Nguyễn Văn Tuyên - Lớp K43B -Thú Y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
SĐT : 0915905154 [email protected]
ĐỘC CHẤT HỌC THÚ Y
Chương 1 : Một số vấn đề cơ bản về độc chất học
Câu 1. Các yếu tố thuộc về chất độc,độc tố,độc lực
a. Khái niệm chất độc
Chất độc là những chất vô cơ hay hữu cơ có nguồn gốc thiên nhiên hay do tổng
hợp, khi nhiễm vào cơ thể và đạt đến nồng độ nhất định có thể gây hiệu quả dộc hại
cho cơ thể sống.
chất độc là độc tố (toxin) được dùng để chỉ các chất độc được sản sinh (có nguồn
gốc) từ các quá trình sinh học của cơ thể và được gọi là độc tố sinh học (biotoxin)
Trong quá trình nghiên cứu về chất độc cần lưu ý một số điểm sau:
-Chất độc là một khái niệm mang tính định lượng. Mọi chất đều độc ở một liều nào
đó và cũng vô hại với liều rất thấp. Giới hạn giữa 2 liều đó là phạm vi các tác dụng
sinh học. Sắt, đồng, magne, kẽm là những nguyên tố vi lượng cần thiết trong thành
phần thức ăn chăn nuôi, nhưng nếu quá liều thì có thể gây ngộ độc.
-Về mặt sinh học, một chất có thể độc với loài này nhưng lại không độc với loài
khác. Carbon tetraclorid gây độc mạnh cho gan trên nhiều loài, nhưng ít hại hơn
đối với gà. Một số loài thỏ có thể ăn lá cà độcdược có chứa belladon.
-Một chất có thể không độc khi dùng một mình, nhưng lại rất độc khi dùng phối hợp
với chất khác. Piperonyl butoxid rất ít độc với loài có vú và côn trùng khi dùng một
mình, nhưng có thể làm tăng độc tính rất mạnh của các chất dùng cùng do nó có
tác dụng ức chế các enzym chuyển hoá chất lạ của cơ thể.
-Độc tính của một chất độc có thể thay đổi khi xâm nhập vào cơ thể qua các đường
khác nhau như: qua đường uống, đường hô hấp, qua da, qua đường tiêm
b. Khái niệm độc tính và độc lực
-Khái niệm độc tính:được dùng để miêu tả tính chất gây độc của chất độc đối với cơ
thể sống.
-Khái niệm độc lực:là lượng chất độc trong những điều kiện nhất định gây ảnh
hưởng độc hại hoặc những biến đổi sinh học có hại cho cơ thể
c. Các nguồn chấtđộc
monoxyd, fluoride.
-Các chất hữu cơ: Hydrocarbon mạch thẳng (hexan) hydrocarbon mạch vòng
(benzen, toluen, xylen), hydro carbon gắn halogen (dicloromethan,
tricloroethylen), cồn (methanol, ethylenglycol), các dẫn xuất nitro
(nitrobenzen).Các dung môi thường gặp ở môi trường công nghiệp, trong nghiên
cứu và trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài tác dụng tại chỗ trên da (tẩy mỡ, kích
ứng), nhiều chất gây dộc toàn thân (hệ thần kinh trung ương, tạo máu).
* Hóa chất bảo vệ thực vật
Hóa chất bảo vệ thực vật bao gồm thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ bệnh Các
chất này tuy có độc tính chọn lọc trên cỏ hoặc côn trùng nhưng khi sử dụng vẫn gây
ô nhiễm không khí, đất, nước và từ đó có thể gây độc cho người và súc vật.
* Thuốc thú y dùng điều trị gia súc gia cầm
Thuốc thú y, nhất là các thuốc có độc tính cao nếu dùng không đúng, quá liều,
không đúng chỉ định, sự tương tác giữa các thuốc khi dùng phối hợp… có thể gây
ngộ độc thuốc thú y ở vật nuôi.
d. Sự vận chuyển của chất độc trong môi trường
Các chất hoá học như hoá chất bảo vệ thực vật, các khí thải công nghiệp được giải
phóng ra môi trường hiếm khi được lưu lại tại chỗ hoặc giữ nguyên dạng. Nhiều
hoá chất sau đó bị phân giải bởi vi khuẩn và nấm rồi nhanh chóng bị khử độc,
thường bị cắt vụn thành hợp chất có thể nhập vào chu trình carbon, nitơ và oxy.
Các chất khác đặc biệt là hữu cơ chứa halogen, là những chất ít nhiều không bị
chuyển hoá bởi vi khuẩn và tồn tại trong đất như chất ô nhiễm, lại nhập vào các
cây lương thực -thực phẩm ví dụ DDT và chất chuyển hoá chính của nó DDE có
thể tồn tại nhiều năm sau khi đã ngừng phun DDT.
-Các chất độc dễ tan trong mỡ sẽ dễ bị cơ thể hấp thu khi phơi nhiễm trong không
khí, đất, nước và dần dần được tích luỹ cho đến khi đạt nồng độ gây độc.
Sự tích lũy hóa chất bảo vệ thực vật trong chuỗi sinh học thực phẩm được thể hiện
như sau:
* Hóa chất bảo vệ thực vậttích lũy trong đất:
2
-Có thể hấp thu một lượng lớn chất độc
-Bị chuyển hoá một phần khi qua gan lần thứ nhất.
-Có pH thay đổi từ acid (1 -3 ở dạ dày ), tăng dần tới kiềm (6 -8 ở ruột) nên hấp thu
các chất độc có pKa khác nhau.
-Có quá trình vận chuyển tích cực dễ hấp thu, nhất là khi chất độc có cấu trúc giống
với chất dinh dưỡng của cơ thể.
