TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ T HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Tên đề tài:
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI
VỚI
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
GVHD: TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Lớp: NHĐ2, K16
Nhóm 3: Nguyễn Thị Thu Hương
Hà Thị Anh Đào
Lê Thị Ngọc Hân
Bùi Thị Hạnh
Phạm Kim Thông
Vũ Mạnh Tư
Lê Thị Quỳnh Trang
TP Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2008
2. Hệ thống tỷ giá hỗn hợp giữa cố định và thả nổi:
Hệ thống dãi băng tỷ giá:
Một trong những sắp xếp tỷ giá hối đoái cố định nổi tiếng được cộng đồng kinh tế
châu âu (EEC) lập tháng 4 năm 1972, khi các nước thành viên cộng đồng ấn định rằng
các đồng tiền của họ sẽ được duy trì trong vòng giới hạn được thiết lập đối với nhau. Sắp
xếp này được gọi là dãi băng tỷ giá. Theo thể thức EMS, tỷ giá hối đoái của các nước
thành viên cũng được duy trì trong các giới hạn cụ thể quy định và cũng ràng buộc với
đơn vị tiền tệ châu Âu (đồng ECU). Đồng ECU không phải là một đồng tiền, mà chỉ là
đơn vị tính toán. Đó là bình quân gia quyền của tỷ giá hối đoái của các nước thành viên,
mỗi quyền số được ấn định bởi tổng sản phẩm quốc dân và hoạt động mậu dịch nội bộ
Môn tài chính quốc tế GVHD: TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Nhóm 3 Trang 2
châu âu tương ứng của các nước thành viên. Các đồng tiền của các nước thành viên này
có thể dao động không quá 2, 25% (6% cho Ý) từ mức ngang giá được lập ban đầu. để
tránh việc giá trị đồng tiền biến động vượt khỏi biên độ đã quy định, các ngân hàng TW
can thiệp trong các thị trường ngoại hối.
Các tỷ giá trung tâm của vài đồng tiền ràng buộc với đồng ECU. Mỗi đồng tiền
ràng buộc vớI đồng ECU được phân bổ một tỷ giá gọi là tỷ giá hối đoái trung tâm. Từ các
tỷ giá được giao này ta có thể xác định tỷ giá trung tâm giữa 2 đồng tiền bất kỳ nào đó.
Hệ thống dải băng tỷ giá
Hệ thống tỷ giá con rắn tiền tệ:
Hệ thống con rắn tiền tệ còn được gọi là neo tỷ giá có điều chỉnh hay là ngang giá
trượt. Trong hệ thống này, một quốc gia ấn định một ngang giá cho đồng tiền của mình
và cho phép một thay đổi nhỏ xoay quanh ngang giá, ví dụ như +/-1% so với ngang giá.
Các ngang giá này sẽ được điều chỉnh dần so với một số lượng nhỏ tuân theo
những chỉ dẫn trong hành vi các biến số của nền kinh tế như vị thế dự trữ ngoại hối quốc
gia, những thay đổi gần đây trong cung tiền hoặc giá cả hoặc những thay đổi gần đây của
tỷ giá xoay quanh ngang giá.
1,70
1,72
1,60
1,65
1,71
Môn tài chính quốc tế GVHD: TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Nhóm 3 Trang 4
Can thiệp gián tiếp thông qua các chính sách của chính phủ: NHTW có thể
can thiệp trực tiếp đến giá trị của một đồng ngoại tệ bằng cách tác động đến các yếu tố
ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, ví dụ như tác động vào lãi suất.
Can thiệp gián tiếp thông qua các hàng rào của chính phủ: các chính phủ cũng
có thể tác động gián tiếp đến tỷ giá hối đoái bằng cách áp đặt các hàng rào đối với tài
chính và mậu dịch quốc tế. Tuy nhiên việc làm này có thể gây ra khó khăn cho những
nước mà phải chịu tác động của những hàng rào đó và có thể bị trả đũa của các quốc gia
này.
