Xây dựng thương hiệu hàng thủ công mỹ nghệ trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 14

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Thương hiệu là một tài sản vô hình của doanh nghiệp nhưng lại đóng một
vai trò hết sức quan trọng. Nó nói lên giá trị, chỗ đứng của doanh nghiệp đối với
người tiêu dùng. Do đó xây dưng một thương hiệu mạnh luôn là mục tiêu thôi thúc
các doanh nghiệp đạt tới
Đối với Việt Nam thì vấn đề thương hiệu được nói đến khá nhiều trong thời
gian gần đây, nhất là sau các vụ : Cà phê Trung Nguyên, nước mắm Phú Quốc ....
bị đánh cắp thương hiệu. Thì các doanh nghiệp của chúng ta cũng đã bắt đầu ý
thức được việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu của doanh nghiệp mình, vai trò
của thương hiệu tới hiệu quả kinh doanh. Thương hiệu mạnh không chỉ nói lên giá
trị của sản phẩm mà còn nói lên sự nổi tiếng của công ty, đại diện cho hình ảnh
quốc gia. Tuy nhiên đối với măt hàng thủ công mỹ nghệ hiện nay, thì việc xây
dựng thương hiệu hiện nay vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ. Một số doanh nghiệp
chỉ quan tâm tới sản xuất mà không quan tâm lãng phí một tài sản vô hình của
mình. Một số khác thì coi việc xây dựng thương hiệu chỉ cần đặt cái tên thật hay
mà không biết rằng việc xây dựng thương hiệu là quá trình lâu dài, và đòi hỏi phải
có sự nỗ lực liên tục và các kỹ năng và phương pháp
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của thương hiệu đối với doanh nghiệp
đã thúc đẩy em nghiên cứu và chọn đề tài : “ Xây dựng thương hiệu hàng thủ
công mỹ nghệ trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ”
Bố cục của đề tài gồm 3 chương :
Chương 1 : Lý luận chung về thương hiệu sản phẩm
Chương 2 : Thực trạng xây dựng thương hiệu hàng thủ công mỹ nghệ Việt
Nam trong xu thế hội nhập hiện nay
Chương 3 : Giải pháp xây dựng thương hiệu trong thời gian tới
Do khuôn khổ của chuyên đề, kiến thức của người viết nên chuyên đề
không tránh khỏi thiếu sót, khuyết điểm. Rất mong có được sự góp ý và đóng góp
của thầy cô và các bạn để chuyên đề hoàn thiện hơn.
Bùi Văn Du Lớp: Kinh tế Quốc tế 46
1

2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chỉ ra cách thức xây dựng một thương hiệu. Một thương hiệu không chỉ được tạo
dựng qua các biện pháp quảng cáo hiệu quả hay các logo đẹp mắt mà nó được tạo
dựng qua toàn bộ những gì sản phẩm đem đến cho khách hàng. Cuối cùng, định
nghĩa này rất ngắn gọn và dễ nhớ.
Thương hiệu thường được cấu tạo bởi hai bộ phận
Phần phát âm được: là những phần có thể đọc được như tên sản phẩm, tên
công ty, câu khẩu hiệu, nhạc hiệu và các yếu tố phát âm được khác.
-Phần không phát âm được: là những yếu tố không đọc được, không tác động
vào thính giác mà chỉ có thể được ghi nhận bằng thị giác như hình vẽ, màu sắc,
biểu tượng, kiểu dáng, thiết kế, bao bì và các yếu tố khác được cảm nhận bằng thị
giác.
Thương hiệu thể hiện ra bề ngoài là thiết kế của sản phẩm, dịch vụ, tên gọi,
logo, biểu tượng, màu sắc, kiểu dáng thiết kế, bao bì và các yếu tố phân biệt khác
trên cơ sở phân tích thuộc tính của sản phẩm, thị hiếu, hành vi tiêu dùng của khách
hàng mục tiêu và các yếu tố khác như pháp luật, văn hoá, tín ngưỡng…Tên thương
hiệu đặt cho các sản phẩm có thể dựa vào con người dựa vào địa danh, tên động
vật, hoặc các từ gắn liền với ý nghĩa của sản phẩm hoặc gợi lên những thuộc tính
hoặc lợi ích quan trọng. Một số tên thương hiệu khác được thiết kế bao gồm các
tiền tố và hậu tố nghe có vẻ khoa học hoặc quý giá ( bộ vi xử lý Intel, máy tính
Compaq). Các yếu tố khác của thương hiệu như logo, biểu tượng có thể được căn
cứ vào con người, địa điểm và các vật, các hình ảnh trừu tượng… theo các cách
khác nhau.Thường thương hiệu được hiểu đồng nghĩa với nhãn hiệu hàng hoá.