* Chất độc xâm nhập qua đường hô hấp
Sự hấp thu qua đường hô hấp có 2 đặc điểm quan trọng:
(1) Niêm mạc hấp thu có diện tích rất rộng (ở người là 80 -100 m2) bằng khoảng
50 lần diện tích da.
(2) Khoảng cách giữa diện hấp thu với tuần hoàn chỉ dầy 1 -2 mm, vì vậy khí độc có
thể vào tuần hoàn sau vài giây.
Về sự xâm nhập các chất độc qua đường hô hấp, cần lưu ý một số đặc điểm sau:
3
Nguyễn Văn Tuyên - Lớp K43B -Thú Y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
SĐT : 0915905154 [email protected]
-Trong chu kỳ hô hấp, luôn có một thể tích khí tồn lưu lại trong phổi, vì vậy các khí
độc chậm thải trừ và sẽ dễ bị hấp thu trở lại.
Các hạt có đường kính > 5 mm thườnglắng đọng trong vùng mũi họng. Các hạt < 2
mm lắng đọng trong các nhánh khí phế quản, ở đó, các niêm mao niêm dịch sẽ đẩy
chúng ra với tốc độ 1 mm/phút và thời gian bán thải < 5 giờ. Các hạt bụi <10
-6
có
thể vào tận phế nang
.
Khoảng 80% thanh thải của phổi là qua đường này. Khi tới
thanh môn các bụi thải sẽ được nuốt vào đường tiêu hoá hoặc ho, khạc đẩy ra
ngoài. Ngoài ra, hiện tượng thực bào trên đường hô hấp cũng đóng vai trò rất tích
cực trong việc thanh thải các chất độc.
Các chất khí sẽ qua phế nang vào máu, chất nào có độ hoà tan cao sẽ được hấp thu
phải có
chất vận chuyển nên tại đây có sự canh tranh để thải trừ.
Tái hấp thu ở ống thận: là quá trinh khuếch tán thụ động qua ống thận, quá trình
này xảy ra ở ống lượn gần và ống lượn xa. Các chất tan trong lipid, không bị ion
4
Nguyễn Văn Tuyên - Lớp K43B -Thú Y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
SĐT : 0915905154 [email protected]
hóa ở pH nước tiểu tuy đã thải trừ trong nước tiểu ban đầu lại được tái hấp thu
vào máu.
* ý nghĩa lâm sàng
Làm tăng thải trừ để điều trị nhiễm độc: kiềm hoá nước tiểu, làm tăng độ ion hoá
của phenobarbital, tăng thải trừ khi bị nhiễm độc phenobarbital.
b. Đào thải chất độc qua mật
Saukhi chuyển hoá ở gan, các chất chuyển hoá có trọng lượng phân tử lớn hơn 300
sẽ thải trừ qua mật để theo phân ra ngoài. Phần lớn sau khi bị chuyển hoá thêm ở
ruột sẽ được tái hấp thu vào máu để thải trừ qua thận.
Một số chất sau khi thải trừ qua mật xuống ruột lại được tái hấp thu về gan theo
đường tĩnh mạch gánh để lại vào vòng tuần hoàn, được gọi là chất có chu kỳ ruột
-gan. Những chất này tích luỹ trong cơ thể, làm kéo dài tác dụng (morphin,
tetracylin, digitalis trợ tim ).
c. Đào thải chất độc qua phổi
Các chất độc thể hơi, có tính chất bay hơi thải trừ qua phổi, bao gồm: (1) Các chất
bay hơi như rượu, tinh dầu (eucalyptol, menthol). (2)Các chất khí: halothan. Ether
etylic.
d. Đào thải chất độc qua sữa
Các chất tan mạnh trong lipid (các alcaloid, barbiturat, các chất chống viêm
phi steroid, tetracycilin ), có trọng lượng phân tử dưới 200 thường dễ dàng thải
trừ qua sữa.Vì sữa có pH hơi acid hơn huyết tương nên các chất là acid yếu có nồng
độ thấp hơn và các chất là base yếu có thể nồng độ trong sữahơi cao hơn huyết
tương.
bào sống và làm rối loạn hoạt động của chúng.
a. ảnh hưởng đến hệ thần kinh
Phần lớn các chất độc đều ít nhiều tác dụng lên hệ thần kinh gâyrối loạn chức năng
vận động, cảm giác.Các loại thuốc mê như cloroform tác dụng lên não và tủy sống
làm mất phản xạ, cuối cùng tác dụng lên hành tủy gây ngừng thở. Nhiều trường
hợp gây hôn mê như thuốc ngủ, thuốc phiện, rượu etynic.
• Các chất thuộc nhóm amphetamin, long não, atropin và thế phẩm, clo hữu cơ gây
kích thích, vật vã. Strychnin và mã tiền gây co cứng (kích thích tủy sống quá mức).
• Các chất gây rối loạn cảm giác như Streptomycin, quinin, salicylat gây chóng mặt,
Santonin, quinacrin làm hoa mắt, Streptomycin, kanamycin, neomycin gây điếc.
