Thực trạng hợp đồng kỳ hạn tại Việt Nam GVHD: THÂN THỊ THU
THỦY
1 TIỂU LUẬN
THỰC TRẠNG HỢP ĐỒNG NGOẠI
TỆ KỲ HẠN TẠI VIỆT NAM
Thực trạng hợp đồng kỳ hạn tại Việt Nam GVHD: THÂN THỊ THU
THỦY
2
I. GIỚI THIỆU CHUNG
1. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường hợp đồng kỳ hạn
Nhiều tài liệu đã chứng minh rằng, giao dịch kỳ hạn trên thế giới đã xuất hiện
từ rất lâu, ngay từ thời Trung cổ ở Châu Âu. Từ thời đó, để tránh tình trạng giá cả
biến động theo mùa vụ, những người nông dân và thương nhân đã gặp nhau trước
mỗi vụ mùa để thỏa thuận trước giá cả, sau khi thu hoạch, hàng hóa sẽ được giao
cho thương nhân theo giá cả đã thỏa thuận đó.
Tuy nhiên, thị trường giao sau chính thức chỉ xuất hiện vào thập niên 40 của
thế kỷ thứ 19 ở Chicago khi trung tâm giao dịch The Chicago Board of Trade
được thành lập. Tính đến nay, thị trường kỳ hạn của thế giới cũng đã hơn 160 năm
hình thành và phát triển.
Cho đến nay, đã hơn 10 năm hình thành và phát triển, tất nhiên không thể so
sánh với thị trường kỳ hạn của thế giới, giao dịch mua bán ngoại tệ kỳ hạn đã hình
thành ở Việt Nam, nhưng còn rất nhỏ bé và chưa phổ biến. Nguyên nhân chủ yếu
của tình trạng này là do mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường vốn
còn thấp dưới “tầm” tác động của các cơn gió lớn hay cơn bão tài chính quốc tế.
Tư duy kinh doanh truyền thống còn phổ biến, trong thực tế, những biến động về
tỷ giá, lãi suất được dự báo khá “chắc chắn” và giống nhau giữa các “nhà” có mặt
trên thị trường tài chính và những “sai lệch” dễ dự báo đó được các bên “cân đối”
ngay vào giá của sản phẩm chính như lãi suất, tỷ giá, chứng khoán. Ngoài ra, tham
gia thị trường tài chính Việt nam còn thiếu các nhà đầu tư am hiểu về lợi ích cũng
như kỹ thuật tính toán lợi nhuận từ nghiệp vụ này. Các nhà môi giới chuyên
nghiệp, các trung gian tài chính đủ năng lực tổ chức thị trường phái sinh còn quá ít
trên thị trường tiền tệ, thị trường tín dụng, thị trường chứng khoán Việt nam để
thúc đẩy các nhà đầu tư tham gia mạnh mẽ vào thị trường này. Bản thân các khách
hàng nói chung, các doanh nghiệp Việt nam nói riêng còn dè dặt áp dụng công cụ
phái sinh, trong đó có hợp đồng kỳ hạn (HĐKH).
Thực trạng hợp đồng kỳ hạn tại Việt Nam GVHD: THÂN THỊ THU
THỦY
4 2. Các qui định của NHNN Việt Nam liên quan đến HĐKH
Nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý, đồng thời đảm bảo lợi ích của DN và
sự an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM), NHNN Việt Nam trong
những năm qua đã tích cực nghiên cứu, ban hành các quy định cụ thể có điều
chỉnh hợp lý trong từng thời kỳ về giới hạn phạm vi, thời hạn, tỷ giá giao dịch đối
với các giao dịch này tại các văn bản khác nhau. Trên cơ sở các quy định pháp lý,
thị trường ngoại tệ kỳ hạn ở Việt Nam trong những năm qua đã từng bước phát
triển và đi vào hoạt động có hiệu quả, góp phần giảm tình trạng căng thẳng ngoại
10 ngày sau sự ra đời Quyết định 203/QĐ-NH13 có đề cập đến giao dịch kỳ
hạn, NHNN ban hành Quyết định số 245/QĐ-NH7 ngày 03/10/1994 về việc qui
định tỷ giá mua bán ngoại tệ liên ngân hàng, NHNN không đề cập gì đến tỷ giá và
kỳ hạn trong hợp đồng mua bán kỳ hạn. Các văn bản trước đó như quyết định số
177QĐ-NH7 ngày 27/8/1994, 146QĐ-NH7 ngày 02/7/1994 đều không đề cập đến
kỳ hạn và tỷ giá của HĐKH.