III. VAI TRÒ CỦA TỶ HỐI ĐOÁI:
Tỷ giá hối đoái được xem là một công cụ trong chính sách tiền tệ, nó là mục tiêu
của chính sách tiền tệ mà mọi quốc gia đều hướng tới. Đồng tiền ổn định và tỷ giá hối
đoái hợp lý sẽ tạo điều kiện cho việc duy trì, mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh
tế trong nước và quốc tê, giúp cho nền kinh tế trong nước có điều kiện hội nhập khu vực
và thế giới ngày càng mạnh mẽ hơn.
Tỷ giá hối đoái chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó hai nhân tố quan trọng
nhất là sức mua của đồng tiền và tương quan cung cầu ngoại tệ. Khi lạm phát tăng, sức
mua đồng nội tệ giảm so với ngoại tệ, làm cho tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ so với
nội tệ tăng (hay tỷ giá đồng nội tệ so với ngoại tệ giảm) và ngược lại. Nếu đồng nội tệ
lạm phát và thu hút đầu tư nước ngoài. Để thực hiện mục tiêu chống lạm phát, chính sách
tỷ giá được điều hành cố gắng duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái danh nghĩa.
Sự ổn định tỷ giá hối đoái danh nghĩa những năm này đã tạm thời góp phần tích
cực vào việc kiềm chế lạm phát, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
với tốc độ cao trên 8% năm. Nhưng việc duy trì tỷ giá hối đoái danh nghĩa gần như cố
định trong điều kiện lạm phát đã được kiềm chế song vẫn cao hơn lạm phát của Mỹ (nước
có đồng tiền chiếm tỷ trọng chủ yếu trong giỏ ngoại tệ để xác định tỷ giá của Việt Nam)
và các nước có quan hệ thương mại chủ yếu của Việt Nam, đồng thời đồng USD có xu
hướng tăng giá từ năm 1995 đã làm cho VNĐ có xu hướng ngày càng bị đánh giá cao
hơn thực tế. Điều này đã tạo ra và tích luỹ những nhân tố gây mất ổn định và kìm hãm sự
phát triển kinh tế.
Do tỷ giá hối đoái thực tế giảm xuống, VND được đánh giá cao đã làm suy giảm
sức cạnh tranh quốc tế của hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam, làm cán cân thương mại và
cán cân thanh toán chuyển trạng thái từ thặng dư năm 1991-1992 sang trạng thái thâm
hụt, bắt đầu tích luỹ sự mất cân đối bên ngoài và dần chuyển sang gây mất ổn định và
mất cân đối bên trong nền kinh tế. Bởi vì, về bản chất, tỷ giá hối đoái không chỉ tác động
đến những vấn đề kinh tế đối ngoại mà nó còn tác động đến các vấn đề kinh tế đối nội
thông qua sự tác động của tỷ giá đến thị trường tiền tệ và thị trường vốn.
Tháng 7 năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực Đông Nam á đã
làm cho một loạt đồng tiền của các nước trong khu vực giảm giá mạnh so với đồng USD
và VND. Điều đó cũng có nghĩa là, VND đã bị đánh giá cao hơn nữa, trong bối cảnh các
nước trong khu vực là bạn hàng chủ yếu và quan trọng của Việt Nam, đã làm cho xuất
khẩu của Việt Nam giảm sút nhanh chóng.
Môn tài chính quốc tế GVHD: TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Nhóm 3 Trang 6
Phân tích những nguyên nhân và bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ
khu vực cho thấy, mặc dù thị trường tài chính – tiền tệ của Việt Nam chưa phát triển đầy
đủ và mở cửa nên không bị kéo ngay vào làn sóng của cuộc khủng hoảng, nhưng Chính
phủ và NHNN Việt Nam đã nhận thấy tính chất nghiêm trọng của ổn định chế độ tỷ giá
danh nghĩa kéo dài – một nguyên nhân quan trọng tạo ra cuộc khủng hoảng nên đã có
GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM
Hiện nay, việc hoạch định chính sách tiền tệ; trong đó việc xác định cho được định
hướng cho chính sách tỷ giá hối đoái của đất nước đang gặp phải không ít khó khăn, nhất
là sau khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO. Những khó khăn đó thường
thể hiện:
Môn tài chính quốc tế GVHD: TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Nhóm 3 Trang 7
Một là, những diễn biến khó lường về những thay đổi trong chính sách phát triển
kinh tế của các nước trên thế giới; đặc biệt là với những nước có tiềm lực kinh tế mạnh
nhất. Những thay đổi này lại gắn liền với những thay đổi về đường lối quân sự, chính trị
và ngoại giao của các nước; nhất là những nước có vai trò rất quan trọng trong việc giải
quyết các vấn đề mang tính toàn cầu. Thời gian gần đây, đi đôi với những khủng hoảng
chính trị tại những nước “dầu hoả” là sự biến động liên tục của giá dầu mỏ, giá vàng làm
cho giá của USD liên tục biến động.