Thực ra thương hiệu là một khái niệm rộng hơn. Thương hiệu là là bất kỳ những
gì gắn liền với sản phẩm, dịch vụ nhằm làm phân biệt sản phẩm này với những sản
phẩm khác và làm người tiêu dùng dễ dàng nhận diện sản phẩm. Các yếu tố
thương hiệu của một sản phẩm hoặc dịch vụ có thể được pháp luật bảo hộ dưới
dạng là các đối tượng của sở hữu trí tuệ như: nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại,
tên gọi xuất xứ hàng hoá, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp và bản quyền.

Bùi Văn Du Lớp: Kinh tế Quốc tế 46
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.3. Mục tiêu, ý nghĩa của thương hiệu
1.3.1. Mục tiêu
Mục tiêu của xây dựng thương hiệu là khuyến khích hoạt động sáng tạo, tạo
nên những thương hiệu độc đáo, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh đồng thời sử dụng
một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất các nguồn lực trí tuệ của xã hội.
1.3.2. Ý nghĩa của thương hiệu
Thực tế hiện nay, thương hiệu không còn đơn thuần là dấu hiệu để nhận biết
và phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác mà cao hơn
nhiều, nó là tài sản rất có giá của doanh nghiệp, là uy tín của doanh nghiệp và thể
hiện niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm của doanh nghiệp. Đối với
người mua, thương hiệu giúp họ phần nào biết được về chất lượng sản phẩm, tăng
hiệu quả mua hàng và nhận biết những sản phẩm mới có thể có ích cho họ. Đối với
các cơ quan quản lý nhà nước, nhờ có thương hiệu họ có thể thống kê và quản lý
các hàng hoá lưu thông trên thị trường dễ dàng hơn. Thông qua quản lý việc đăng
ký thương hiệu, họ có cơ sở để xử lý các vụ tranh chấp thương hiệu. Đối với các
doanh nghiệp, thương hiệu có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế và quản lý.
a. Về mặt kinh tế
- Làm cho khách hàng tin tưởng vào chất lượng, yên tâm và tự hào khi sử
dụng sản phẩm, nhờ đó họ mua hàng nhiều hơn.
- Tạo lòng trung thành của khách hàng đối với sản phẩm.
- Dễ thu hút khách hàng mới
- Giúp phân phối sản phẩm dễ dàng hơn
- Tạo thuận lợi hơn khi tìm kiếm thị trường
- Định giá cao và siêu cao (đối với thương hiệu cao cấp) cho phép doanh
nghiệp thu được siêu lợi nhuận.
- Thương hiệu mạnh tạo uy tín cho việc giới thiệu thêm sản phẩm mới
- Thương hiệu mạnh tạo hình ảnh công ty, thu hút đầu tư, thu hút nhân tài.

hiệu, những dấu hiệu ba chiều, những dấu hiệu có thể nghe được như âm nhạc
hoặc âm thanh, hương thơm hoặc màu sắc, sử dụng những đặc tính riêng biệt.
Ngoài những thương hiệu xác định nguồn gốc thương mại của hàng hoá hoặc dịch
vụ, còn tồn tại một vài loại thương hiệu, nhãn hiệu khác. Những nhãn hiệu tập thể
Bùi Văn Du Lớp: Kinh tế Quốc tế 46
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thuộc về một hội, trong đó các thành viên sử dụng chúng để xác định mức chất
lượng và yêu cầu do hội đặt ra. Những hiệp hội đó có thể đại diện cho kế toán, kỹ
sư hoặc kiến trúc sư...