Một số chất tác dụng lên hệ giao cảm, gây giãn đồng tử mắt như adrenalin,
ephedrin, atropin, nicotin. Ngược lại một số chất như eserin, acetylcolin,
prostigmin làm co đồng tử mắt.
b. ảnh hưởng đến bộ máy tiêu hóa
Các chất độc khi xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa thường gây nôn mửa, đó
là phản ứng đầu tiên của cơ thể (ngộ độc thủy ngân, thuốc phiện, photpho
hữu cơ…); nhưng cũng do tác dụng của chất độc trên hệ thần kinh làm co bóp
mạnh cơ hoành.Các chất độc như photpho hữu cơ, nấm và một số kim loại như chì,
thủy ngân, bitmut có thể gây tiết nước bọt nhiều; ngược lại atropin làm khô miệng;
axit, kiềm kích thích đường tiêu hóa như; thuốc chống đông máu, dẫn xuất salicylat
gây chẩy máu đường tiêu hóa.
c. ảnh hưởng đến gan
Gan là một cơ quan nằm ở ngã tư đường tiêu hóa. Từ tĩnh mạch cửa, gan nhận tất
cả các chất do chuyển hóa thức ăn cung cấp và các chất độc. Mặt khác, các chất
chứa trong máu qua hệ thống đại tuần hoàn đều các tác dụng đến gan. Hầu như
trường hợp ngộ độc nào cũng có tổn thương ở gan. Rượu làm xơ hóa gan, thoái
hóa mỡ trong ngộ độc photpho, asen; vàng da trong ngộ độc AsH3.
d. ảnh hưởng đến tim mạch
Các chất trợ tim dùng quá liều đều gây độc. Cafein, adrenalin, amphetamin làm
tăng nhịp tim. Digitalin, eserin, photpho hữu cơ làm giảm nhịp tim. Đặc biệt
Chất độc ức chế hô hấp gây ngạt thở tiến tới ngừng thở như thuốc phiện, cyanic,
thuốc ngủ. Một số chất có thể gây phù phổi như: hydrosulphit, photpho hữu cơ.
g. ảnh hưởng đến thận
Chất độc có thể tác động lên các chức phận của thận. Thủy ngân, chì, cadimi làm
tăng ure và albumin trong nước tiểu. Axit oxalic, thuốc chống đông máu, cantharit
gây đái ra máu. Các dung môi hữu cơ có clo gây viêm thận. Nhiều chất gây
vô niệu như thủy ngân, sulphamid, mật cá trắm.
Nước tiểu là một loại mẫu thử quan trọng trong kiểm nghiệm độc chất.
Câu 4. các yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng của chất độc
Để có tác dụng gây độc, các chất độc hoặc các sản phẩm chuyển hóa của chúng
phải đạt được nồng độ đủ cao trong khoảng thời gian nhất định trong cơ thể (tùy
loại chất độc).Các yếu tố khi tương tác với nhau có thể làm thay đổi đáp ứng của cơ
thể đối với chất độc, ảnh hưởng đến đáp ứng liều lượng và chẩn đoán ngộ độc. Mặc
dù từng yếu tố không gây ảnh hưởng lớn, nhưng nếu nhiều yếu tố cùng tác động thì
ảnh hưởng của chúng sẽ trở nên có ý nghĩa.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng của chất độc bao gồm:
-Các yếu tố thuộc về chất độc: thường có ảnh hưởng đến quá trình tương tác của
chất độc với thụ thể hoặc màng tế bào.
-Các yếu tố trong động vật chủ: thường làm thay đổi mức độ gây độc,giải độc hoặc
sự thích ứng của cơ thể với chất độc.
-Các yếu tố trong môi trường có ảnh hưởng đến chất độc hoặc động vật chủ.
4.1. Các yếu tố thuộc về chất độc
7
Nguyễn Văn Tuyên - Lớp K43B -Thú Y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
SĐT : 0915905154 [email protected]
a. Bản chất vật lý và hoá học của chất độc
Bản chất vật lý và cấu tạo hoá học của chất độc có ảnh hưởng đến tác dụng
gây độc của chất đó. Ví dụ: Phospho vàng là rất độc còn phospho đỏ lại có tỷ lệ nhất
định nào đó trong cơ thể.
Độc tính của các hợp chất hữu cơ là do các cấu trúc đặc hiệu. Thay đổi các nhóm
-Các thành phần hoạt chất trong dạng huyền phù (thể vẩn)hoặc nhũ tương có độc
tính hơn là nếu chúng hòa tan trong tá dược lỏng.
-Tá dược (đôi khi là các thành phần khí trơ)có thể gây độc, ví dụ súc vật bị ngộ độc
bởi chất vận tải hydrocarbon trong thuốc trừ sâu. Việc sử dụng những chất vận tải
chưa được kiểm nghiệm (chẳng hạn như kerosence)sẽ gây ngộ độc.
-Sự hình thành các bột hút ẩm, huyền phù và nhũ tương ảnh hưởng đếntốc độ đọng
(duy trì)các chất độc trên lông và da súc vật và tốc độ hấp thu các chất này qua
đường tiêu hóa.
8
Nguyễn Văn Tuyên - Lớp K43B -Thú Y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
SĐT : 0915905154 [email protected]
Ví dụ: thuốc bảo vệ thực vật gây ngộ độc do có thể đọng lại trên lông và da động vật
gây tích lũy một lượng thuốc vượt quá giới hạn cho phép.
-Thuốc bột hay nhũ tương không được trộn đều trong quá trình bào chế làm thay
đổi nồng độ hoạt chất trong hỗn hợp thuốc. Một phần trong hỗn hợp thuốc có nồng
độ hoạt chất cao, phần còn lại nồng độ hoạt chất lại thấp.
c. Tương tác hóa học trực tiếp
Các hóa chất khi dùng phối hợp trực tiếp có thể tạo dạng kết tủa không tan, làm
giảm hoặc độc tính hoặc tác dụng. Những tương tác làm thay đổi thành phần hóa
học có thể làm thay đổi độc tính sẵn có của chất độc đó
-Sự thay đổi các anion trong muối đồng (vídụ như sulfat đồng thành oxyd đồng)có
thể thay đổi độc tính của đồng
- Sự thủy phân các nhóm este của các hợp chất hữu cơ, ví dụ như thuốc trừ
sâu organophosphat có thể làm giảm độc tính.
d. Liều lượng chất độc
Tác dụng của chất độc lên cơ thể phụ thuộc vào liều lượng của chúng. Liều lượng
này
có thể là: (1) Liều điều trị: lượng chất độc dùng điều trị bệnh;
(2) Liều gây độc: gây những trạng thái bệnh lý;
(3) Liều chết: gây chết động vật.