Hai là, Việt Nam thực hiện đổi mới kinh tế từ năm 1986, nhưng đến nay mới có
tương đối đầy đủ quy chế của kinh tế thị trường. Do vậy, trước mắt, hàng loạt vấn đề
đang đặt ra để các quy chế này có thể phát huy được tác dụng. Trong đó, việc cổ phần
hoá các doanh nghiệp nhà nước (đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ tài chính - ngân hàng);
cải cách hành chính quốc gia; điều chỉnh lại cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế; sửa đổi, bổ
sung, thay thế, hoàn thiện toàn bộ hệ thống pháp luật là những việc trọng tâm hàng đầu,
là nền tảng cho hội nhập kinh tế quốc tế đạt được những mục tiêu đã đề ra trong Đại hội
X của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ba là, tính minh bạch trong tài chính của các doanh nghiệp, tình trạng buôn bán
lậu liễm, hiện tượng đầu cơ, nâng giá ép giá vẫn đang là những trở ngại lớn cho việc xác
định đúng giá thành của nhiều loại hàng hoá - dịch vụ, kể cả các loại hàng hoá - dịch vụ
thiết yếu cho đời sống của đại bộ phận dân chúng cũng làm méo mó việc xác định giá
“mua” vào cũng như giá “bán” ra trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Theo đó, sức mua
đối nội của đồng tiền quốc gia rất khó được xác định một cách hợp lý. Đặc biệt, trong
điều kiện thị trường chứng khoán của Việt Nam chưa thực sự trở thành “kênh” dẫn vốn
cho nền kinh tế mà vẫn đang còn là địa chỉ khá hấp dẫn cho các nhà “đầu tư’ cá thể tìm
2. Định hướng:
Thứ nhất, tiếp tục duy trì cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý của Nhà nước: trong xu
thế toàn cầu hóa Việt Nam cần lựa chọn một chính sách tỷ giá thả nổi có quản lý để thích
ứng và tạo ra động lực phát triển nền kinh tế nước ta trong tiến trình hội nhập vì chế độ tỷ
giá thả nổi có ưu điểm là tỷ giá luôn gắn liền với quan hệ cung cầu và tỷ giá này thích
ứng với điều kiện toàn cầu hóa của thị trường tài chính quốc tế. Bên cạnh đó Nhà nước
vẫn có thể quản lý được mức độ biến động của tỷ giá.
Thứ hai, chính sách TGHĐ phải đóng vai trò tích cực trong việc bảo hộ một cách
hợp lý các doanh nghiệp trong nước.
Thứ ba, kết hợp hài hòa lợi ích giữa hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu theo
hướng đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu các sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh, nhưng
mặt khác cũng cần gia tăng nhập khẩu các sản phẩm không có lợi thế so sánh để thỏa
mãn tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng về sản xuất và tiêu dùng nội địa.
3. Giải pháp
Một là, thường xuyên phân tích tình hình kinh tế thế giới, khu vực và trong nước
để đề ra được chính sách TGHĐ phù hợp cho từng giai đoạn.