Ở Việt Nam, khái niệm thương hiệu được hiểu khá rộng bao gồm nhãn hiệu
như VINATABA (thuốc lá), Trung Nguyên (cà phê), SAGIANG (bánh phồng
tôm), VINAMILK (sữa); chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hoá như Phú Quốc
(nước mắm), Tân Cương (chè), Chợ Đào (gạo), Made in Vietnam (“ xe máy, máy
tính thương hiệu Việt Nam”); tên thương mại như PETRO VIETNAM, VNPT
(Tên viết tắt của Tổng công ty Dầu khí; Tổng công ty Bưu chính Viễn thông)... Do
đó, đăng ký thương hiệu ở đây được hiểu là đăng ký nhãn hiệu hàng hoá và xuất
xứ hàng hoá (đăng ký trong nước), đăng ký nhãn hiệu hàng hoá (khi đăng ký quốc
tế).
b.1.2. Phương thức đăng ký thương hiệu
Đăng ký thương hiệu chính là cách để các doanh nghiệp bảo vệ sản phẩm của
mình không bị làm giả, không bị xâm phạm bởi các doanh nghiệp khác. Hiện nay,
trên thế giới, có ba phương thức đăng ký thương hiệu, đó là trực tiếp nộp đơn đến
văn phòng thương hiệu quốc gia, gửi thư bảo đảm qua bưu điện và đăng ký qua
mạng. Ở Việt Nam hiện nay chỉ chấp nhận hai phương thức đăng ký là nộp đơn
trực tiếp hoặc gửi thư bảo đảm đến Cục Sở hữu trí tuệ (tên mới của Cục Sở hữu
công nghiệp). Đăng ký qua mạng được nhiều nước trên thế giới chấp nhận trong
đó có Mỹ. Hiện nay Văn phòng sáng chế và thương hiệu Mỹ (USPTO) đã nhận
đăng ký qua mạng tại địa chỉ Tại đây,
doanh nghiệp cũng có thể kiểm tra tình hình hồ sơ của mình, xem có ai tranh chấp

quyền được dành cho một chủ thương hiệu khác.
Hầu như tất cả các nước trên thế giới đều có hệ thống đăng ký và bảo vệ
thương hiệu. Mỗi văn phòng quốc gia hoặc khu vực đều giữ sổ đăng ký thương
hiệu chứa thông tin đầy đủ về tất cả các hồ sơ đăng ký và sự gia hạn, các cuộc
thẩm tra, nghiên cứu, khả năng phản đối của các bên thứ ba. Tuy nhiên, hiệu quả
của việc đăng ký chỉ giới hạn trong từng nước. Để tránh rắc rối do đăng ký riêng
rẽ với văn phòng thương hiệu ở từng nước hoặc từng khu vực, Tổ chức sở hữu trí
tuệ thế giới (WIPO) điều hành một hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế. Hệ thống
này được thực hiện trên cơ sở hai hiệp ước, Hiệp ước Madrid liên quan đến việc
đăng ký thương hiệu quốc tế và nghị định thư Madrid. Cá nhân có mối liên hệ với
một nước tham gia một trong hai hiệp ước này, nếu đăng ký với cơ quan thương
Bùi Văn Du Lớp: Kinh tế Quốc tế 46
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hiệu của nước đó đều có thể nhận được một sự bảo đảm đăng ký quốc tế có hiệu
lực trong một số hoặc tất cả các nước thuộc liên hiệp Madrid.
Ở Việt Nam, các thủ tục để đăng ký thương hiệu được hướng dẫn cụ thể
trong thông tư của bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường số 3055/TT-SHCN
ngày 31 tháng 12 năm 1996 hướng dẫn thi hành các quy định về thủ tục xác lập
quyền sở hữu công nghiệp và một số thủ tục khác trong nghị định số 63/CP ngày
24 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp như
sau:
b.2.1. Đăng ký thương hiệu trong nước
Trước khi đăng ký thương hiệu, các doanh nghiệp nên tra cứu khả năng bảo
hộ thương hiệu. Nhãn hiệu hàng hoá chỉ được bảo hộ khi được tạo thành từ một
hoặc một số yếu tố độc đáo, dễ nhận biết hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một
tổng thể độc đáo, dễ nhận biết; không trùng hoặc không tương tự tới mức gây
nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đang được bảo hộ tại Việt Nam.
Tên gọi xuất xứ hàng hoá được bảo hộ phải là tên địa lý của một nước hoặc một
địa phương là nơi mà hàng hoá tương ứng được sản xuất và hàng hoá đó phải có

+ Tài liệu xác nhận quyền nộp đơn hợp pháp nếu người nộp đơn thụ hưởng
quyền nộp đơn của người khác (Chứng nhận thừa kế, Chứng nhận hoặc Thoả
thuận chuyển giao quyền nộp đơn, kể cả chuyển giao đơn đã nộp; Hợp đồng giao
việc hoặc Hợp đồng lao động....)
