1 Tiểu luận
Phân tích Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam (VCB),
và Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam (CTG)
2
Phần I: Giới thiệu chung về hai Ngân hàng
1. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VIETCOMBANK) tiền thân là Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam được thành lập từ năm 1963. Trải qua hơn 45 năm xây dựng và trưởng thành,
VCB đã phát triển và lớn mạnh theo mô hình ngân hàng đa năng. Bên cạnh lĩnh vực tài chính ngân
hàng, VCB còn tham gia góp vốn, liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước trong nhiều
lĩnh vực kinh doanh khác nhau như kinh doanh bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư với quy mô và
phạm vi hoạt động cả trong nước và nước ngoài, cụ thể bao gồm: 1 Hội sở chính, 1 Sở Giao dịch, 60
Chi nhánh, 1 Trung tâm đào tạo, 4 Công ty con bao gồm 3 Công ty trong nước, 1 Công ty tài chính ở
Hồng Kông, 1 Văn phòng đại diện, 209 Phòng giao dịch và 4 công ty liên doanh, 3 công ty liên kết.
VIETCOMBANK cũng là ngân hàng quốc doanh đầu tiên được cổ phần hóa tại Việt Nam thông qua
đợt IPO được tổ chức vào tháng 12/2007. Hiện nay VCB hoạt động theo mô hình công ty cổ phần
theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103024468 do Sở Kế hoạch Đầu tư Tp. Hà Nội cấp
ngày 02/06/2008 với vốn điều lệ 12.100.860.260.000 đồng; trong đó cổ đông nhà nước chiếm
90,72%, cổ đông trong nước chiếm 6,87% và cổ đông nước ngoài chiếm 2,4%. Số lượng cổ phiếu
VCB niêm yết trên SGDCK Tp.HCM là 112.285.426 cổ phiếu (chiếm 9,28% vốn điều lệ).
2. Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VIETINBANK) tiền thân là Ngân hàng Công thương
Chỉ số này bên VCB có giảm qua các năm nhưng vẫn luôn giữ ở mức khác cao, năm 2009 chiếm tỷ lệ
1,76%, năm 2010 chiếm 1.7%. do đặc thù bên VCB khách hàng chủ yếu là những doanh nghệp lớn, những
ca nhân, tổ chức gửi tiền với số lượng nhiều, nên lượng tiền một khi khách hàng rút ra khỏi ngân hàng cũng
không nhỏ, chính vì vậy nên VCB luôn phải giữ lượng tiền mặt tương đối lớn để trách nguy cơ đối mặt với
rủi ro về thanh toán.
2. Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước: khoản mục này bao gồm tiền gửi thanh toán và dự trữ bắt buộc.
Trung bình khoản dự trữ bắt buộc tháng 12/2010 của CTG là khoảng 5.220.532 đồng. CTG không giữ quá
nhiều tiền vào tài khoản tiền gửi tại NHNN, chỉ đáp ứng đủ nhu cầu về dự trữ bắt buộc. bởi lãi suất các
khoản tiền gửi này là không đáng kể, bởi thế CTG có xu hướng giảm khoản mục này qua các năm trong tỷ
trọng tổng tài sản của NH. Ta cũng có thể thấy tỷ lệ tăng trưởng âm qua các năm.
4
Chung xu hướng với CTG, bên VCB tỷ lệ tiền gửi tại NHNN cũng giảm đáng kể qua các năm với tấc độ
giảm còn mạnh hơn bên CTG. Con số này là năm 2009 giảm 17,63% so với năm 2008, và năm 2010 giảm
67,27% so với năm 2009. Tỷ trọng tiền gửi tại NHNN qua các năm tương ứng chiến 13,77% - 2008, 9,85%
- 2009 sang năm 2010 chỉ còn chiếm 2,68%. Trong đó chủ yếu là tiền gửi bằng VND. Nguyên nhân do
?????????????