Điều này có nghĩa là kể từ sau khi loại hình giao dịch kỳ hạn được đề cập một
cách chính thức trong một văn bản của NHNN thì các TCTD tham gia thị trường
mua, bán ngoại tệ liên ngân hàng được tự quyền quyết định tỷ giá kỳ hạn, cũng
như thời hạn tối đa có thể có của các HĐKH mà không bị bất cứ ràng buộc nào.
Kết quả là hầu như không có giao dịch mua, bán ngoại tệ kỳ hạn nào diễn ra trong
giai đoạn này tại Việt nam.
Mãi đến quyết định số 342/QĐ-NH7 ngày 13/10/1997, NHNN mới bắt đầu đề
cập đến tỷ giá mua bán ngoại tệ đối với các TCTD tham gia thị trường ngoại tệ
liên ngân hàng. Theo đó “Cho phép Tổng Giám đốc (Giám đốc) các tổ TCTD
được phép kinh doanh ngoại tệ được ấn định tỷ giá mua, bán ngoại tệ - kể cả mua
bán ngoại tệ có kỳ hạn (FORWARD) trong phạm vi biên độ 10% (mười phần
trăm) so với tỷ giá chính thức do Thống đốc NHNN công bố hàng ngày”.
Ngày 10/01/1998, NHNN ban hành quyết định số 16/1998/QĐ-NHNN7 về
việc qui định nguyên tắc ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ kỳ hạn của các TCTD
Thực trạng hợp đồng kỳ hạn tại Việt Nam GVHD: THÂN THỊ THU
THỦY
6
được phép hoạt động giao dịch hối đoái kỳ hạn. Có thể nói đây là lần đầu tiên
NHNN có một văn bản riêng qui định về hoạt động giao dịch kỳ hạn tại Việt Nam,
theo đó NHNN cho phép các TCTD ấn định tỷ giá mua, bán kỳ hạn giữa VNĐ và
USD không được vượt quá giới hạn tối đa của tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao
dịch cộng với từng tỷ lệ phần trăm cụ thể như sau:
tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu đa dạng của doanh nghiệp và ngân hàng, khuyến
khích thị trường ngoại hối Việt Nam phát triển. Đồng thời, tỷ giá kỳ hạn giữa
VNĐ và USD không còn bị khống chế bằng việc quy định mức trần cứng áp dụng
cho từng kỳ hạn trên cơ sở tỷ lệ % gia tăng so với trần tỷ giá giao ngay theo tính
toán chủ quan của NHNN trong từng thời kỳ như trước đây mà cho phép TCTD và
DN tự do xác định và thoả thuận trong phạm vi mức tỷ giá kỳ hạn được tính theo
thông lệ quốc tế, trên cơ sở chênh lệch giữa hai mức lãi suất hiện hành của hai
đồng tiền giao dịch là đồng Việt Nam và đôla Mỹ.
Hiện nay, văn bản điều chỉnh thời hạn và tỷ giá của giao dịch ngoại tệ kỳ hạn
liên ngân hàng còn hiệu lực là quyết định số 2554/QĐ-NHNN ngày 31/12/2006,
theo quyết định này thì NHNN đã không còn hạn chế với thời hạn và tỷ giá của
các giao dịch kỳ hạn. Các TCTD được phép tự quyết định giá mua, bán và thời
hạn của các giao dịch kỳ hạn trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Thực trạng hợp đồng kỳ hạn tại Việt Nam GVHD: THÂN THỊ THU
THỦY
8
II. THỰC TRẠNG HỢP ĐỒNG NGOẠI TỆ KỲ HẠN TẠI VIỆT
NAM
1. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện HĐKH tại Việt Nam
1.1 Thuận lợi
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách ngoại hối đóng vai trò rất
quan trọng, làm sao để vừa tranh thủ được các nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy hoạt
động thương mại, đầu tư, du lịch, kiều hối, nhưng lại phải đảm bảo được chủ
quyền của đồng Việt Nam, thực hiện được mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Trong thời gian qua, chính sách ngoại hối đã có những thay đổi quan trọng,
một số quy định đã thông thoáng hơn, mở ra nhiều nghiệp vụ mới, đặc biệt là các
nghiệp vụ phái sinh ngoại hối.