+ Giấy chuyển quyền ưu tiên (nếu đơn có yêu cầu quyền ưu tiên và quyền đó
được thụ hưởng từ người khác)
+ Các tài liệu liên quan nhằm chứng minh cơ sở hưởng quyền ưu tiên (đơn
đầu tiên, chứng nhận trưng bày tại triển lãm...);
+ Các tài liệu gốc hoặc sao từ bản gốc mà người nộp đơn đưa vào đơn để bổ
trợ cho đơn.
 Các yêu cầu đối với đơn đăng ký nhãn hiệu
Ngoài các yêu cầu chung trên, đơn nhãn hiệu còn phải tuân theo các yêu cầu sau:
 Đơn phải bao gồm các tài liệu sau đây:
1
- Tờ khai yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, trên đó có gắn
mẫu nhãn hiệu, làm theo mẫu do Cục Sở hữu trí tuệ ban hành, gồm 3 bản; (xem
phụ lục 1)
- Quy chế sử dụng nhãn hiệu nếu nhãn hiệu yêu cầu bảo hộ là nhãn hiệu tập
thể, gồm 1 bản;
1
Mục 8 thông tư số 3055/TT-SHCN ngày 31 tháng 12 năm 1996
Bùi Văn Du Lớp: Kinh tế Quốc tế 46
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Mẫu nhãn hiệu, gồm 15 bản;
- Bản sao tài liệu xác nhận quyền kinh doanh hợp pháp (Giấy phép kinh
doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh...) gồm 1 bản;
- Tài liệu xác nhận quyền nộp đơn hợp pháp, nếu người nộp đơn thụ hưởng
quyền nộp đơn của người khác (chứng nhận thừa kế, chứng nhận hoặc thoả thuận
chuyển giao quyền nộp đơn, kể cả đơn đã nộp; Hợp đồng giao việc hoặc Hợp đồng

hợp hoặc cùng loại với sản phẩm dịch vụ được phép kinh doanh như đã nêu trong
Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và phải được
phân nhóm theo Bảng phân loại quốc tế các sản phẩm, dịch vụ (theo Thoả ước
Nixơ).
Mẫu nhãn hiệu gắn trong Tờ khai cũng như các mẫu nhãn hiệu khác phải
được trình bày rõ ràng với kích thước không được vượt quá khuôn khổ 80mm x
80mm và khoảng cách giữa hai điểm gần nhau nhất không được nhỏ hơn 15mm.
Nếu yêu cầu bảo hộ màu sắc thì mẫu nhãn hiệu phải được trình bày đúng màu
sắc cần bảo hộ. Nếu không yêu cầu bảo hộ màu sắc thì tất cả các mẫu nhãn hiệu
đều phải được trình bày dưới dạng đen trắng.
 Các yêu cầu đối với đơn đăng ký tên gọi xuất xứ
Ngoài các yêu cầu chung, đơn tên gọi xuất xứ phải đáp ứng các yêu cầu sau:
 Đơn phải bao gồm các tài liệu sau đây:
- Tờ khai yêu cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng
hoá, làm theo mẫu do Cục Sở hữu trí tuệ ban hành, gồm 3 bản; (xem phụ lục)
- Bản sao tài liệu xác nhận quyền kinh doanh hợp pháp (Giấy phép kinh
doanh, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh v.v.), gồm 1 bản;
- Bản thuyết minh về đặc thù chất lượng của sản phẩm mang tên gọi xuất xứ
hàng hoá, trong đó có xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, gồm 1 bản;
- Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền rằng sản phẩm do người nộp đơn sản
xuất hoặc kinh doanh thương mại có tính chất, chất lượng đặc thù và được sản
xuất tại vùng lãnh thổ tương ứng với tên gọi xuất xứ hàng hoá đó (phù hợp với
thuyết minh trong tài liệu thuyết minh) gồm 1 bản;
- Bản sao Văn bằng bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá do nước xuất xứ cấp,
hoặc tài liệu của nước xuất xứ xác nhận quyền của người nộp đơn được sử dụng
tên gọi xuất xứ hàng hoá đang được bảo hộ tại nước xuất xứ (nếu tên gọi xuất xứ
hàng hoá có nguồn gốc nước ngoài) gồm 1 bản;
Bùi Văn Du Lớp: Kinh tế Quốc tế 46
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

ngày đơn đến Cục Sở hữu trí tuệ ghi trên dấu nhận đơn; riêng đơn có tài liệu nộp
Bùi Văn Du Lớp: Kinh tế Quốc tế 46
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
muộn thời hạn xét nghiệm hình thức là 3 tháng tính từ ngày bổ sung đủ các tài liệu
đó. Trước ngày kết thúc thời hạn nói trên, Cục Sở hữu trí tuệ phải xét nghiệm xong
về mặt hình thức và phải có thông báo cho người nộp đơn.