3. Tiền gửi tại và cho vay các tổ chức tín dụng khác: nhằm mục đích bù trừ thanh toán giữa các ngân
hàng với nhau. Xu hướng ngày nay các NH ngày càng thiết lập mối quan hệ mật thiết, nhằm cùng nhau phát
triển, tương trợ mở rộng hoạt động của mình cũng như của đối tác.
Khoản tiền gửi tại và cho vay các tổ chức tín dụng khác ở cả hai NH VCB và CTG tăng mạnh trong những
năm qua. Tại CTG riêng tỷ lệ gia tăng năm 2010 gấp đôi so với năm 2009, cùng với đó là tỷ trọng khoản
mục này trong tổng tài sản cũng tăng lên 13.86%. Đối với VCB luôn được coi là ngân hàng lớn hàng đầu
Việt Nam, nhu cầu thanh toán bù trừ với các NH khác cao, chính vì thế VCB luôn giữ khoản mục này cao
hơn cac NH khác, và tỷ lệ cũng gia tăng nhanh theo năm. Năm 2010 tăng 66% so với năm 2009 và kết thúc
năm 2010 đạt tỷ trọng 25.6% tổng tài sản. Chiếm tỷ trọng lớn trong khoản mục này chủ yếu là tiền gửi tại
các NH khác, ở VCB loại tiền gửi này chiếm gần như tuyệt đối. Tại CTG tiền gửi này mấy năm về trước có
phần thấp, tuy nhiên hai năm trở lại đây con số này cũng tăng trưởng mạnh và chiếm tỷ trọng cũng rất lớn.
Qua đây ta có thể thấy xu hướng hợp tác giao dịch giữa các NH ngày cang cao.
4. Chứng khoán kinh doanh sẵn sàng bán: đây có thể được coi như loại tài sản dự trữ thứ cấp đảm
tiền tệ. Trong tình hình nền kinh tế ổn định, các giao dịch này có thể đem lại cho NH khoản lợi tức lớn,
nhưng trong nện kinh tế không ổn định, các công cụ tài chính phái sinh này tồn tại nhiều tiềm ẩm rủi ro
trong nó.
Tại VCB được coi là NH lớn, tuy nhiên trong mấy năm gần lại đây, hầu như laooij tài sản này không có
trong cấu trúc tài sản của NH, năm 2010 có phát sinh một khoản không đáng kể chiếm khoảng 0.01% trên
tổng tài sản. Nếu nhìn qua CTG ta có thể thấy, CTG đang có xu hướng điều chỉnh giảm qua các năm, kết
thúc năm 2010 nằm ở tỷ lệ 0.01%, đấy là kết quả của việc năm 2010 CTG giảm so với năm 2009, 74% giá
trị tài sản.
6
6. Cho vay khách hàng: đây là loại hình tài sản luôn chiếm vị trí cao nhất trong kết cấu tài sản của bất
kỳ một ngân hàng nào, vì đây là loại tài sản đặc thù của ngành ngân hàng.
Nhìn vào hai bảng CĐKT thay có thể thấy rõ ràng rằng tỷ lệ cho vay khách hàng của VCB luôn chiếm tỷ
trọng thấp hơn so với bên CTG, nhưng vẫn chiếm trên 55%, và có xu hướng tăng nhẹ qua các năm vào
khoảng 24% - 25% mỗi năm, tăng nhanh hơn tỷ lệ tăng của tổng tài sản.
Khoản mục cho vay bên CTG tăng nhanh hơn mỗi năm, năm 2010 tăng trưởng tỷ lệ này với 43%, tuy nhiên
tỷ lệ này tăng thấp hơn mức tăng tổng tài sản, nên tỷ trọng năm năm 2010 (62.94%) có giảm hơn so với năm
2009 ( 66.3%).
Để đánh giá được chất lượng hoạt động tín dụng tại các NH ta hãy xem tỷ lệ phân bổ nguồn tín dụng theo
các nhóm nợ khác nhau cảu khách hàng, tương ứng với nó là tỷ lệ trích dự p hòng cho các nhóm nợ này theo
quy định.