2. Giao dịch HĐKH tại Eximbank
2.1 Quy trình giao dịch HĐKH tại Eximbank
2.1.1 Quy định chung
Giao dịch hối đoái kỳ hạn là giao dịch hai bên cam kết sẽ mua, bán với nhau
một lượng ngoại tệ theo một mức tỷ giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực
hiện tại một thời điểm xác định trong tương lai.
Eximbank thực hiện giao dịch ngoại tệ kỳ hạn với NHNN Việt Nam, các tổ
chức kinh tế, các TCTD được phép, các tổ chức khác và cá nhân.
Mức tỷ giá kỳ hạn giữa hai đồng tiền được Eximbank và khách hàng trong
nước thỏa thuận trên cơ sở tham chiếu mức tỷ giá giao ngay vào ngày ký hợp đồng
kỳ hạn, chênh lệch giữa hai mức lãi suất hiện hành của hai đồng tiền, kỳ hạn của
hợp đồng và phù hợp với quy định của NHNN.
Kỳ hạn của các giao dịch kỳ hạn giữa đồng Việt Nam với các ngoại tệ khác
theo quy định của NHNN trong từng thời kỳ. Kỳ hạn của các giao dịch kỳ hạn
giữa các ngoại tệ với nhau do Eximbank và khách hàng tự thỏa thuận theo thông lệ
quốc tế.
Khi sử dụng đồng Việt Nam để mua ngoại tệ, khách hàng phải xuất trình
chứng từ để cung cấp đầy đủ thông tin về mục đích sử dụng, số lượng, loại ngoại
tệ, thời điểm thanh toán.
Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng giao dịch: ký quỹ, thẻ tiết kiệm, kỳ
phiếu, số dư trên tài khoản… tùy vào đối tượng khách hàng và loại hình giao dịch.
Thực trạng hợp đồng kỳ hạn tại Việt Nam GVHD: THÂN THỊ THU
THỦY
10
2.1.2 Quy trình giao dịch HĐKH tại Eximbank
Bước 1:
khách hàng ký xác nhận và theo dõi nhận lại hợp đồng. Gửi giấy đề nghị bộ phận
dịch vụ khách hàng phong tỏa số tiền ký quỹ (nếu có).
Bước 9: Hạch toán các giao dịch trong ngày theo quy định của Eximbank.
2.2 Các điều khoản trong HĐKH
Bên A: Đại diện pháp nhân của Eximbank hoặc người được ủy quyền
Bên B: Người đại diện phía khách hàng hoặc người được ủy quyền.
Điều 1: bên A mua hoặc bán ngoại tệ với bên B
- Số lượng ngoại tệ:
Số lượng bằng số và bằng chữ.
Loại ngoại tệ.
Số lẻ: 2 số lẻ (nếu cần), riêng JPY không dùng số lẻ.
- Tỷ giá kỳ hạn
- Số tiền thanh toán: bằng số lượng ngoại tệ nhân tỷ giá kỳ hạn
- Ngày thanh toán: là ngày các bên thực hiện hợp đồng mua bán ngoại tệ.
Điều 2: Ký quỹ đảm bảo thực hiện hợp đồng
Mục đích: Đảm bảo khách hàng sẽ phải thực hiện tất cả các điều khoản trong
hợp đồng khi đến hạn. Trong trường hợp tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi
cho Ngân hàng thì phải yêu cầu khách hàng bổ sung tiền ký quỹ.
Điều 2.1 Giá trị khoản ký quỹ:
Số tiền ký quỹ= X% * Số lượng ngoại tệ * Tỷ giá tham chiếu
Thực trạng hợp đồng kỳ hạn tại Việt Nam GVHD: THÂN THỊ THU
THỦY
12
Trong đó:
- Giảm giá: yêu cầu khách hàng nộp thêm tiền ký quỹ đối với hợp đồng
EIB bán ngoại tệ, không phải yêu cầu khách hàng nộp thêm ký quỹ đối
với hợp đồng mà EIB mua ngoại tệ.