Tiếp đó Cục Sở hữu trí tuệ sẽ tiến hành xét nghiệm nội dung đơn nếu đơn đó
đã được chấp nhận hợp lệ và người nộp đơn nộp lệ phí xét nghiệm nội dung theo
quy định nhằm mục đích đánh giá khả năng được bảo hộ của đối tượng nêu trong
đơn theo các tiêu chuẩn bảo hộ, xác định phạm vi bảo hộ tương ứng. Trong thời
hạn này, người nộp đơn có thể chủ động sửa đổi, bổ sung các tài liệu trong đơn và
phải nộp lệ phí theo quy định nhưng việc sửa đổi, bổ sung không được làm thay
đổi bản chất đối tượng, không được mở rộng phạm vi (khối lượng) bảo hộ đã nêu
trong đơn.
Thời hạn xét nghiệm nội dung đơn là 9 tháng với đơn nhãn hiệu, 6 tháng đối
với đơn tên gọi xuất xứ tính từ ngày ký thông báo chấp nhận đơn hợp lệ. Nếu
trong quá trình xét nghiệm nội dung đơn, người nộp đơn chủ động hoặc theo yêu
cầu của Cục Sở hữu trí tuệ tiến hành việc sửa chữa, bổ sung tài liệu thì thời hạn xét
nghiệm nội dung có thể kéo dài thêm bằng khoảng thời gian dành cho mục đích
sửa chữa, bổ sung tài liệu.
b.2.2. Đăng ký quốc tế thương hiệu
Hiện nay, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai cách sau để thực hiện
việc đăng ký bảo hộ thương hiệu của mình tại nước ngoài
 Nộp đơn đăng ký quốc tế qua Thoả ước Madrid
Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế thương hiệu hàng hoá có hiệu lực từ
năm 1891. Việt Nam là thành viên của Thoả ước này từ năm 1949. Tính đến ngày
18/1/2002 có 52 nước tham gia Thoả ước Madrid. Làm và nộp đơn đăng ký quốc
tế nhãn hiệu có nguồn gốc Việt Nam ra nước ngoài theo thoả ước Madrid được
quy định cụ thể trong điều 24 thông tư số 3055/TT-SHCN ngày 31 tháng 12 năm

Đăng ký quốc tế có hiệu lực 10 năm, có thể được gia hạn nhiều lần, mỗi lần
10 năm với điều kiện phải nộp phí gia hạn.
Ưu điểm của việc đăng ký quốc tế thương hiệu hàng hoá theo Thoả ước
Madrid là sau khi đăng ký thương hiệu với Cơ quan xuất xứ (Cục sở hữu trí tuệ)
chủ thương hiệu chỉ phải nộp một đơn, bằng một ngôn ngữ cho một cơ quan và chỉ
phải nộp các khoản phí cho một cơ quan. Thủ tục này thay thế cho việc phải nộp
đơn riêng biệt cho từng cơ quan thương hiệu của các bên tham gia khác nhau,
Bùi Văn Du Lớp: Kinh tế Quốc tế 46
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bằng các ngôn ngữ khác nhau và phải trả các khoản phí riêng biệt cho từng cơ
quan. Khi gia hạn hoặc sửa đổi đăng ký cũng được hưởng các lợi thế trên.
 Nộp đơn trực tiếp
Hiện nay, đa số các nước trên thế giới đều có Luật bảo hộ thương hiệu hàng
hoá. Khác với đơn đăng ký quốc tế thương hiệu hàng hoá theo Thoả ước Madrid,
để thương hiệu của mình được bảo hộ tại một nước nào đó các doanh nghiệp phải
nộp đơn trực tiếp vào nước đó. Mỗi nước phải nộp một đơn yêu cầu bảo hộ
thương hiệu hàng hoá. Đơn phải làm bằng ngôn ngữ của nước đó, phải trả các
khoản phí liên quan cho cơ quan thương hiệu của nước đó.