Tỷ lệ trích dự phòng tại CVB luôn nằm ở mức trên 3% tổng mức cho vay khách hàng, còn ở CTG vào
khoảng trên 1%. Xét cấu trúc nợ của hai NH, tỷ lệ nợ đủ tiêu chuẩn tại VCB biến động trong vòng khoảng
90% so với tổng mức nợ cho vay, trong khi đó CTG tỷ lệ này luôn ở mức rất cao 98% trong cả hai năm
2009 và 2010.
Cơ cấu nợ NH CTG % thay đổi Tỷ trọng
Cơ cấu nợ 2008 2009 2010
2009 so với
2008
536,818
437,549
203,241 -18.49% -53.55% 0.44% 0.27% 0.09%
Tổng cộng
120,752,073
163,170,485 234,204,809 35.13% 43.53% 100.00% 100.00% 100.00%
Nhìn vào cơ cấu nợ qua các năm của CTG tỷ lệ các khoản nợ giảm dần theo nhóm, nhóm nợ đủ tiêu chuẩn
luôn chiếm tỷ lệ rất cao 98%, các khoản nợ khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ và tỷ lệ càng thấp xuống qua các năm.
năm 2010 tỷ lệ nợ xấu giảm đi đáng kể chiếm chỉ khoảng 0.09% so với tổng số cho vay. Số liệu này cũng
giải thích vì sao tỷ lệ trích dự phòng các khoản cho vay của CTG là rất nhỏ.
7
Cơ cấu nợ NH VCB % thay đổi Tỷ trọng
Cơ cấu nợ 2008 2009 2010
2009 so
với 2008
2010 so
với 2009 2008 2009 2010
nợ đủ tiêu c huẩn 104,529,600 130,088,700 154,540,431 24.45% 18.80% 92.67% 91.86% 87.40%
Nợ cần chú ý 3,061,320 8,033,742 17,293,379 162.43% 115.26% 2.71% 5.67% 9.78%
Nợ dưới tiêu chuẩn 921,191 440,649 996,898 -52.17% 126.23% 0.82% 0.31% 0.56%
Nợ nghi ngờ 813,087 394,977 300,388 -51.42% -23.95% 0.72% 0.28% 0.17%
Nợ có khả năng mất
vốn 3,467,767 2,663,058 3,682,810 -23.21% 38.29% 3.07% 1.88% 2.08%
Tổng cộng 112,792,965 141,621,126 176,813,906 25.56% 24.85% 100.00% 100.00% 100.00%
Trong cấu trúc các khoản cho vay khách hàng của VCB ta thấy tỷ lệ nợ cho vay ở nhóm dưới chuẩn khá
trích cho năm 2009 là 1,31%, năm 2010 là 0,97%, điều này cũng hợp lý cho những biến động bất thường
trên thị trường CK những năm gần đây. Con số này làm giảm tổng TS VCB đi 0,1% các năm.
8. Góp vốn, đầu tư dài hạn: Ngày nay các NH luôn có xu hướng đang hạng hóa hoạt động đầu tư của
mình bên cạnh những hoạt động truyền thống khác, khoản mục này bao gồm vốn góp vào các cty liên
doanh, liên kết và các đầu tư dài hạn khác.
Tỷ lệ này ở CTG chiếm một tỷ lệ khác nhỏ, và có xu hướng tăng qua các năm nhưng không chiếm tỷ trọng
đáng kế cho cơ cấu tổng tài sản. Trong khi đó lại VCB tỷ lệ tăng trưởng có thấp hơn nhưng tỷ trọng khoản
mục này trong lại khá cao chiếm từ 1,3% đến 1,4%.