-Phản ứng đặc ứng:nguyên nhân có thể do một quá trình chuyển hóa hoặc giải độc
bất thường trong cơ thể và thường có tính di truyền. Phản ứng xảy ra tương tự
như ở cơ thể bình thường nhưng với liều lượng rất thấp.
Trường hợp ít gặp hơn là đáp ứng của những động vật có những phản ứng bất
thường đối với một hóa chất độc nhất định.
3. Tính biệt
Phản ứng với các chất độc cũng khác nhau theo giới tính (cái và đực) ví dụ như
thuốc trừ sâu Parathion hay Potasan độc với chuột cái hơn là đực. Có thể chúng có
mối liên quan với hoocmon sinh dục đực.
Tuy nhiên, ở các con cái bị cắt buồng trứng và con đực bị thiến không quan sát thấy
sự khác nhau này.
* Sự khác nhau về hormon.
Hàm lượng testosteron cao và không thay đổi ở con đực giúp quá trình chuyển hóa
chất độc mạnh hơn so với con cái.Các độc tố có tác dụng giống hormon(ví
dụ,mycotoxin zearalenone)có ảnh hưởng lớn đến tính biệt của súc vật.
Thời kỳ con vật có chửa và cho con bú tạo ra sự thay đổi rõ rệt về hormon
và chuyển hóa: kích thước các cơ quan như gan, tuyến thượng thận, buồng trứng,
tử cung và hàm lượng protein tăng rõ rệt. Một số trong lượng protein tăng
cường (protein microsomal)thúc đẩy quá trình chuyển hóa của chất độc. Sự phát
triển của nhau thai làm tăng chuyển hóa một số xenobiotics.
Bò đang cho sữa nếu nhiễm độc một số độc tố thân mỡ (DDT, polychlorirelted
biphenyls (PCBs)thường bị nhẹ hơn súc vật khác vì một phần chất độc được thải
qua sữa. Quá trình tiết sữa còn làm tăng kích thước và trọng lượng của ruột non,
cho phéppha loãng các độc tố được hấp phụ qua đường miệng.
4. Tuổi
Cường độ tác động của chất độc phụ thuộc nhiều vào lứa tuổi. Súc vật non, súc vật
già đều mẫn cảm với chất độc hơn là súc vật trưởng thành do cơ thể súc vật non
chưa hoàn thiện, chức năng giải độc kém, còn súc vật già thì các cơ quan giải độc
lại bị suy yếu, sức đề kháng giảm.
Chó còn bú mẹ mẫn cảm với santonin gấp 100 lần so với chó trưởng thành. Tuy
Bệnh gan có thể là nguyên nhân làm giảm các quá trình tổng hợp các cao phân tử
liên kết có chức năng bảo vệ, dẫn đến tăng tác dụng của chất độc.
Glutathione, ligandin và metallothionein là những ví dụ về cao phân tử liên kết do
gan tổng hợp.Khả năng bị ngộ độc cao khi có bệnh gan,thận… nơi mà chất độc bị
tiêu độc và đào thải.
Bệnh thận làm thay đổi quá trình tái hấp thu của thận, ảnh hưởng đến đào thải
chất độc.
Kích thích nhu động ruột non sẽ làm giảm thời gian vận chuyển và hấp thu chất độc
theo đường uống. Trong trường hợp viêm hoặc loét dạ dày làm tăng hấp thu chất
độc.
- Súc vật sau khi làm việc nặng nhọc, mệt mỏi dễ bị ngộ độc hơn
8. . Hiện tượng cơ thể nhờn với chất độc
Là hiện tượng một số cá thể dần dần tự thích nghi và có sức chống chịu với liều
lượng có thể gây độc hoặc gây chết các cá thể khác. Súc vật hay nhờn với các chất
độc như: asen, atropin, morphin, ricin. Ví dụ: Chó bị quen với morphin chỉ sau 3 lần
sử dụng. Hiện tượng quen, nhờn có thể gặp ở hầu hết các chất độc. Sức đề kháng
của cơ thể với một chất độc bị suy giảm khi mắc bệnh truyền nhiễm, kí sinh trùng,
ngộ độc các chất khác Trong cùng một cơ thể đã quen với chất độc như morphin
hoặc cocain nhiều trường hợp hệ thần kinh có thể chịu được với liều gây độc cao
hơn nhưng các cơ quan khác như ruột, gan, thận lại mẫn cảm hơn với những chất
này.
Câu 6. Các yếu tố môi trường
a. Đường xâm nhiễm chất độc
Chất độc có thể xâm nhiễm vào cơ thể qua miệng, da và đường hô hấp. Trong điều
trị có thể qua đường tiêm (bắp, dưới da, tĩnh mạch). Đường xâm nhiễm ảnh hưởng
đến quá trình chuyển hóa chất độc. Chất độc qua miệng và xoang bụng trước tiên
là đến gan, trong khi đó chất độcxâm nhập qua đường hô hấp lại tiếp cận trước
tiên với phổi.
11
Nguyễn Văn Tuyên - Lớp K43B -Thú Y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
c. Nhiệt độ môi trường
- Nhiệt độ môi trường thấp sẽ đẩy nhanh quá trình chuyển hóa chất độc trong cơ
thể. Trong trường hợp này có thể do hoạt động chuyển hóa của cơ thể tăng để giữ
ấm cho cơ thể động vật.
- Nhiệt độ có thể ảnh hưởng đến lượng và kiểu tiêu thụ thức ăn của súc vật, do đó
sự
phơi nhiễm với độc tố trong thức ăn cũng thay đổi.
- Nhiệt độ môi trường cao làm tăng lượng nước tiêu thụ, tăng phơi nhiễm chất độc
qua
nước. Súc vật khát nước có thể uống nhanh và hấp thu một lượng chất độc qua
nước.