Việc nộp đơn trực tiếp có những thuận lợi:
- Được chọn bất kỳ quốc gia nào mà mình cho rằng thương hiệu cần phải
được bảo hộ (miễn là ở nước đó có luật bảo hộ thương hiệu hàng hoá). Nếu nộp
đơn theo Thoả ước Madid thì chỉ được chọn nước là thành viên của Thoả ước.
- Đơn yêu cầu bảo hộ thương hiệu nộp trực tiếp không bị phụ thuộc vào việc
thương hiệu đó đã được bảo hộ tại nước xuất xứ hay chưa, không bị ràng buộc về
mẫu thương hiệu, khối lượng bảo hộ (danh mục sản phẩm/dịch vụ).
Chẳng hạn để đăng ký thương hiệu hàng hoá sang Mỹ và Nga, các doanh
nghiệp phải thực hiện các bước như sau:
 Đăng ký thương hiệu hàng hoá sang Mỹ
 Cơ sở nộp đơn đăng ký thương hiệu hàng hoá:

- Tại Hà Nội: Công ty Sở hữu công nghiệp (INVESTIP), 51B Lý Thái Tổ, Hà
Nội, ĐT: (04)88260687. E-mail:
- Tại thành phố Hồ Chí Minh: INVESTIP, 31 Hàn Thuyên, quận 1, tp HCM.
ĐT: (08)8292400. Email:
 Đăng ký thương hiệu sang Nga
Để đăng ký thương hiệu sang Nga, người đăng ký phải nộp đơn cho Viện sở
hữu công nghiệp Nga theo mẫu của Viện. Sau đó các nhân viên phân tích của Viện
sẽ tiến hành giám định thương hiệu đó. Chu trình giám định chia làm 2 phần:
Giám định sơ bộ và giám định đơn đăng ký. Chỉ sau khi đơn lọt qua được phần
giám định sơ bộ để xem có bị trùng mẫu không thì Viện mới tiến hành giám định
kỹ đơn của người xin cấp chứng nhận. Giấy chứng nhận của Viện cấp cho căn cứ
trên những đặc điểm riêng biệt của người xin giám định.
Bùi Văn Du Lớp: Kinh tế Quốc tế 46
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Theo thủ tục thông thường, chu trình xét duyệt đơn này kéo dài từ 1,5 đến 2
năm. Có phương thức làm gấp rút cũng phải mất 6 tháng theo các mốc thời gian
như sau:
- Ký nhận đơn của người xin cấp chứng nhận: vào ngày nộp hay ngày hôm
sau
- Quyết định tiếp nhận hay từ chối đơn: nhanh- 10 ngày, chậm 1,5 tháng.
- Tiến hành đăng ký thương hiệu: nhanh 5-6 tháng, chậm 1,5-2 năm.
- Cấp chứng nhận thương hiệu hàng hoá: nhanh 10 ngày, chậm 1,5-2 tháng
tính từ ngày nhận kết quả giám định lần cuối.
Về phí đăng ký thương hiệu: được chia làm 2 phần:
- Phần thu vào ngân sách nhà nước
- Phần trả cho cơ quan tiến hành đăng ký
Tuỳ vào mặt hàng và thương hiệu hàng hoá, phần nộp cho ngân sách nhà
nước có thể bắt đầu từ 10000 rúp đến 100000 rúp. Tiền trả cho Viện có thể từ
200$ đến 500$.

ký tại quốc gia mình, người đăng ký có thể nộp đơn đăng ký quốc tế thương hiệu
hàng hoá hay dịch vụ đó. Người nộp đơn cần xác định rõ những quốc gia chỉ định.