Nếu nhìn vào cơ cấu đầu tư các khoản mục con trong mục này ta sẽ thấy được sự đa dạng đầy tư tại VCB,
chiếm tỷ trọng đầu tư chủ yếu vào các công ty nhà nước, các NHTM, công ty hoạt động trong những lĩnh
vực then chốt như dầu khí, bưu chính, viễn thông, bảo hiểm, bất động sản…cơ cấu đầu tư tại CTG ít đa
dạng hơn, chỉ trong một, hai lĩnh vực điển hình như NH, cty vàng, cty tài chính.
Đặc biệt tỷ lệ trích dự phòng đầu tư tại VCB cũng chiếm tỷ lệ cao chiếm 2,84% năm 2009, và 3,92% năm
2010. Con số này cũng làm tổng tài sản VCB giảm đi 0,05% năm 2010. Trong khi đó CTG hầu như hoàn
toàn không trích dự phòng cho các khoản đầu tư này qua các năm. Và điều này không làm cho tổng TS của
CTG giảm đi chút nào trong hiện tại, nhưng lại gây ảnh hưởng xấu đến tương lai một khi thị trường có sự
biến động lớn.
9
9. Tài sản cố định: Nhìn trong cơ cấu tài sản cố định tại 02 NH ta có thể thấy bên VCB loại hình này
chiếm tỷ lệ khá nhỏ. Quy mô VCB luôn được coi là lớn xong nếu nhìn vào con số tuyệt đối trong phần tài
sản cố định ta có thể thấy chỉ bằng khoảng ½ tổng tài sản cố định của CTG, tấc độ tăng trưởng có tăng qua
các năm nhưng không tăng nhanh bằng tấc độ tăng của tổng tài sản nên ta sẽ thấy tỷ trọng của loại hình tài
sản này giảm qua các năm, năm 2010 chỉ còn khoảng 0.55%, vào khoảng 1.600 tỷ. Đối với CTG kết thúc
năm 2010 tài sản cố định vào khoảng 3.300 tỷ đồng, chiếm 0.9% tổng tài sản.
Xét trong cơ cấu các loại hình tài sản hình thành nên TSCD. cả hai NH chiếm tỷ trọng lớn vẫn là phần tài
sản cố định hưu hình, phần tài sản cố định vô hình tại VCB chiếm trên 20% trong tổng mức TSCD, có xu
hướng tăng trong năm 2010. Trong phần tài sản cố đinh hữu hình tại CTG chiếm tỷ lệ cao hơn, trong đó có
một phần tiền thuê đất mà CTG tính vào làm TSCD vô hình, con số này khá lớn chiếm khoảng 1/3 tổng số
TSCD vô hình hàng năm của NH.
Tiền gửi năm 2010 tăng đáng kể so với
năm 2009 vì năm 2010 là năm đầu tư
không hiệu quả nên khách hàng gửi tiền
10
đến cuộc chạy đua ls. Tuy nhiên, CTG gần
tham gia vào cuộc đua này -> lượng tiền gửi
"chảy" qua các NH khác có ls huy động cao.
tại NH xem là nơi trú ẩn an toàn, bảo toàn
vốn. Trong cuộc chạy đua lãi suất NH k có
tên trong danh sách những NH huy động
lãi suất cao nhưng lượng tiền gửi tăng điều
này chứng tỏ thương hiệu và độ tin cậy
của khách hàng vào NH cao.
So sánh 2 NH thì ta thấy VCB tốt hơn CTG
Tiền gửi và vay các TCTD khác
4.56%
6.16%8,824,710
15,012,157
35,096,720
.
Tiền gửi và vay các TCTD khác của CTG có
tăng qua các năm nhưng không đáng kể, điều
8,109,648
11,341,317
15,262,068
Tỷ lệ này chiếm < 10% tổng nguồn vốn. Do NH
sử dụng đòn bẩy tài chính (tài trợ bằng nợ
nhiều).
