005 đến nay. Đồng thời tập trung nghiên cứu giải
pháp phát triển du lịch trên tuyến quốc lộ 2 đến năm 2020.

3.2.4. Phương pháp bản đồ và biểu đồ
Thông qua phương pháp này phản ánh đặc điểm không gian về tài nguyên,
luồng khí, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. Tác giả đã sử dụng phần mềm
GIS để xây dựng bản đồ tuyến quốc lộ 2 và bản đồ du lịch tuyến quốc lộ 2.
4. Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận khóa luận được cấu trúc theo 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận
Chương 2. Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tuyến quốc lộ 2
Chương 3. Định hướng và giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả hoạt động
du lịch trên tuyến quốc lộ 2

4

NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Quan niệm về du lịch
Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không
thể thiếu được trong đời sống văn hoá - xã hội và đang phát triển mạnh mẽ, trở

và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”. So với các quan niệm trên, quan
niệm này đẫ thể hiện được tương đối đầy đủ và bao quát các hiện tượng du lịch.
Tuy nhiên quan niệm này chưa làm rõ được đặc trưng của các hiện tượng và của
mối quan hệ du lịch (các mối quan hệ nào và hiện tượng nào thuộc loại kinh tế,
chính trị, xã hội, văn hóa…). Ngoài ra, định nghĩa bỏ sót hoạt động của các công
ty giữ nhiệm vụ trung gian, nhiệm vụ tổ chức du lịch và nhiệm vụ sản xuất hàng
hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
Theo I.I Pirojnik (năm 1985) “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư
trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi
cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần,
nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ
những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”.
Tháng 6/1991, tại Otawa (Canada), Hội nghị quốc tế về Thống kê Du lịch
cũng đưa ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi
ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một
khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định
trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm
tiền trong phạm vi vùng đến thăm”.
Hội nghị lần thứ 27 (năm 1993) của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO)
đã đưa ra khái niệm du lịch thay thế cho khái niệm năm 1963: “Du lịch là hoạt
động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên (usual
environment) của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi gải trí
hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian
liên tục ít hơn 1 năm”.
Theo Luật du lịch Việt Nam (ban hành năm 2005), tại điều 4, chương I
định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người 6



Về nguyên tắc, cần phải nắm vững các đặc điểm của tài nguyên du lịch, bởi
vì chúng tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển du lịch của
một lãnh thổ (vùng, quốc gia).
1.2.1.2. Phân loại tài nguyên du lịch
a. Tài nguyên du lịch tự nhiên
* Quan niệm
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo khí
hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ
mục đích du lịch.
Các thành phần của tự nhiên với tư cách tài nguyên du lịch có tác động mạnh
nhất đến hoạt động này là địa hình, khí hậu, nguồn nước và thực - động vật.
* Các loại tài nguyên du lịch
- Địa hình:
Đối với hoạt động du lịch, quan trọng hơn cả là đặc điểm hình thái của địa
hình, nghĩa là các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng địa hình đặc biệt
có sức hấp dẫn với du khách.
Các đơn vị hình thái của địa hình là núi đồi và đồng bằng. Chúng được
phân biệt bởi độ cao của địa hình.
+ Địa hình đồng bằng tương đối đơn điệu về hình dạng, ít gây được cảm
hứng cho du khách tham quan du lịch.
+ Địa hình vùng đồi núi thường tạo ra một không gian thoáng đãng. Dạng
địa hình này tác động mạnh tới tâm lý của du khách ưa thích dã ngoại, rất thích
hợp với loại hình cắm trại, tham quan. Vùng đồi núi là nơi có những di tích khảo
cổ và tài nguyên văn hoá - lịch sử độc đáo, tạo khả năng phát triển loại hình du
lịch tham quan theo chuyên đề.
+ Trong các dạng địa hình thì địa hình miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với
du lịch. Đây là khu vực có thuận lợi cho việc tổ chức thể thao mùa đông, các nhà
an dưỡng, các trạm nghỉ, các cơ sở du lịch, các khu vực có khả năng chuyển tiếp
lộ trình, các đỉnh núi cao có thể nhìn thấy toàn cảnh và thích hợp với môn thể

hậu, đáng lưu ý nhất là hai chỉ tiêu: nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí.
Ngoài ra còn phải tính đến các yếu tố khác như gió, áp suất khí quyển, ánh nắng
mặt trời và nhất là các hiện tượng thời tiết đặc biệt. 9

Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc
hoạt động dịch vụ du lịch. Ở mức độ nhất định, cần phải lưu ý tới những hiện
tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở tới kế hoạch du lịch như bão, gió mùa Đông
Bắc, gió Tây khô nóng, lốc, lũ lụt trong mùa mưa…
Du lịch có tính mùa vụ rõ rệt, nó phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, hoạt
động du lịch có thể diễn ra quanh năm hoặc trong một vài tháng.
+ Mùa du lịch cả năm (liên tục) thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh ở
suối khoáng, du lịch trên núi (cả mùa đông và mùa hè).
+ Mùa hè là mùa du lịch quan trọng nhất vì có thể phát triển nhiều loại hình
du lịch như: du lịch biển, các loại hình du lịch trên núi và ở khu vực đồng bằng.
Khả năng du lịch ngoài trời về mùa hè rất đa dạng và phong phú.
Nhiều nhà khí hậu trên thế giới còn sử dụng các chỉ tiêu khí hậu sinh học để
xác định mức độ thích hợp của khí hậu đối với sức khỏe con người. Nhìn chung,
những nơi có khí hậu điều hoà thường được khách du lịch rất thích.
- Nguồn nước:
Tài nguyên nước phục vụ du lịch bao gồm nước trên mặt và nước ngầm,
nước khoáng.
Đối với du lịch, tài nguyên nước trên mặt có ý nghĩa to lớn. Nó bao gồm
mạng lưới sông ngòi, ao hồ… Nguồn nước trên mặt không chỉ cung cấp cho nhu
cầu của khu du lịch, mà còn tạo ra các loại hình du lịch đa dạng như du lịch hồ,
du lịch sông nước…còn nước ngầm, nhìn chung ít có giá trị đối với du lịch.
Trong tài nguyên nước, cần phải nói đến nguồn nước khoáng. Đây là nguồn
tài nguyên có giá trị cho du lịch an dưỡng và chữa bệnh.

Quy định loài được săn bắn là loài phổ biến, không ảnh hưởng đến số lượng
quỹ gen, loài động vật hoạt động (ở dưới nước, mặt đất, trên cây) nhanh nhẹn.
Ngoài ra khu vực dành cho săn bắn thể thao phải tương đối rộng, có địa hình
tương đối dễ vận động, xa khu dân cư, bảo đảm tầm bay của đạn và sự an toàn
tuyệt đối cho khách. Phải cấm dùng súng quân sự, mìn và chất nổ nguy hiểm.
+ Chỉ tiêu đối với mục đích du lịch nghiên cứu khoa học:
Nơi có hệ thực - động vật phong phú và đa dạng, có tồn tại loài quý hiếm, có
thể đi lại quan sát, chụp ảnh, có quy định thu mẫu ở cơ quan quản lý…
11

b. Tài nguyên du lịch nhân văn
* Quan niệm
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn hoá,
văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình
lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác
có thể được sử dụng phục vụ cho mục đích du lịch.
Nhóm tài nguyên này có những đặc trưng riêng. Tài nguyên du lịch nhân
văn có giá trị nhận thức nhiều hơn giá trị giải trí, ít bị phụ thuộc vào các điều
kiện tự nhiên, thường tập trung ở các khu vực quần cư và thu hút du khách có
mức thu nhập, trình độ văn hoá cũng như yêu cầu nhận thức cao hơn.
* Các loại tài nguyên du lịch nhân văn
- Di tích lịch sử - văn hóa:
+ Di tích lịch sử - văn hóa là tài sản văn hóa quý giá của mỗi địa phương,
mỗi dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại.
+ Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan
trong đó chứa đựng các giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa do tập thể hoặc cá
nhân con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại.