Đơn đăng ký bảo hộ quốc tế sẽ được chuyển đến trụ sở chính của tổ chức sở hữu
trí tuệ thế giới (WIPO) ở Gơnevơ, nơi sẽ cấp chứng chỉ đăng ký và công bố việc
đăng ký. Đồng thời, WIPO cũng sẽ gửi các bản sao của đơn đăng ký tới cơ quan
đăng ký thương hiệu của những quốc gia chỉ định trong đơn đăng ký. Tuy nhiên,
mỗi cơ quan tiếp nhận đăng ký vẫn có quyền từ chối bảo hộ thương hiệu hàng hoá
ở đất nước đó. Do vậy, đăng ký thương hiệu quốc tế chỉ có hiệu lực ở những quốc
gia mà đơn đăng ký không bị từ chối hoặc sự phản đối không thành công.
b. Từ chối
Cơ quan đăng ký thương hiệu ở mỗi quốc gia chỉ định sẽ có thời gian 18
tháng để từ chối bảo hộ thương hiệu ở quốc gia mình. Trong trường hợp có sự
phản đối việc từ chối thì thông báo có thể tiến hành sau 18 tháng, miễn là cơ quan
đó thông báo với WIPO rằng sự phản đối có thể thành công.
c. Những đối tượng có thể đăng ký quốc tế thương hiệu theo Thoả ước Madrid
Những đơn đăng ký theo thoả ước Madrid phải là đơn của các cá nhân hoặc
doanh nghiệp của những nước đã ký Thoả ước này. Quốc gia mà cá nhân hay
doanh nghiệp mang quốc tịch hoặc thiết lập hoạt động kinh doanh hiệu quả và
Bùi Văn Du Lớp: Kinh tế Quốc tế 46
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thực tế sẽ được coi là quốc gia của doanh nghiệp đó. Một người trước khi nộp đơn
đăng ký quốc tế phải nộp đơn đăng ký thương hiệu tại quốc gia của mình.
d. Ngày đăng ký quốc tế
Ngày đăng ký thương hiệu quốc tế là ngày tổ chức đăng ký thương hiệu ở
quốc gia của người đăng ký nhận được đơn đăng ký miễn là WIPO nhận được đơn
đăng ký đúng mẫu trong vòng 2 tháng kể từ ngày đó. Nếu WIPO không nhận được
đơn đăng ký đúng mẫu trong vòng hai tháng kể từ ngày đó thì ngày WIPO nhận
được đơn đăng ký sẽ là ngày đăng ký. Việc khiếu nại do chưa đăng ký quốc gia
hoặc do đăng ký cùng một thương hiệu có thể thực hiện miễn là đơn đăng ký

chỉ định thêm kể từ ngày WIPO chấp nhận đơn đăng ký mở rộng lãnh thổ bảo hộ.
Một lần nữa, các cơ quan tiếp nhận đăng ký ở các quốc gia chỉ định thêm vẫn có
quyền từ chối bảo hộ thương hiệu trên lãnh thổ nước mình.
i. Thời hạn hiệu lực
Đăng ký bảo hộ theo Thoả ước Madrid sẽ có hiệu lực trong 10 năm đầu và sẽ
được gia hạn mỗi lần 10 năm
k. Cơ quan tiếp nhận đăng ký
Việc tiếp nhận đăng ký thương hiệu quốc tế có thể được giao cho một hoặc
toàn bộ các quốc gia chỉ định đối với một số hoặc toàn bộ hàng hoá, dịch vụ. Tuy
nhiên, cơ quan tiếp nhận đăng ký phải là thành viên được phép của quốc gia sở tại
cho phép đảm nhận việc này theo thoả ước Madrid. Tên và địa chỉ các cơ quan này
được ghi trong văn bản của WIPO.
3.2. Hiệp định những khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến
thương mại ( TRIPS) của WTO
Hiệp định TRIPS được thảo luận và thông qua ở vòng đàm phán Uruguay
năm 1986-1994 lần đầu tiên chính thức đưa các quy định về sở hữu trí tuệ vào hệ
thống thương mại đa phương. Hiệp định TRIPS đã khẳng định lại và mở rộng các
chuẩn mực quy định trong điều 02 Điều ước quốc tế cơ bản về sở hữu trí tuệ, là
Công ước Paris và Công ước Berne, làm thay đổi bộ mặt của sở hữu trí tuệ vì các
nước thành viên WTO phải điều chỉnh pháp luật của họ để phù hợp với hiệp định
TRIPS. Hiệp định này bảo hộ các lĩnh vực: bản quyền và các quyền liên quan;
thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, bằng sáng chế, thiết kế bố trí
mạch tích hợp, bí mật kinh doanh, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh,
giống cây trồng mới.