Vốn của TCTD
5.48%
4.75%
12,164,475
12,146,020
14,255,875
Vốn của VCB năn 2009 giảm so với năm
2008 nhưng không đáng kể vì năm 2009
tình hình kinh tế gặp khủng hoảng toàn
cầu từ Mỹ. Năm 2010 thì vốn tăng đáng
kể cho thấy dấu hiệu phục hồi của nền
kinh tế và hoạt động hiệu quả của ngân
hàng
Vốn của CTG tăng cao hơn VCB trong năm 2010 chứng tỏ CTG chưa sử dụng vốn hiệu quả.
động không thành công năm 2009 đem về cho NH khoản lỗ khá lớn thì năm 2010 NH đac thu được khoản
lợi nhuận lớn. đặc biệt trong năm 2010 hoạt động đầu tư CK ở CTG không thành công, cả hai hoạt động
mua bán cũng như đầu tư đều thua lỗ khoản lớn. Nhớ lại phần kết cấu tài sản của CTG ta sẽ thấy họ tăng
12
trong chứng khoán đầu tư năm 2010 lên 58%, nhưng hoạt động này lại thua lỗ dẫn đến hiệu quả sử dụng tài
sản không hiệu quả.
4. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước phòng ngừa rủi ro tín dụng, so sánh tỷ lệ này
tại hai NH cho ta thấy được hiệu quả sử dụng tài sản cũng như quản lý chi phí tại NH. Nếu tỷ lệ lợi nhuận
của VCB trước phong ngừa rủi ro chiếm khoản 70% qua các năm thì bên CTG con số này chỉ khoản trên
dưới 50%. Điều này cho thấy việc VCB hoạt động với chi phí thấp hơn, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
5. Chi phí phòng ngừa rủi ro tín dụng: đây là chi phí cần thiết và bắt buộc đối với bất kỳ NH nào.
Tỷ lệ trích phong ngừa rủi ro tín dụng biến động qua các năm. Ở cả hai NH trích khoản phòng ngừa khá lớn
trong năm 2008 – đây là thời điểm cao trào của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, và lẽ tự nhiên khi NH
trích tỷ lệ phòng ngừa cao như vậy. Đến năm 2009, khi tình hình đã ổn định trở lại các NH giải tỷ lệ phòng
ngừa xuống, ở CTG từ 34.8% xuống cong 11.9% so với tổng lợi nhận kinh doanh nhận được, và chiếm tỷ
trọng còn 5.25% tổng lợi nhuận CTG thu được. Trong khi bên VCB giảm từ 47.19% xuống còn 13.61%
tổng doanh thu nhận được và chiếm 8.49% tổng thu nhập từ hoạt động. Sang năm 2010 khi mà các NH bắt
đầu bị quản lý rủi ro chặt chẽ hơn bởi thông tư 13 của chính phủ về việc an toàn vốn. Buộc các Nh phải trích
lập phong ngừa nhiều hơn để đáp ứng được như cầu. Trên thực tế không một NH nào muốn trích lập phòng
ngừa rủi ro cao cho các hoạt động của mình, vì nó sẽ làm giảm tổng tài sản xuống cũng như giảm thu nhập
từ hoạt động.
Nhìn lại phần trích rủi ro tín dụng ở 02 NH ta thấy CTG trích dự phong rủi ro cho hoạt động tín dụng của họ
cực ký thấp, nhưng nếu so tổng tỷ lệ rủi ro tín dụng với lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi
phí dự phòng rủi ro tín dụng, cũng như tỷ lệ so với tổng thu nhập hoạt động thì lại chiếm tỷ trọng cao hơn so
với khoản dự phòng mà VCB trích lập.
Trước những quy định an toàn vốn được đưa ra, dường như VCB ít bị biến động hơn, cụ thể khoản dự
phòng của họ năm 2010 tăng 89% trong khi đó khoản dự phòng mà CTG trích lập năm 2010 tăng lên gấp
gần 5 lần chiếm tới 20.4% tổng thu nhập từ hoạt động của CTG.