Số tiền nộp thêm = Y% * Số lượng ngoại tệ * Tỷ giá kỳ hạn
Việc yêu cầu khách hàng nộp thêm tiền ký quỹ còn được cân nhắc quyết định
một cách linh hoạt tùy thuộc vào:
- Uy tín hoặc năng lực tài chính của khách hàng. Ví dụ: khách hàng đang
gửi vốn tại EIB với giá trị lớn hơn hoặc bằng số tiền ký quỹ thì cũng
được xem như là một cơ sở để duy trì hợp đồng.
- Thời gian từ ngày định giá lại tới ngày đáo hạn
- Khả năng và mức độ biến động tỷ giá trên thị trường trong thời gian còn
lại đó.
Điều 3: Phương thức thanh toán
Điều 4: Chứng từ
Khách hàng phải có chứng từ chứng minh mục đích sử dụng ngoại tệ theo
đúng các quy định về quản lý ngoại hối hiện hành của NHNN. Các mục đích sử
dụng ngoại tệ:
- Trả nợ vay tại EIB
- Trả nợ vay tại ngân hàng hoặc tổ chức tài chính khác
- Ký quỹ thanh toán LC
- Thanh toán LC trả ngay/chậm
- Thanh toán TTR
Điều khoản bồi thường: trường hợp khách hàng không thực hiện đúng
các điều khoản như đã cam kết trong hợp đồng thì tùy theo khách hàng, tình
Thực trạng hợp đồng kỳ hạn tại Việt Nam GVHD: THÂN THỊ THU
THỦY
Giới hạn:
- USD/VND: theo quyết định 648/2007/QĐ-NHNN ngày 28/05/2004 của
thống đốc NHNN.
- Đối với ngoại tệ/ngoại tệ hoặc ngoại tệ khác USD /VND: không giới
hạn.
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá kỳ hạn
- Tỷ giá giao ngay
- Lãi suất của các đồng tiền
- Kỳ hạn của hợp đồng
Thực trạng hợp đồng kỳ hạn tại Việt Nam GVHD: THÂN THỊ THU
THỦY
15
Tuy nhiên, tỷ giá kỳ hạn không nhất thiết lúc nào cũng như nhau với cùng kỳ
hạn. tỷ giá kỳ hạn cũng biến động tùy theo cung cầu thị trường tại từng thời điểm.
do đó , việc áp dụng tỷ giá kỳ hạn cũng rất linh hoạt.
3. So sánh cách tính tỷ giá kỳ hạn của các NHTM Việt Nam với quốc tế
Theo quy định của NHNN Việt Nam, trước ngày 28/5/2004, tỷ giá kỳ hạn
được xác định bằng cách lấy tỷ giá giao ngay cộng với một biên độ dao động tùy
theo kỳ hạn của hợp đồng. Như vậy, cách xác định tỷ giá kỳ hạn theo thông lệ
quốc tế và của NHNN Việt Nam là hoàn toàn khác biệt.
Ngày 28/5/2004, Thống đốc NHNN đã ra quyết định số 648/2004 về việc sửa
đổi bổ sung Quyết định số 679/2002/QĐ-NHNN liên quan đến giao dịch ngoại tệ
của các TCTD được phép kinh doanh ngoại tệ.
Theo Quyết định mới này, việc xác định mức tỷ giá giao dịch kỳ hạn giữa đồng
Việt Nam với các loại ngoại tệ khác không phải là đồng USD và giữa các loại
ngoại tệ với nhau tiếp tục được trao quyền tự do quyết định cho Tổng giám đốc
thị trường ngoại hối Việt Nam nói chung và giao dịch ngoại hối kỳ hạn nói riêng.
Gọi:
• F là tỷ giá kỳ
hạn
• S là tỷ giá giao ngay, chẳng hạn S =
USD/VND
• r
d
là lãi suất của đồng tiền định giá, tức là lãi suất
VND
• r
y
là lãi suất của đồng tiền yết giá, tức là lãi suất
USD
Ta có tỷ giá có kỳ hạn được xác định bởi công thức sau:
F = S(1 + r
d
)/(1+ r
y
) (2)
Công
thức này dựa trên cơ sở lý thuyết cân bằng lãi suất. Lý
thuyết
này nói
rằng chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia phải được bù đắp bởi chênh lệch tỷ
giá
giữa hai đồng tiền để những người kinh doanh chênh lệch giá không thể sử
dụng
HĐKH
kiếm lợi nhuận trên cơ sở chênh lệch lãi
phải thu trong tương lai → thiết lập HĐKH để cố định tỷ giá.