- Nhiệt độ môi trường cao làm tăng sự mẫn cảm của cơ thể đối với chất độc, thay
đổi
quá trình chuyển hóa hoặc điều tiết nhiệt. Các chất oxy hóa làm tăng nhiệt độ cơ
thể và tác dụng gây độc của chúng tăng khi trời nóng. Nhiễm độc thuốc trừ sâu qua
12
Nguyễn Văn Tuyên - Lớp K43B -Thú Y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
SĐT : 0915905154 [email protected]
da có thể nặng hơn khithời tiết nóng. Lúc này, máu chuyển nhiều đến da để làm
mát da, nhưng máu tập trung nhiều lại tạo điều kiện hấp thu nhanh thuốc trừ sâu.
d. áp suất không khí
Những thay đổi đáp ứng của cơ thể với các chất độc thường liên quan đến những
thay
đổi về áp suất oxy trong môi trường. Khí oxy cao áp được sử dụng để xử lý nhiễm
độc carbon monoxide, barbiturat, cyanide.
e. Chế độ ăn uống và dinh dưỡng
- Các chất độc có thể bị khử độc tính bởi thành phần thức ăn tự nhiên hoặc các tác
nhân trị liệu được đưa vào cơ thể. Ví dụ: Acid phytic (inositol hexaphosphate) ở
thực vật có thể tạo chelat với các kim loại và khoáng chất, từ đó làm giảm sự hấp
thu của chúng.
+ Thức ăn và nước uống: Cỏ đá (cỏ 3 lá) có chứa dicumarol, solanin ở mầm khoai
tây,
13
Nguyễn Văn Tuyên - Lớp K43B -Thú Y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
SĐT : 0915905154 [email protected]
sản phẩm lên men từ thức ăn thiu, ôi, các loại củ, hạt, nấm độc, v.v nitrat, petrol,
ether, kim loại nặng trong nước là nguyên nhân gây ngộ độc cho gia súc, gia cầm.
Chương II
Chẩn đoán và điều trị ngộ độc
1. Chẩn đoán ngộ độc
1.1. Khái niệm
Chẩn đoán ngộ độc là việc đánh giá, phát hiện các dấu hiệu, triệu chứng của
sự rối loạn chức năng của các cơ quan, tổ chức của cơ thể để tìm ra nguyên nhân
gây ngộ độc, nhằm điều chỉnh nhữngtác dụng của chất độc, xử lý và điều trị ngộ
độc, nhiễm độc.
Chẩn đoán ngộ độc bao gồm các loại sau:
a. Chẩn đoán lâm sàng: được thực hiện trước tiên để xác định các hệ cơ quan nào
bị ảnh hưởng bởi chất độc (ví dụ: sốc, động kinh nghiêm trọng, ngừng hô hấp…),
theo dõi và khống chế các triệu chứng để cứu sống bệnh súc.
b. Chẩn đoán tổn thương bệnh lý (lesion diagnosis) được thực hiện để mô tả những
biến đổi bệnh lý ở mô, tổ chức
c. Chẩn đoán bệnh căn: Đây là chẩn đoán quan trọng nhất, nhằm xác định nguyên
nhân gây độc hoặc nguồn gây độc, là cơ sở để tiến hành các biện pháp trị liệu và
phòng chống cụ thể.
Trong quá trình chẩn đoán nguyên nhân gây ngộ độc cho súc vật cần lưuý:
-Khi chưa chẩn đoán được nguyên nhân gây độc không nên sử dụng các loại thuốc
đối kháng để giải độc.
- Bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, tránh những chất độc tồn đọng trong chuỗi
thức ăn thông qua việc khẳng định được chất cụ thể gây độc.
-Xác định trách nhiệm và tránh được thiệt hại do ngộ độc, nhiễm độc gây ra.
chất
độc đó chưa đủ để khẳng định được nguyên nhân gây ngộ độc. Đây mới chỉ là
những gợi ý cho phương hướng điều tra tiếp theo, đó là:
-Khẳng định được sự phơi nhiễm với chất độc là đủ để gây ngộ độc.
-Ghi lại các triệu chứng lâm sàng, những biến đổi về trao đổi chất, biến đổi ở các
mô
điển hình trong quá trình súc vật phơi nhiễm với với chất độc bị nghi ngờ.
-Xác định mức độ gây độc của chất độc đối với cơ quan hay mô đích.
* Tiểu sử tình trạng sức khoẻ của bệnh súc
• Tình hình bệnh tật trong 6 tháng trước khi súc vật bị ngộ độc.
• Tình hình phơi nhiễm với chất độccủa các súc vật khác trong vòng 30 ngày trước
khi xảy ra ngộ độc.
• Lịch tiêm phòng
• Các biện pháp trị liệu, phun, tẩy thuốc trong 6 tháng về trước
• Lần khám bệnh cuối cùng của bác sỹ thú y.
• Quy mô đàn (đối với súc vật nuôi theo đàn).
• Súc vật mua về hay được nuôi tại gia đình.
• Tình trạng ốm, chết của đàn (đối với súc vật nuôi theo đàn).
• Cá thể đầu tiên bị ngộ độc (bị ốm)được phát hiện: cần tìm hiểu con vật này đã sống
khoẻ mạnh trong thời gian bao lâu? Hiện tượng ngộ độc đã xuất hiện trong đàn
khi nào?
* Dữ liệu về môi trường
Thu thập các dữ liệu về:
-Nơi ở của súc vật (ví dụ: đồng cỏ, rừng, lô đất, feedlot, gần sông hoặc ao; Chuồng
nuôi, Khu nhà kín có hệ thống thông gió; ở trên sàn gỗ giát trên hố phân, gần
đường tàu hoả, gần khu công nghiệp, gần bãi rác).