Phần IV: Phân tích rủi ro và tỷ suất sinh lời đánh giá theo mô hình CAMELS
g) Tỷ lệ thu nhập ròng từ hoạt động
dịch vụ trong lợi nhuận trước thuế 30% 23.79% 19.77% 19.28%
5 LIQ UIDITY a) Tỷ số giữa cho vay ròng/tổng TS 48.90% 53.62% 55.64% 61.26% 66.30% 62.94%
b) Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn
sử dụng để cho vay trung dài hạn 30%
c) Tỷ số giữa tiền mặt và số dư tiền
gửi tại các NH khác so với tổng TS 15.25% 20.33% 27.30%
d) Tỷ số giữa tiền mặt và chứng
khoán chính phủ so với tổng tài sản
6 SENSITIVITY
1. Mấc độ an toan vốn: đây là chỉ tiêu quan trọng trong quản lý rủi ro NH.
- Chỉ tiêu VCSH/TTS: cho thấy một đồng tài sản NH được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng vốn, ta
trường NH phát triển chậm lại, NHNN ổn định kinh tế vĩ mô, có xu hướng thắt chặt tiền tệ sau khi
nới lỏng tiền tệ để hỗ trợ nền kinh tế 2009 phục hồi sau khủng hoảng 2008 -> CTG cũng chịu ảnh
hưởng bới xu thế chung -> ROE 2010 giảm so với 2009.
Tình hình tại VCB
PT DUPONT
Net Profit Margin 28.49% 42.48% 36.59%
Asset Utilization 4.01% 3.63% 3.73%
Equity Multiplier 18.25 21.04 21.58
- ROE tăng manh từ năm 2008 ->2010 do
15
+ Thứ nhất: tỷ trọng EM thay đổi khá nhiều. Ta thấy tỷ trọng EM cho thấy bao nhiêu đồng tài sản
được tạo ra trên cơ sở 1 đồng vốn chủ sở hữu và VCB phải dựa vào nguồn vay nợ là khá nhiều. Tỷ lệ EM
cao chứng tỏ là Tổng tài sản tăng nhanh hơn vốn chủ sở hữu.
+ Thứ hai: ROE vào năm 2009 tăng hơn so với năm 2008 nhờ tỷ lệ NPM tăng từ 28,49% ->42,48% do
năm 2009 LNST tăng hơn 40%. Năm 2009 LNTT/ tổng thu từ hoạt động tăng từ 37,34%->53,89% nhưng
đến năm 2010 tỷ lệ này chỉ còn 47,95% chứng tỏ trong năm 2010 VCB chưa kiểm soát hiệu quả chi phí hoạt
động. Có thể lý giải cho tình trạng này là do: thu nhập từ lãi giảm trong khi chi phí lãi lại tăng cao trong
năm 2010 do NHNN thực hiện ổn định CSTT, các NH cạnh tranh gay gắt, thu hẹp biên độ giữa lãi tiền gửi
và tiền vay.
+ Thứ ba: ta thấy từ năm 2009 ->2010 tỷ số tổng thu từ hoạt động/ tổng tài sản giảm từ 4.01% còn
3,63% trong năm 2009 và chỉ tăng nhẹ lên 3,73% trong năm 2010, VCB vần xem xét các chính sách liên
quan đến danh mục đầu tư tài sản. Sự sụt giảm ở tỷ lệ này năm 2009 có thể lý giải do trongnăm 2009 thị
trường ngành NH gặp nhiều khó khăn, chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu từ của VCb giăm
mạnh, chủ yếu là nguồn thu từ lãi vay nhưng không đủ bù đắp được.
- NIM: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên: cho thấy một đồng tài sản sinh ra bao nhiêu đồng lãi cho NH. Số
NIM tại CTG luôn lớn hơn VCB mặc dù tỷ trọng chi phí lãi và các chi phí tương tự có cao hơn, nhưng cơ
cấu tài tỷ trọng doanh thu từ lãi của CTG là rất lớn, chiếm 82% tổng thu nhập. Hơn nữa tổng tài sản trong
hai năn 2008 và 2009 của CTG vẫn nhỏ hơn so với VCB, nên NIM cao hơn.