- Lễ hội:
+ Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hoá tổng hợp hết sức đa dạng và phong
phú, một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc,
hoặc một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: ngưỡng mộ
tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu, những khao
khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.
+ Lễ hội gồm hai phần: phần lễ và phần hội
 Phần lễ: gồm những nghi lễ trang trọng nhằm bày tỏ lòng tôn kính với
các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hoà và
sự phồn vinh hạnh phúc.
 Phần hội: bao gồm các trò chơi dân gian: đánh đu, kéo co, cờ người…để
con người giao lưu cộng cảm trao truyền những đạo lý, tình cảm, mỹ tục cao
đẹp. Thông thường, lễ hội gắn liền với các di tích văn hoá - lịch sử.
+ Thời gian diễn ra lễ hội thường khác nhau. Nói chung lễ hội xuất hiện
vào thời điểm thiêng liêng của sự chuyển tiếp giữa các mùa, đánh dấu sự kết 13

thúc chu kỳ lao động cũ, chuẩn bị cho sự bắt đầu của chu kỳ lao động mới, ở
nước ta lễ hội tập trung nhiều vào mùa xuân.
- Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
Mỗi dân tộc có những điều kiện sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục tập
quán, hoạt động sản xuất mang sắc thái riêng của mình và có địa bàn cư trú nhất
định. Những đặc thù của từng dân tộc có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch.
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa với du lịch là các
tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về kiến
trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục
dân tộc…
- Các đối tượng văn hoá - thể thao và hoạt động nhận thức khác:

ngơi, giải trí, mức sống, mức thu nhập, thời gian rỗi rãi.
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật cũng là nhân tố làm nảy sinh nhu cầu và hoạt động du lịch do sự xuất
hiện của máy móc hiện đại thay thế lao động chân tay nhưng lại làm tăng sự
căng thẳng trong lao động. Điều đó đòi hỏi con người phải được phục hồi sức
lực sau những ngày làm việc căng thẳng.
1.2.2.3. Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch
Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch và sự thay đổi của nó theo không gian và thời
gian trở thành một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình ra
đời và phát triển của du lịch. Đó là nhu cầu của con người về hồi phục sức khoẻ
và khả năng lao động, thể chất và tinh thần bị hao phí trong quá trình sống. Nhu
cầu nghỉ ngơi du lịch là một hệ thống và được thể hiện ở 3 mức độ: xã hội -
nhóm người - cá nhân.
1.2.2.4. Cách mạng khoa học kỹ thuật
Cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghiệp hoá và tự động hoá quá trình
sản xuất liên quan chặt chẽ với nhau. Chúng là những nhân tố trực tiếp làm nảy
sinh nhu cầu du lịch và hoạt động du lịch. Nhờ cơ khí hoá, nhất là tự động hóa
sản xuất, lao động chân tay giảm xuống đáng kể. Mặc dù lao động chân tay giảm
xuống với tốc độ nhanh chóng nhưng cường độ và sự căng thẳng tăng lên với
tốc độ tương ứng. Điều đó đòi hỏi phải được phục hồi sức khoẻ sau những ngày
làm việc căng thẳng thông qua con đường nghỉ ngơi du lịch. Dưới góc độ khác 15

cách mạng khoa học kỹ thuật đồng thời là nhân tố đẩy mạnh sự phát triển của du
lịch. Công nghiệp du lịch chắc chắn không phát triển mạnh được nếu thiếu sự hỗ
trợ của cách mạng khoa học kỹ thuật và quá trình công nghiệp hoá.
1.2.2.5. Đô thị hoá
Là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, đô thị hoá như nhân tố

Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh du lịch.
Về phương diện này, mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố
quan trọng hàng đầu.
Du lịch gắn với sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất
định, vì vậy nó phụ thuộc vào giao thông: mạng lưới đường xá và phương tiện
giao thông. Việc phát triển giao thông, nhất là tăng nhanh phương tiện vận
chuyển (công cộng và cá nhân) cho phép mau chóng khai thác nguồn tài nguyên
du lịch mới. Chỉ có thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng thì
du lịch mới trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội.
Mỗi loại giao thông có những đặc điểm riêng biệt. Giao thông bằng ô tô tạo
điều kiện cho khách du lịch dễ dàng đi theo lộ trình mình lựa chọn. Giao thông
bằng đường sắt rẻ tiền, tất cả mọi người đều có thể đi được nhưng chỉ theo tuyến
đường sắt có sẵn. Giao thông bằng đường không rất nhanh, rút ngắn thời gian đi
lại tuy nhiên lại đắt tiền. Giao thông bằng đường thuỷ, mặc dù tốc độ đi chậm
nhưng lại có thể kết hợp với việc tham quan, giải trí…dọc theo sông hoặc biển.
Giao thông là một bộ phận của cơ sở hạ tầng kinh tế, nhưng cũng có các
phương tiện giao thông được sản xuất và sử dụng chuyên phục vụ nhu cầu du
lịch (ô tô, tàu thuỷ, máy bay đặc biệt, đường dây cáp…) chúng được tách ra như
một bộ phận của cơ sở hạ tầng du lịch. Ngay các phương tiện giao thông dùng
cho khách nghỉ đêm cũng có thể xếp vào bộ phận này.
Thông tin liên lạc là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động
du lịch. Nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo sự giao lưu cho khách du lịch trong
nước và quốc tế. Nhu cầu thông tin liên lạc là những nhu cầu trao đổi các dòng tin
tức của xã hội, được thỏa mãn bằng nhiều loại hình thông tin khác nhau.
Trong cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch còn phải đề cập đến hệ thống các công
trình cấp điện, nước. Các sản phẩm của nó phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ ngơi -
giải trí của khách. 17


18

Nói một cách đơn giản nhất, tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu là một hệ
thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên
quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân
văn, kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi
trường) cao nhất.
1.3.2. Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch
Hiện nay ở Việt Nam các cấp phân vị trong tổ chức lãnh thổ du lịch
như sau:
1.3.2.1. Điểm du lịch
Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị. Về mặt lãnh thổ,
điểm du lịch có quy mô nhỏ. Trên bản đồ các vùng du lịch, người ta thể hiện
điểm du lịch là các điểm riêng biệt. Tuy nhiên, trong thực tế dù quy mô rất nhỏ,
điểm du lịch cũng chiếm một diện tích nhất định trong không gian. Sự chênh
lệch về diện tích giữa các điểm du lịch tương đối lớn.
Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hoá,
lịch sử, kinh tế, xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc
kết hợp cả hai. Vì thế điểm du lịch có thể phân thành hai loại: điểm tài nguyên
và điểm chức năng.
Thời gian lưu lại của khách còn tuỳ thuộc vào sự hấp dẫn của tài nguyên du
lịch tại điểm đến.
1.3.2.2. Tuyến du lịch
Các điểm du lịch được nối với nhau bằng tuyến du lịch. Trong trường hợp
cụ thể các tuyến du lịch có thể là các tuyến nội vùng (á vùng, tiểu vùng, trung
tâm) hoặc là tuyến liên vùng (quốc gia hoặc quốc tế).
Các tuyến du lịch được xác định dựa vào:
- Sự phân bố tài nguyên du lịch (tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn).
- Sự hấp dẫn của cảnh quan trên toàn tuyến và các điểm dừng tham quan.

tâm du lịch (nếu có). Về quy mô, tiểu vùng du lịch bao trùm lãnh thổ của một
tỉnh. Tuy vậy, sự dao động về diện tích giữa các tiểu vùng cũng khá lớn.
Tiểu vùng du lịch có tài nguyên tương đối phong phú về số lượng, đa dạng
về chủng loại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status