-Những thay đổi gần nhất về sự phơi nhiễm với môi trường (ví dụ: sự di chuyển,
phun chất diệt côn trùng, chất diệt loài gặm nhấm, xây dựng mới, cải tạo các khu
nhà cũ, di chuyển phân…).
* Dữ liệu về khẩu phần ăn, nước uống của súc vật
Chảy máu
Hemoglobin-niệu
Huyết niệu
Kiệt sức
Sốt
Yếu
16
Ngộ độc cấp thường xảy ra với các triệu chứng liên quan đến các hệ cơ quan: tiêu
hóa,
thần kinh, hô hấp, tuần hoàn, tiết niệu
Những dấu hiệu thường xuyên nhất của ngộ độc đường tiêu hóa là: Tiết nước bọt,
nôn,
chướng hơi, ỉa chảy, có thể táo bón với sự biến đổi của phân (chứa chất nhầy,
máu ),đau bụng và đôi khi nổi mề đay.
Các dấu hiệu của ngộ độc thần kinhthường là: tăng quá trình hưng phấn thần kinh
biểu hiện: bồn chồn không yên, trạng thái thao cuồng (có xu hướng di chuyển về
phía trước, chân trước co và đạp mạnh), co giật, thở mạnh, co giật kiểu động
kinh và kiểu giật rung thường quan sát thấy ở ngộ độc chì, atropin, veratrin,
anconitin và picrotoxin.
Sau trạng thái co giật (hoặc ngay lập tức)có biểu hiện ức chế, thể hiện tê liệt và liệt.
Các dấu hiệu về hô hấp thường là thở gấp, thở khó, ngạt thở, ho, chảy nước mũi,
tím
tái, bồn chồn
Các triệu chứng về tim mạch: mạch nhanh, yếu.
Các triệu chứng về tiết niệu: có hiện tượng đái nhiều, đái dắt, xuất hiện albumin
niệu,
huyết niệu, tế bào biểu mô thận trong nước tiểu hoặc bí đái trong một số trường
hợp.
Khi bị rối loạn trao đổi khí, súc vật rất khó thở, mạch nhanh, kết mạc mắt đỏ, co
giật, thân nnhiệt hạ, hôn mê, chết (ngộ độc các sản phẩm thực vật chứa cyano, ngộ
(acid
silinic, kali cyanit, nitrit)
-Ngộ độc cấp: xảy ra đột ngột, tiến triển nhanh sau khi ăn thức ăn có độc hoặc
nhiễm
độc. Gia súc thường bị chết.
-Ngộ độc bán cấp: tiếntriển trong vài ngày, sau khi điều trị có thể khỏi, có trường
hợp chết.
-Ngộ độc mãn: tiến triển chậm, triệu chứng lâm sàng không rõ, thường xảy ra khi
súc vật bị nhiễm chất độc thường xuyên, kéo dài. Triệu chứng thường là ở đường
tiêu hóa hơn là thần kinh.
* Tiên lượng (prognose)
Tiên lượng của bệnh do ngộ độc được xác định dựa trên mức độ nặng nhẹ của
bệnh,
bản chất và liều lượng chất độc cũng như khả năng trung hòa, đào thải chất độc
khỏi cơ thể.
-Trong các triệu chứng về thần kinh, triệu chứng kích thích thầnkinh được coi là có
tiên lượng tốt hơn là trạng thái trầm uất. Xấu nhất là triệu chứng bại liệt, thường
dẫn đến chết.
Co giật không phải lúc nào cũng có tiên lượng xấu.
-Bản chất của chất độc có ý nghĩa trong việc đánh giá tiên lượng. Loài vật ăn cỏ khi
bị ngộ độc độc tố thực vật thường có tiên lượng tốt hơn ngộ độc các chất độc có
nguồn gốc khoáng hoặc tổng hợp, do khó xác định được lượng các chất này
đã hấp thu vào máu và chúng thường được chậm thải trừ ra khỏi cơ thể (ví dụ,
asen, chì, thủy ngân )
-Các triệu chứng niêm mạc dạ dày, ruột xuất huyết nhất là ở súc vật non, suy giảm
hoạt động tim mạch, trụy tim mạch.
-Súc vật bị ngộ độc nhưng nôn được có tiên lượng tốt hơn là không nôn.
c. Kiểm tra các tổn thương bệnh lý
Việc xác định chính xáccác cơ quan, mô và các qúa trình trao đổi chất chịu ảnh
hưởng nhiều nhất bởi chất độc là một yếu tố quan trọng trong chẩn đoán ngộ độc.
-Chất độc da: gây tổn thương da như phosphor, clor, iod, các chất photosensibiliti.
Cần lưu ý là sự phân chia trên đây chỉ mang tính chất tương đối. Chất độc trong các
nhóm trên không phải lúc nào cũng gây ra những biến đổi như đã miêu tả. Đôi khi
các chất độc gây ra những biến đổi bệnh lý rất đa dạng và với mức độ khác nhau ở
các súc vật bị ngộ độc.
Biến đổi bệnh lý thường rõ nét trong các trường hợp ngộ độc mạn tính.
-Ngộ độc alcaloid thường đi liền với các biến đổi bệnh lý như: khó thở, các cơ quan
ứ
máu, xuất huyết. Khi mổ khám xác định động vật bị ngộ độc, có thể thấy mùi đặc
trưng.
Câu 8. Nguyên nhân gây ngộ độc
• Thức ăn có những độc chất, những loại nấm mốc, hay những cây cỏ độc.
• Hóa chất lẫn trong thức ăn
• Hơi độc nhiễm qua đường hô hấp
• Ăn lâu ngày thức ăn kích thích như men rượu, bã bia.