HĐKH được thiết kế linh hoạt để đáp ứng nhu cầu của cả 2 bên cả về quy mô
giao dịch và ngày giao kỳ hạn, không được tiêu chuẩn hoá (không có thoả thuận
cụ thể, số lượng cụ thể vào 1 ngày đáo hạn cụ thể trong tương lai), mang tính chất
thoả thuận cá nhân. Các HĐKH có thể được thảo ra với một hàng hoá bất kỳ, khối
lượng, chất lượng, thời gian giao hàng bất kỳ, theo thoả thuận chung giữa hai bên
bán và mua.
→ Tạo sự linh hoạt cho 2 bên tham gia, cho phép thị trường thích ứng một cách
nhanh chóng với các thay đổi trong nhu cầu của 2 bên.
Người tham gia HĐKH không chịu rủi ro về lãi suất.
Tính cạnh tranh cao.
1.2 Nhược điểm
HĐKH hạn chế được rủi ro về biến động lãi suất nhưng có thể gặp rủi ro thanh
toán và rủi ro thanh khoản của hợp đồng.
HĐKH không thể bị hủy bỏ đơn phương mà không có sự thỏa thuận của cả hai
đối tác. Giao dịch kỳ hạn là giao dịch bắt buộc, chịu ràng buộc pháp lý chặt chẽ →
Khi đáo hạn, dù bất lợi 2 bên vẫn phải thực hiện hợp đồng (mỗi bên phải chấp
nhận rủi ro tín dụng của bên kia, mức giá đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan
nên rất có thể không chính xác), trừ khi 2 bên thoả thuận hủy hợp đồng.
HĐKH chỉ đáp ứng được nhu cầu khi nào KH chỉ cần mua /bán ngoại tệ trong
tương lai, mà không có nhu cầu ở hiện tại. Tuy nhiên trên thực tế đôi khi KH có
Thực trạng hợp đồng kỳ hạn tại Việt Nam GVHD: THÂN THỊ THU
THỦY
19
nhu cầu mua/bán ngoại tệ cả ở hiện tại và tương lai. Lúc này HĐKH chưa thể đáp
ứng được nhu cầu và được thay thế bằng các hợp đồng hoán đổi
Thiếu tính lỏng, bên bán rất khó tìm được đối tác có cùng sở thích với mình,
Cần tiếp cận khách hàng, tổ chức hội thảo để giới thiệu và tư vấn nhằm mục
đích vừa nâng cao nhận thức của khách hàng về rủi ro tỷ giá vừa giúp cho khách
hàng hiểu biết về các công cụ phái sinh.
Cần tập trung ưu tiên đào tạo và bồi dưỡng cho các cán bộ trực tiếp kinh doanh
trên thị trường hối đoái quốc tế về các công cụ phái sinh nói chung và phái sinh
ngoại hối nói riêng, vì đây là những sản phẩm mới, phức tạp cả về lý thuyết lẫn
thực tiễn áp dụng.
Ngoài ra cần trang bị thêm những kiến thức và kinh nghiệm về thị trường ngoại
hối và thị trường tiền tệ quốc tế, kỹ năng phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản trên
cơ sở chọn lọc, tổng hợp và phân tích thông tin để dự đoán xu hướng diễn biến của
thị trường nhằm sử dụng các công cụ phái sinh một cách hiệu quả nhất.
Ba là, về phương tiện, thiết bị.
Ngoài những phương tiện, thiết bị hiện có của Reuters, Thomson, SowJones
News hay Metastock, cần trang bị thêm phần mềm xử lý, quản lý rủi ro và tính phí
đối với các nghiệp vụ phái sinh.
Mở rộng quan hệ hợp tác với các ngân hàng nước ngoài trên thị trường ngoại
hối quốc tế, để tranh thủ sự hỗ trợ về kiến thức, về hệ thống phân tích quản lý rủi
ro.