Bùi Văn Du Lớp: Kinh tế Quốc tế 46
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Những quy định về thương hiệu trong hiệp định này được nêu ở phần 2 từ
điều 15 đến 21. Về khía cạnh này, Hiệp định nêu rõ những kiểu dấu hiệu nào thích
hợp, đủ điều kiện để được bảo vệ như những thương hiệu và những quyền tối

bất kỳ quyền lợi nào đã có từ trước hay ảnh hưởng đến khả năng một thành viên
khác có quyền sử dụng sản phẩm.
Điều 6bis của Công ước Paris (1967) sẽ được áp dụng với những sửa đổi
thích đáng về chi tiết đối với dịch vụ. Để xác định một thương hiệu có nổi tiếng
hay không, các thành viên phải tính đến sự hiểu biết của đông đảo công chúng về
thương hiệu trong khu vực.
c. Những ngoại lệ
Có thể đặt ra một số ngoại lệ hạn chế đối với quyền được cấp với điều kiện
không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường thương hiệu hàng hoá và không
ảnh hưởng bất hợp lý tới quyền của chủ sở hữu thương hiệu.
d. Thời hạn bảo hộ
Đăng ký ban đầu và mỗi lần gia hạn đăng ký của một thương hiệu sẽ diễn
ra trong khoảng thời gian không ít hơn 7 năm. Thương hiệu có thể được gia hạn
với số lần không giới hạn.
e. Yêu cầu sử dụng
Nếu người đăng ký không sử dụng thương hiệu trong thời gian ít nhất là 3
năm thì đăng ký đó bị huỷ bỏ trừ phi người sở hữu thương hiệu có những lý do
biện minh xác đáng cho việc không sử dụng này. Đó phải là những lý do khách
quan cản trở việc sử dụng thương hiệu đó như quy định hạn chế nhập khẩu hoặc
những quy định của chính phủ nước khác đối với hàng hoá hoặc dịch vụ được bảo
vệ bằng thương hiệu.
Khi người sở hữu thương hiệu đồng ý, người khác có thể sử dụng thương
hiệu đó nhằm mục đích duy trì việc đăng ký thương hiệu.
Bùi Văn Du Lớp: Kinh tế Quốc tế 46
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
f. Những yêu cầu khác
Người đã đăng ký thương hiệu được độc quyền sử dụng thương hiệu đó.
Những người khác chỉ được sử dụng thương hiệu này nếu được người chủ sở hữu
thương hiệu chuyển nhượng

Tại Việt Nam chưa có một văn bản pháp lý nào dùng chữ “thương hiệu”
nhưng thương hiệu được hiểu là nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại của tổ chức,
cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh (thương hiệu doanh nghiệp) hay các chỉ
dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hoá, chính là các đối tượng của sở hữu công
nghiệp. Do đó những văn bản pháp lý về thương hiệu cũng là những văn bản pháp
lý về sở hữu công nghiệp. Đó là những văn bản sau :
- Nghị định số 31/CP (23.01.1981) và Điều lệ về sáng kiến cải tiến kỹ thuật-
hợp lý hoá sản xuất và sáng chế.
- Nghị định số 197/HĐBT (14.12.1982) và Điều lệ về nhãn hiệu hàng hoá
- Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (11.2.1989)
- Nghị định số 84/HĐBT (20.03.1990) về việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ về sáng
kiến cải tiến kỹ thuật- hợp lý hoá sản xuất và sáng chế, Điều lệ về nhãn hiệu hàng
hoá, Điều lệ về giải pháp hữu ích, Điều lệ về kiểu dáng công nghiệp, Điều lệ về
mua bán li-xăng
- Nghị định số 63/CP (24.10.1996) quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp
- Nghị định số 12/1999/NĐ-CP (06.03.1999) về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
- Nghị định số 54/2000/NĐ-CP (03.10.2000) về bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền
chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp.
- Nghị định số 06/2001/NĐ-CP (01.02.2001) về việc sửa đổi, bổ sung Nghị
định 63/CP quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp
4. Sự cần thiết phải xây dựng thương hiệu hàng thủ công mỹ nghệ trong
điều kiện hội nhập kinh tế quôc tế.
Trong nền kinh tế thế giới và Việt Nam hiện nay khi thứ tồn tại theo quy luật
của thị trường. Các doanh nghiệp, các nhà sản xuất không ngừng cạnh tranh để
dành ưu thế về mình. Trong khi chất lượng giữa các sản phẩm của các doanh
Bùi Văn Du Lớp: Kinh tế Quốc tế 46
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status