• Gia súc không phân biệt được thức ăn độc do nhịn đói lâu ngày
• Dùng nhầm thuốc hay quá liều quy định
• Hậu quả xấu của quá trình trao đổi chất
• Bị rắn cắn, hoặc côn trùng đốt
• Nhiễm độc tố vi trùng
• Do sự phá hoại của kẻ xấu
Câu 9. Điều trị ngộ độc
Điều trị ngộ độc ở vật nuôi có thể thực hiện theo 3 nguyên tắc: (1) Điều trị nguyên
nhân (2) Điều trị theo cơ chế sinh bệnh học. (3) Điều trị triệu chứng
Khi súc vật bị ngộ độc cấp phải xử trí và triển khai cấp cứu chống độc càng sớm
càng
tốt. Tránh cho súc vật tiếp tục tiếp xúc với nguồn gây độc băngcách di chuyển
súcvật khỏi nơi ô nhiễm. Ngừng ngay cho thức ăn hoặc nước uống nghi có độc. Chủ
gia súc và những người có thể bị ngộ độc khi chăm sóc bệnh súc (ví dụ khi súc vật bị
ngộ độc do khí độc trong chuồng nuôi hoặc da, lông súc vật bám các thuốc trừ sâu,
nôn sau:
-Siro ipeca: 1 -2 ml/kg cho chó, mèo -3 ml/kg. Nếu sau 15 -20 phút thuốc không có
tác dụng thì dùng liều lặp lại. Nếu sử dụng cùng với than hoạt tính sẽ bị vô hoạt.
-Apomorphin: Tiêm cho chó liều 0,04 mg/kg i.v, i.m; 0,08 mg/kg s.c. Có thể bị nôn
quá mức hoặc triệu chứng ức chế thần kinh. Không dùng cho mèo.
-Nước oxy già 3% chouống liều 2 -5 ml/kg thể trọng. Dùng không quá 40
-50ml/con.
-Xylazin: 1,1 mg/kg i.m có hiệu quả với mèo. Bệnh súc có thể bị ức chế hô hấp.
-Đối với lợn tiêm veratrin (hormotonon, lentin)0,02 -0,03 g/kg thể trọng.
-Lấy lòng trắng trứng hoà trong nước lạnh 2-3 quả/1lit, cho vật uống.
* Rửa dạ dày
Nếu không gây nôn được thì phải rửa dạ dày. Đây là biện háp hiệu quả nhất đối với
chất độc dạng lỏng và dạng bột dễ tan. Rửa dạ dày hiệu quả nhất trong 60 phút
đầu, nếu chất độc nhiều và là miéng to có thể trong 2 -3 giờ đầu sau khi bị ngộ độc
vẫ tốt. Khi rửa lấy 250 -300 ml dịch rửa đầu tiên để phân tích xác định chất độc.
Dung dịch để rửa dạ dày có thể là:
-Dung dịch Kali permanganat 1 -2 %; là chất oxy hóa phản ứng dễ với các chất hữu
cơ.
-Dung dịch Natri hydrocarbonat 5 ‰ (nếu ngộ độc bằng acid thì không dùng vì
giải
phóng khí CO2gây chướng bụng, thủng dạ dày).
- Dung dịch Magnesium oxyd hoặc Magnesium hydroxyd để trung hòa acid
dùng nồng độ 2,5 % (tính cho MgO).
-Huyết thanh mặn đẳng trương: dùng cho mọi trường hợp,
-Rửa dạ dày (ngựa)bằng nước có than hoạt tính 3%, tanin 1% (trong trường hợp
ngộ độc alcaloid).
Những bệnh súc bị ngộ độc acid hoặc base mạnh, strychnin, uống phải chất dầu
hoặc hôn mê sâu thì khôngrửa dạ dày.
* Hấp phụ chất độc trong dạ dày, ruột
Than hoạthấp phụ các chất độc, giảm thiểu tác dụng độc hại. Hấp thụ hầu hết các
bằng
đường hô hấp. Để con bệnh nằm ở nơi thoáng, mát (trừ trường hợp ngộ độc những
chất gây phù phổi: phosgen, clo, SO2 ). Có điều kiện dùng máy trợ hô hấp nồng độ
oxy 50%.
* Qua đường thận
+ Để thải nhanh chất độc ra khỏi cơ thể dùng các chất lợi tiểu,chất gây toát mồ hôi
như liqmor kali acetic, diuretin , dùng pilocarpin ở trạng thái tim phổi bình
thường.
-Truyền nhiều dịch, có thể cho dung dịch đường ưu trương, thuốc lợi niệu (nếu
không
bị bệnh thận). Chú ý là khi đái nhiều có thể mất chất điệngiải Na+, K+, Cl
- Một số chất độc có tính acid yếu thường đào thải nhanh trong môi trường
kiềm (barbiturat)hoặc giảm tác dụng ở môi trường kiềm (phosphor hữu cơ);
thường đưa dung dịch kiềm vào cơ thể bệnh súc nhưng cần theo dõi pH của máu
không để vượt quá 7,6 vì nếu kiềm quá sẽ ức chế hô hấp. Một số chất độc giảm tác
dụng trong môi trường acid nhưng trong lâm sàng giảm pH của máu dễ gây biến
chứng nên ít áp dụng để điều trị.
- Trong nhân y dùng phương pháp lọc máu bằng thận nhân tạo. Phương
pháp này nhanh hơn nhưng rất tốn kém.