Hai là, hoàn thiện công tác quản lý ngoại hối ở Việt Nam: quản lý tốt dự trữ ngoại
hối, tăng tích lũy ngoại tệ: xây dựng chính sách phát triển xuất khẩu và hạn chế nhập
khẩu. Tiết kiệm chi ngoại tệ, chỉ nhập những hàng hóa cần thiết cho nhu cầu sản xuất và
những mặt hàng thiết yếu trong nước chưa sản xuất được. Ngoại tệ dự trữ khi đưa vào
can thiệp trên thị trường phải có hiệu qủa. Lựa chọn phương án phù hợp cho việc dự trữ
cơ cấu ngoại tệ. Trong thời gian trước mắt vẫn xem đồng USD có vị trí quan trọng trong
dự trữ ngoại tệ của mình nhưng cũng cần đa dạng hóa ngoại tệ dự trữ để phòng tránh rủi
ro khi USD bị mất giá. Nới lỏng tiến tới tự do hóa trong quản lý ngoại hối, hoạt động này
bao gồm việc giảm dần , tiến đến loại bỏ sự can thiệp trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước
trong việc xác định tỷ giá, xóa bỏ các qui định mang tính hành chính trong kiểm soát
ngoại hối, thiết lập tính chuyển đổi cho đồng tiền Việt Nam, sử dụng linh hoạt và hiệu
Môn tài chính quốc tế GVHD: TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Nhóm 3 Trang 9
quả các công cụ quản lý tỷ giá, nâng cao tính chủ động trong kinh doanh tiền tệ của các
Bảy là, nâng cao vị thế đồng tiền Việt Nam: nâng cao sức mạnh cho đồng tiền
Việt Nam bằng các giải pháp kích thích nền kinh tế như: hiện đại hoá nền sản xuất trong
nước, đẩy mạnh tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, tăng cường
thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, xây dựng chính sách thích hợp để phát triển nông
nghiệp, khuyến khích xuất khẩu, bài trừ tham nhũng …
Tám là, sử dụng có hiệu quả công cụ lãi suất để tác động đến tỷ giá, chính phủ
phải tiến hành từng bước tự do hóa lãi suất, làm cho lãi suất thực sự là một loại giá cả
được quyết định bởi chính sự cân bằng giữa cung và cầu của chính đồng tiền đó trong thị
trường chứ không phải bởi những quyết định can thiệp hành chính của Chính phủ.
Môn tài chính quốc tế GVHD: TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Nhóm 3 Trang 10
Chín là, phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô để hoạt động can thiệp vào tỷ giá
đạt hiệu quả cao. Chính sách tiền tệ được thực hiện qua 3 công cụ: lãi suất tái chiết khấu,
dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở nội tệ. Tuy nhiên, NVTTM nội tệ là công cụ
quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp đến lượng tiền cung ứng, vì vậy nó quyết định
đến sự thành bại của chính sách tiền tệ quốc gia, bên cạnh đó nó còn tham gia tích cực
vào việc hỗ trợ chính sách tỷ giá khi cần thiết. Chẳng hạn khi phá giá sẽ tăng cung nội tệ,
dẫn đến nguy cơ tạo ra lạm phát. Để giảm lạm phát người ta tiến hành bán hàng hóa giao
dịch trong thị trường mở nội tệ, từ đó làm giảm cung nội tệ và lạm phát do đó cũng giảm
theo.
Đối với chính sách tài chính tiền tệ, tăng cường sử dụng nguồn vốn trong nước để
bù đắp thiếu hụt ngân sách, phương án tốt nhất để thực hiện bù đắp thâm hụt ngân sách
nhà nước là bằng vốn vay trong nước, hạn chế tối đa việc vay nợ nước ngoài.
Môn tài chính quốc tế GVHD: TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Nhóm 3 Trang 11
KẾT LUẬN
Nói tóm lại, để có được một định hướng đúng cho chính sách tỷ giá hối đoái, trước
hết cần nhận biết được một cách chính xác vai trò của chính sách tỷ giá với tư cách là
Môn tài chính quốc tế GVHD: TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Nhóm 3 Trang 12
Mục lục Trang
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI…………… 1
I. CÁC LOẠI HỆ THỐNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI………………………………… 1
II. CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ TRONG HỆ THỐNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CÓ
QUẢN LÝ. …………………………………………………………………… 3
III. VAI TRÒ CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI………… ……………………………… 4
PHẦN II: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM: MỤC TIÊU
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP…………………………………………… 5
I. THỰC TIỄN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM QUA CÁC
GIAI ĐOẠN ………………………………………………………………………… 5
II. NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ
HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM……………………………………………………… 6
III. MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ Ở
VIỆT NAM…………………………………………………………………………… 7
KẾT LUẬN…………………………………………………………………… 11
Mục lục………………………………………………………………12