* Pha loãng máu
Nếu chất độc đã hấp thu vào trong máu, cần tiến hành các biện pháp làm loãng,
trung
hòa và đào thải nhanh chất độc.Chất độc có thể được pha loãng bằng cách:
thải bớt máu (chích máu) ĐGS: 1l máu/100kg thể trọng. Sau đó truyền dung
dịch nước muối sinh lý hoặc glucose hoặc cho súc vật uống một lượng nước lớn qua
ống thông thực quản. Thải bớt máu có chất độc là biện pháp hiệu quả nhất ở giai
đoạn sớm của ngộ độc đặc biệt khi có các triệu chứng thần kinh, tim mạch và tích
nước phổi. Chống chỉ định khi trụy tim mạch (niêm mạc nhợt nhạt, mạch nhỏ,
nhanh, huyết áp thấp). Ví dụ nhiễm độc barbiturat, các chất phá vỡ hồng
cầu, như hydro arsenid hoặc chất độc làm biến đổi hemoglobin (tạo hemoglobin).
b. Các chất kháng độc (chất đối kháng-antidot) -Cơ chế giải độc
* Các chất đối kháng hóa học
Các chất đối kháng hóa học thường tương tác với chất độc hoặc trung hòa chất
độc.
+ Chất đối kháng liên kết với chất độctạo thành phức hợp không qua được màng tế
bào hoặc làm cho chất độc không gắn được với thụ thể đặc hiệu nữa. Ví dụ:
-Acid dimercaprol và acid dimercaptosuccinic là các hợp chất sulfhydryl liên kết với
kim loại nặng như asen, chì làm chúng không được gắn với thụ thể của chúng.
-Chất càng cua EDTA, deferoxamin, D -penicillamin tạo chelat với kim loại nặng,
tạo thành phức hợp dễ tan trong nước, dễ thải trừ qua nước tiểu.
-Antivenin chống nọc rắn và kháng thể chống digitoxin là các tác nhân miễn dịch
gắn đặc hiệu với nọc độc hoặc độc tố.
+ Chất đối kháng thông qua chuyển hóa:
Một số chất đối kháng tham gia chuyển hóa chất độc thành các sản phẩm ít độc
hơn.
Ví dụ:
-Nitrit kết hợp với hemoglobin và cyanid tạo thành cyanmethemoglobin ít độc hơn
cyanid, giải phóng cytocrom oxydase trở lại hoạt động cứu con vật khỏi bị ngạt nội
hô hấp.
Dùng khi giải độc các glucozid chứa xit cyanhydric.
-Thiosulfate có nhóm sulfate liên kết với cyanid tạo thành thiocyanate để dễ thải
qua nước tiểu.
* Các chất đối kháng dược lý
Các chất đối kháng này có tác dụng trung hòa hoặc đối lập với tác dụng của chất
độc thông qua các cơ chế:
+ Ngăn chặn quá trình chuyển hóa chất độc thành các sản phẩm độc hơn
Ví dụ: Ethanol và 4 -methylpyrazole (4 -MP) cạnh tranh với alcohol dehydrogenase
ngăn cản sự tạo thành chất trung gian độc hại từ ethylen glycol.
+Làm tăng đào thải chất độc.
Các chất đối kháng trong nhóm này làm thay đổi bản chất lý hóa của chất độc, dẫn
ống trongdung dịch glucose 30 -50%, tiêm tĩnh mạch nhiều lần.
Nước lòng trắng trứng: (hòa tan 6 lòng trắng trứng vào thành 1 lít, có thể thêm
chất thơm cho dễ uống)tạo với kim loại nặng albuminat không tan.Pralidoxim
chlorid(2 -PAM):điều trị ngộ độc thuốc trừ sâu phospho hữu cơ, tiêm tĩnh mạch
hoặc dưới da liều 10 -15 mg/kg 2 -3 lần/ngày đến khi khỏi.
Tanin:làm kết tủa alcaloid, glycosid trong các cây độc thành những chất khó tan,
khó hấp thu, dễ đào thải theo phân. Liều cho uống: 5 -15 g (ngựa), 10 -25 g (trâu
bò), 2 -5g (bê, nghé, ngựa non, dê, cừu), 1 -2 g với lợn, chó 0,1 -0,5 g.
Vitamin C (acid ascorbic): điều trịngộ độc đồng ở chó. Liều cho uống hàng ngày
500 -1000 mg/con. Chống methemoglobinemia ở mèo, liều cho uống 30 mg/kg, 4
lần/ngày.
Vitamin K: điều trị ngộ độc các chất chống đông máu coumarin và indanedion. Liều
cho uống hoặc tiêm dưới da 2 -5 mg/ngày chia 2 lần, sau đó cho uống 2 -3
mg/kg/ngày chia 3 lần tiêm 1 tuần.
Xanh methylen 1 %: Điều trị ngộ độc nitrat, nitrit hoặc chlorat cho nhiều loài gia
súc, gia cầm. Liều tiêm tĩnh mạch 4 -15 mg/kg; có thể tiêm nhắc lại sau 6 -8 giờ.Gây
methemoglobinemia hoặc thể Heinz ở mèo. Tương kỵ với chất kiềm, các chất oxy
hóa khử.
2.3. Hối sức cấp cứu và điều trị triệu chứng
Trong điều trị ngộ độc cấp, một mặt vì chưa biết ngay chất độc nào (đang chờ kết
quả phân tích), mặt khác chất chống độc không nhiều, con bệnh có thể bị chết vì rối
loạn các chức phận. Vì vậy hồi sức cấp cứu và điều trị triệu chứng có vai trò rất
quan trọng. Sau đây là những hội chứng chính do ngộ độc cần được can thiệp cấp
cứu và điều trị kịp thời:
a. Điều trị suy hô hấp
Đặt ống nội khí quản, hỗ trợ hô hấp, cho thở oxy hoặc carbogen khi bệnh súc bị khó
thở, ngạt thở. Trường hợp ngộ độc Clo, Brom, phosgen, SO2 không làm hô hấp
nhân tạo. Nếu bị ngạt do tê liệt men phải dùng xanhmethylen hoặc glutation, chúng
sẽ phản ứng với nước và cung cấp oxy cho cơ thể:
Sau khi làm hô hấp nhân tạo có thể dùng thuốc kích thích hô hấp: