Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Chưa bao giờ lại trở thành một vấn đề thời sự được các doanh nghiệp, các cơ
quan nhà nước, các hiệp hội quan tâm như hiện nay. Nhiều hội thảo, hội nghị về
thương hiệu được tổ chức, nhiều website nói về thương hiệu, và có nhiều website
chuyên về lĩnh vực thương hiệu như: www.thuonghieunongsan.org.vn,
www.thuonghieuviet.com, …
Thương hiệu trên thế giới đã được nhận thức từ lâu. Nó được coi như là một tài
sản hết sức to lớn của các doanh nghiệp. Thương hiệu là phương tiện ghi nhận, bảo
về và thể hiện thành quả của doanh nghiệp. Nó đem lại sự ổn định và phát triển của
thì phần, nâng cao lợi thế cạnh tranh, tạo ra danh tiếng và lợi nhuận.
Còn đối với Việt Nam thì thương hiệu là vấn đề khá mới mẻ đối với các doanh
nghiệp. Một số doanh nghiệp cũng đã ý thức được tầm quan trọng của lĩnh vực này,
nhưng đại đa số các doanh nghiệp vẫn chưa có một cái nhìn đúng về lĩnh vực này.
Có được ý thức về xây dựng thương hiệu là một điều quan trọng đối với công việc
này.
Nhiều doanh nghiệp đã có ý thức xây dựng thương hiệu nhưng chưa có những
kiến thức đầy đủ để xây dựng và phát triển thương hiệu của mình. Vì vậy phân tích
những tồn tại, và có những giải pháp cho phát triển thương hiệu của từng doanh
nghiệp là vấn đề quan trọng cho phát triển thương hiệu của các doanh nghiệp Việt
Nam hiện nay.
Nhận thức được mức độ cấp bách của vấn đề, cũng là sự đam mê của cá nhân,
nên sau thời gian thực tập tại công ty Quảng cáo và truyền thông ADCOM, tôi đã có
được những cơ hội quý báu khi được tiếp cận, tham gia và cũng đã hiểu biết được ít
nhiều về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và thực trạng hoạt
động phát triển thương hiêu của doanh nghiệp. Đề tài mà tôi lựa chọn cho chuyên đề
tốt nghiệp của mình, đó là "Thực trạng và giải pháp phát triển thương hiệu công
ty quảng cáo và truyền thông ADCOM".
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Qua một quá trình thực tập tốt nghiệp, thời gian không đủ dài để có thể nhìn
nhận, nghiên cứu, đưa ra những giải pháp cho một vấn đề một cách tổng quan nhất
như là một tài sản cho cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng. Thứ hai, khái niệm nhãn
hiệu hàng hóa đã được phát triển thành công ở các loại dịch vụ - điều này có nghĩa là
các công ty tài chính, các nhà bán lẻ hay đơn vị cung cấp dịch vụ du lịch có thể xem
họ như là những nhà cung cấp sản phẩm có thương hiệu và điều này giúp tạo sự khác
biệt hóa so với các đối thủ cạnh tranh. Thứ ba, đây chính là sự thay đổi quan trọng
nhất, về phương diện phân biệt các sản phẩm thì càng ngày càng lệ thuộc vào các yếu
tố vô hình và điều này đã tạo ra cho nhãn hiệu có một giá trị rất lớn đối với các doanh
nghiệp. Hãy tưởng tượng, nếu một lọ nước hoa không có nhãn hiệu thì sẽ được bán
với giá 5$, trong khi đó nếu được dán vào một nhãn hiệu nổi tiếng thì có thể bán với
giá 30$.
Hiện nay, nhãn hiệu chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong thương mại. Nhãn hiệu
có thể được mua bán hoặc có thể cho thuê quyền sử dụng. Nhãn hiệu có thể được bảo
hộ trong nước hoặc trên quốc tế.
Ở Việt Nam hiện nay khái niệm nhãn hiệu và thương hiệu chưa được tách biệt để
hiểu một cách rõ ràng, thường được hiểu đồng nghĩa với nhau.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nhãn hiệu được hiểu một cách cơ bản là: tên gọi, hình vễ mầu sắc, đường nét,
hình ảnh… hoặc là sự phối hợp giữa chúng. Nó để phân biệt giữa sản phẩm này với
sản phẩm khác trong cùng một doanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp với nhau
Theo quan điểm marketing : Nhãn hiệu là tên gọi, hình vẽ, màu sắc … hoặc là sự
phối hợp giữa chúng và phải truyền đạt thông điệp qua kênh thị giác để biểu thị hay
phân biệt giữa sản phẩm này với sản phẩm khác, sản phẩm của doanh nghiệp với sản
phẩm của đối thủ cạnh tranh. Nó khẳng định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
Hai khái niệm trên cơ bản là giống nhau. Việc phân biệt và nhận dạng nhãn hiệu là
việc khá dễ dàng.
Dưới góc độ xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu là thành tố cơ bản vì nó thường là
yếu tố chính hoặc là liên hệ chính của sản phẩm một cách cô đọng và tinh tế. Tên
nhãn hiệu là ấn tượng đầu tiên về một loại sản phẩm/dịch vụ trong nhận thức nhãn
hiệu của người tiêu dùng. Vì thế, nhãn hiệu là một yếu tố quan trọng thể hiện khả
năng phân biệt của người tiêu dùng khi đã nghe hoặc nhìn thấy nhãn hiệu và cũng là
ra các giá trị tinh thần và giúp người tiêu dùng hình thành kiến thức của họ về các sản
phẩm và dịch vụ bằng cách làm sáng tỏ việc ra quyết định của họ, đồng thời mang
lại giá trị cho doanh nghiệp. Điếu cốt lõi của việc đặt thương hiệu là giúp khách hàng
nhận thức được những sự khác biệt giữa những thương hiệu trong một loại sản phẩm.
Những khác biệt về thương hiệu liên quan đến những thuộc tính hoặc các lợi ích
mong đợi khi tiêu dùng chính sản phẩm đó. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp khác
những khác biệt này lại mang tính trừu tượng nhiều hơn.
Thương hiệu được sử dụng nhằm tạo nên sự khác biệt, mối quan tâm và sự chú ý
của khách hàng đối với sản phẩm, từ hàng hoá vật chất, dịch vụ, thậm chí cả con
người, tổ chức địa danh.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong khái niệm thương hiệu còn có khái niệm đó là bản sắc thương hiệu: nó
chính là tổng hợp tất cả các hoạt động marketing, đặc biệt là truyền thông marketing,
thể hiện tính cách Thương hiệu và lợi ích Thương hiệu theo cách nhìn của Công ty.
2. Các yếu tố cơ bản của thương hiệu.
Theo hiệp hội Marketing Mỹ:
Thương hiệu là một cái tên, từ ngữ, biểu tượng hoặc hình vễ thiết kế, hoặc tập
hợp của các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một
người bán hoặc một nhóm người bán hoặc hàng hoá của đối thủ cạnh tranh.
Theo định nghĩa trên thì phần hữu hình của thương hiệu có thể cấu tạo bởi các phần:
Phần phát âm được : là những yếu tố có thể đọc được, tác động vào thính giác
của người nghe như tên công ty ( ví dụ như Honda), tên sản phẩm ( Supper Dream),
các câu khẩu hiệu ( Sfone nghe là thấy), đoạn nhạc hát đặc trưng và các yếu tố phát
âm được khác.
Phần không phát âm được: là những yếu tố không đọc được mà chỉ cảm nhân
được bằng thị giác như hình vẽ, biểu tượng ( ví dụ hình chữ P của petro Việt Nam,
hình cái vô lăng của xe Mescedes .. ), mầu sắc ( mầu đỏ của CoCaCoLa, mầu xanh
của Pessi..,), kiểu dáng thiết kế ( các kiểu dáng khác nhau của điện thoại di động…)
và các yếu tố nhận biết khác.
Khái niệm thương hiệu và nhãn hiệu rất dễ bị hiểu nhầm lẫn nhau. Tuy nhiên trên
với tài sản hữu hình mà nó có.
Có hai cách thức nhận định về việc đầu tư cho phát triển thương hiệu: Cách một
đó là cho các khoản đầu tư cho thương hiệu như là các khoản chi phí, cách hai là xem
các khoản đầu tư cho phát triển thương hiệu như là các khoản đầu tư dài hạn.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nếu xem việc đầu tư cho thương hiệu là một khoản chi phí thì không có gì phải
xem xét nhiều, nhưng xem việc đầu tư cho thương hiệu là khoản đầu tư dài hạn thì
việc xác định tài sản này như thế nào.
Tài sản thương hiệu bao gồm tất cả những giá trị đặc thù mà thương hiệu mang
đến cho những người liên quan (khách hàng, nhân viên, cổ đông, cộng đồng…).
Những giá trị này sẽ được cộng vào sản phẩm hay dịch vụ nhằm để gia tăng giá trị
đối với những người liên quan. Những thành tố cấu thành tài sản thương hiệu này
phải được kết nối với biểu tượng, logo của công ty hoặc sản phẩm. Nếu một công ty
thay đổi tên hay biểu tượng bên ngoài thì những tài sản thương hiệu này thì sẽ bị ảnh
hưởng và trong một số trường hợp có thể bị mất đi. Những thành tố cấu thành nên tài
sản thương hiệu có thể khác nhau tùy theo mỗi trường hợp. Tuy vậy, trên nguyên tắc
thì sẽ có 5 thành tố chính:
1. Sự trung thành của thương hiệu (brand loyalty)
2. Sự nhận biết thương hiệu (brand awareness)
3. Chất lượng cảm nhận (perceived quality)
4. Thuộc tính thương hiệu (brand associations)
5. Các yếu tố sở hữu khác như: bảo hộ thương hiệu, quan hệ với kênh phân
phối…
Mô hình về tài sản thương hiệu được minh họa trên sơ đồ dưới đây.
Mô hình bao gồm 5 thành tố chính để tạo nên tài sản thương hiệu và những giá trị
mà tài sản thương hiệunày tạo ra đối với khách hàng cũng như là công ty.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giá trị mang lại cho khách hàng
Tài sản thương hiểu sẽ cộng thêm hoặc giảm bớt các giá trị mang đến cho khách
hàng.Tất cả các thành tố của tài sản thương hiệu sẽ giúp cho khách hàng có thể hiểu
vượt trội. Sự trung thành thương hiệu là một thành tố trong tài sản thương hiệu nhưng
cũng bị tác động bởi tài sản thương hiệu. Sự trung thành thương hiệu là một trong
những giá trị mà tài sản thương hiệu mang lại cho công ty.
Thứ ba, tài sản thương hiệu sẽ giúp cho công ty thiết lập một chính sách giá cao
và ít lệ thuộc hơn đến các chương trình khuyến mãi. Trong những trường hợp khác
nhau thì các thành tố của tài sản thương hiệu sẽ hỗ trợ công ty trong việc thiết lập
chính sách giá cao. Trong khi với những thương hiệu có vị thế không tốt thì thường
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phải sử dụng chính sách khuyến mãi nhiều để hổ trợ bán hàng. Nhờ chính sách giá
cao mà công ty càng có thêm được lợi nhuận.
Thứ tư, tài sản thương hiệu sẽ tạo một nền tảng cho sự phát triển thông qua việc
mở rộng thương hiệu. Sony là một trường hợp điển hình, công ty đã dựa trên thương
hiệu Sony để mở rộng sang lĩnh vực máy tính xách tay với thương hiêu Sony Vaio,
hay sang lĩnh vực game như Sony Play Station… Một thương hiệu mạnh sẽ làm giảm
chi phí truyền thông rất nhiều khi mở rộng thương hiệu.
Thứ năm, tài sản thương hiệu còn giúp cho việc mở rộng và tận dụng tối đa kênh
phân phối. Cũng tương tự như khách hàng, các điểm bán hàng sẽ e ngại hơn khi phân
phối những sản phẩm không nổi tiếng. Một thương hiệu mạnh sẽ hỗ trợ trong việc có
được một diện tích trưng bày lớn trên kệ. Bên cạnh đó thương hiệu lớn sẽ dễ dàng
nhận được hợp tác của nhà phân phối trong các chương trình tiếp thị. Cuối cùng, tài
sản thương hiệu còn mang lại lợi thế cạnh tranh và cụ thể là sẽ tạo ra rào cản để hạn
chế sự thâm nhập thị trường của các đối thủ cạnh tranh mới. Khi nhìn về khía cạnh
thuộc tính thương hiệu thì Tide là loại bột giặt dành cho các gia đình phải giặt giũ
nhiều và đây chính là một thuộc tính ngầm định rất quan trọng cho phân khúc thị
trường này. Chính vì vậy mà một thương hiệu khác sẽ khó có thể cạnh tranh được với
Tide ở phân khúc “giặt giũ nhiều”. Với vị trí vững chắc về chất lượng cảm nhận thì
thương hiệu Acura đã có được lợi thế cạnh tranh rất lớn mà đối thủ cạnh tranh khó có
thể vượt qua được. Việc thuyết phục khách hàng rằng có một thương hiệu khác có
chất lượng tốt hơn Acura thì rất khó.
Tài sản thương hiệu gồm 5 thành tố chính đó là: sự trung thành thương hiệu, sự
là trong trường hợp người mua không có thời gian hoặc không thể nghiên cứu kỹ
lưỡng các tính năng sản phẩm trước khi mua. Chất lượng cảm nhận còn hỗ trợ cho
việc xác định một chính sách giá cao vì thế sẽ tạo ra lợi nhuận nhiều hơn để tái đầu tư
vào việc xây dựng thương hiệu. Ngoài ra, chất lượng cảm nhận còn đóng vai trò to
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lớn trong việc mở rộng thương hiệu. Nếu một thương hiệu được đánh giá cao ở một
sản phẩm nào đó thì sẽ dễ dàng được người mua đánh giá cao ở sản phẩm mà họ sắp
giới thiệu.
Thuộc tính thương hiệu
Giá trị tiềm ẩn đằng sau cái tên của thương hiệu đó chính là những thuộc tính
riêng biệt được gắn kết với thương hiệu đó. Các thuộc tính rằng sẽ khác nhau ở từng
thương hiệu. Chẳng hạn, khi nhìn hay nghe nhắc tới Toyota, người ta thường liên
tưởng tới chất lượng vượt bậc, đáng tin cậy với độ bền cao, khả năng tiết kiệm nhiên
liệu. Hay thươnghiệu McDonald’s với hình ảnh Ronald McDonald, chiếc bánh
hamburger, khoai tây chiên, phục vụ nhanh, nhóm khách hàng mục tiêu là trẻ em và
biểu tượng là chữ M hình vòng cung màu vàng. Thuộc tính thương hiệu là một nền
tảng cho việc mở rộng thương hiệu như Sony đã dựa trên thương hiệu Sony để mở
rộng sang lĩnh vực máy tính xách tay là Sony Vaio, hay sang lĩnh vực game như Sony
Play Station… Nếu một thương hiệu được định vị trên những thuộc tính quan trọng
đặc thù cho loại sản phẩm đó thì đối thủ cạnh tranh sẽ rất khó khăn trong việc tấn
công hoặc sẽ tạo ra được một rào cản vững chắc cho những đối thủ cạnh tranh mới.
Những tài sản sở hữu thương hiệu khác
Một số tài sản sở hữu thương hiệu khác đó là sự bảo hộ của luật pháp hay là mối
quan hệ với kênh phân phối. Việc bảo hộ của luật pháp để tránh hiện tượng một đối
thủ cạnh tranh sử dụng tên hay kiểu dáng hoàn toàn giống sản phẩm của công ty. Mối
quan hệ của kênh phân phối sẽ giúp cho sản phẩm chiếm được những vị trí tốt trên vị
trí trưng bày.
2.2. Định vị thương hiệu .
Theo quan điểm marketing thì định vị được gọi là “ xác định vị thế trên thị
trường mục tiêu” Marketing luôn coi định vị là chiến lược chung nhất, chi phối mọi
thông tin không cần thiết. Vì vậy phải có những thông điệp rõ ràng, gây ấn tượng
trong quá trình quảng bá thương hiệu có vị thế tốt mới có khả năng thâm nhập vào
nhận thức của khách hàng .
- Thứ hai, do yêu cầu đẻ cạnh tranh. Mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, vừa là
một thực tế vừa là một thách thức đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại
và phát triển. Xác định vị thế là một phương pháp được sử dụng nhằm tạo cho
thương hiệu một hình ảnh độc đáo và khác biệt so với thương hiệu khác. Bài học lớn
rút ra từ thực tiễn của các thương hiệu thành công chính là doanh nghiệp đã tạo ra
được một vị thế có giá trị trên thị trường mục tiêu, vừa có khả năng gia tăng sự ưa
chuộng của khách hàng đối với thương hiệu, vừa có khả năng cạnh tranh.
- Thứ ba, do dung lượng của các thông điệp quảng cáo. Dung lượng quá lớn của
các thông điệp truyền thông làm cho khách hàng khó lòng tiếp nhận được hết nội
dung của các thông điệp mà họ đã nhìn hoặc xem. Để thu hút được sự chú ý của
khách hàng khi họ bị tràn ngập trong rất nhiều nhãn hiệu, cách tốt nhất chỉ có thể là
được có hiệu quả. Khi định vị tốt thương hiệu có thể gây được sự quan tâm chú ý của
khách hàng nhờ truyền tải được những ý tưởng rõ ràng về tính khác biệt, độc đáo của
sản phẩm mà khách hàng mong đợi.
2.3.Các yếu tố định vị
+ Môi trường marketing. Thông qua hàng loạt các yếu tố như công nghệ, văn hoá
xã hội, chính trị luật pháp để hướng co doanh nghiệp định vị như thế nào, định vị
thông qua các yếu tố nào để phù hợp với môi trường.
+ Bản thân doanh nghiệp : doanh nghiệp cần tiến hành phân tích mô hinh SWOT
để đánh giá toàn bộ doanh nghiệp xem mình có những điểm mạnh điểm yếu gì, đồng
thời lựa chọn những điểm mạnh điểm nổi bật để làm nền tảng cho định vị. Đồng thời
kết hợp với phân tích môi trường marketing để xem xét những co hội và rủi ro của
mình trên thị trường trong hiện tại và tương lai.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Sự cạnh tranh trên thị trường, xem xét đối thủ cạnh tranh trên các mặt, và dự
xem đối thủ cạnh tranh có khả năng thực hiện được ngay hay không những gì mà
doanh nghiệp sẽ tiến hành
của sản phẩm , vì hầu hết các công ty với khả năng công nghệ của mình, đều có thể
xây dựng thành công sản phẩm ở cấp độ sản phẩm mong muốn. Cạnh tranh kiểu mới
không phải là sự cạnh tranh giữa cái mà công ty sản xuất tại nhà máy của mình mà
cạnh tranh giữa cái mà họ gia tăng vào sản phẩm đầu ra của nhà máy dưới hình thức
bao bì dịch vụ, quảng cáo thương hiệu, tư vấn khách hàng, tài chính, bố trí giao hàng,
kho chứa hàng và những thứ khác mà khách hàng có thể đánh giá.
Trong thời đại bắt đầu của các cuộc cách mạng công nghiệp, do lượng hàng hoá
sản xuất ra chưa đủ đáp ứng yêu cầu của xã hội nên các công ty có thể không ngừng
mở rộng quy mô sản xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm tăng sản lượng bán ra và dành
lấy ưu thế trong cạnh tranh. Nhưng ngày nay, trong thời đại kinh tế hậu công nghiệp,
thị trường hầu hết các sản phẩm đang trong xu hướng bão hoà nên lợi thế cạnh tranh
không còn chủ yếu dựa vào giá cả mà tập trung vào chất lượng và các đặc tính của
sản phẩm. Điều đó có nghĩa là trước những nhu cầu phong phú và đa dạng khác nhau
của thị trường các công ty cần thiết kế và sản xuất sản phẩm với các thuộc tính và
đặc điểm sao cho phù hợp và đáp ứng được tối đa nhu cầu của một nhóm khách hàng
cụ thể. Do vậy thương hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc làm nổi bật và khác
biệt hoá các đặc tính của sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh.
Thương hiệu là một sản phẩm nhưng là một sản phẩm có bổ xung thêm các yếu
tố để phân biệt nó, theo một cách nào đó, với các sản phẩm khác được thiết kế để
thoả mãn cùng một nhu cầu. Những sự khác biệt này có thể dễ thấy ( hữu hình) nếu
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xét về mặt tình trạng tiêu thu sản phẩm của thương hiệu, hoặc mang tính hình tượng
cảm xúc và vô hình xét về mặt biểu hiện của nhãn hiệu. Cái để mà phân biệt hàng
hoá có thương hiệu với một hàng hoá khác giống hệt mà không có thương hiệu chính
là sự đánh giá và cảm nhận của người tiêu dùng về các thuộc tính của sản phẩm và
biểu hiện của các thuộc tính đó được đại diện bởi một thương hiệu và công ty gắn
với thương hiệu đó.
3. Đặc tính của thương hiệu ( brand Identity )
Đặc tính thương hiệu là tổng hợp tất cả các hoạt động marketing, đặc biệt là
truyền thông marketing, thể hiện tính cách Thương hiệu và lợi ích Thương hiệu theo
bảng biểu trên đường phố… Trong bối cảnh như thế, câu hỏi đặt ra cho người làm
thương hiệu là liệu có cách nào thu hút sự chú ý của người tiêu dùng về phía mình
hay không?
Định vị thương hiệu (Brand Positioning).
được xem là một cách cơ bản và cốt lõi nhất để thu hút sự quan tâm của người
tiêu dùng. Yếu tố cần thiết mà thông điệp định vị muốn truyền tải đến người tiêu
dùng chính là sự khác biệt.
Lấy ví dụ trong ngành sản phẩm dầu gội đầu, giữa "cuộc chiến khốc liệt" đang
diễn ra giữa các "đại gia" nhằm thu hút quý bà, quý cô, bỗng có một thương hiệu dầu
gội được định vị dành riêng cho giới mày râu xuất hiện… và bước đầu được nhận
định là thành công.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Kế đến là việc xây dựng một tính cách riêng cho thương hiệu (Brand
Personality).
Sẽ đến lúc những yếu tố như hàng ngoại, chất lượng hay giá cả không còn là yếu
tố chính tác động đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng nữa mà chính là
những lợi ích cảm tính do một thương hiệu mang lại.
Chẳng hạn, tại sao một người mẹ lại chọn mua sữa bột thương hiệu X mà không
phải là sữa bột Y khi chất lượng và giá cả không có sự chênh lệch đáng kể? Có thể
bởi vì người mẹ thấy thương hiệu X đáng tin cậy hơn, gợi cho chị về một hình ảnh bé
thông minh, khỏe khoắn và vui vẻ. Đây chính là lợi ích cảm tính mà thương hiệu X
có trong khi thương hiệu Y thiếu hoặc không có.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam có tầm cỡ hiện nay cũng đang nỗ lực chứng minh
mình có công nghệ cao, chất lượng ngoại. Đó là điều cần thiết nhưng liệu người tiêu
dùng xem truyền hình có thể "cảm" được những thông điệp "hơi cứng" này hay
không? Có thể nói đích đến sau cùng của việc xây dựng thương hiệu là tạo ra một
hình ảnh độc đáo, khác biệt và có ý nghĩa đối với nhóm khách hàng mục tiêu.
Rõ ràng đây không phải là cuộc chiến trên thương trường mà là cuộc chiến trong
tâm tưởng người tiêu dùng như một chuyên gia trong ngành tiếp thị đã nói. Ví dụ đối
với người tiêu dùng Việt Nam, khi nói đến nước ngọt thì chỉ có Pepsi hoặc Coca-
5. Thực hiện triển khai các công tác marketing cụ thể
6. Đánh giá hiệu quả thực hiện và điều chỉnh
5.1 Phân tích thị trường.
Để có một hiểu biết tổng quát về tình hình trong thị trường đang cạnh tranh,
doanh nghiệp cần phải nghiên cứu về môi trường đang kinh doanh. Ngoài ra công ty
cần phải nghiên cứu những thông tin của thị trường về những diễn biến chung như xu
hướng tiêu dùng và đặc biệt là những hoạt động của đối thủ cạnh tranh. Doanh
nghiệp phải xác định được cho mình những đối thủ cạnh tranh trực tiếp và có một hệ
thống theo dõi thường xuyên những hoạt động này. Những thông tin này thường
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu là từ bộ phận marketing và
bán hàng. Các công ty quảng cáo, các nhà cung cấp, các khách hàng, và cả nhân viên
trong công ty ở mọi lĩnh vực đều có thể là những nguồn thông tin quý giá về đối thủ
cạnh tranh cho doanh nghiệp.
5.1.1. Phân tích thương hiệu của mình
Tóm tắt lịch sử của doanh nghiệp và sự phát triển của sản phẩm để có một cách
nhìn tổng quát về sự phát triển, qua đó có thể sử dụng hệ thống phân tích SWOT để
phân tích các thế mạnh, yếu, cơ hội và rủi ro của tình hình đối thoại với khách hàng
của thương hiệu nhà.
5.1.2. Phân tích sản phẩm của mình
Trong phần này, cần phải mổ xẻ cẩn thận sản phẩm của mình. Cung cấp
những lợi ích mà sản phẩm sẽ đem lại cho khách hàng từ lợi ích lý tính(ví dụ: quạt
máy bảo hành 3 năm, ; quạt có 5 mức điều chỉnh; quạt có thể quay được 360độ).
Cho đến lợi ích cảm tính của sản phẩm (ví dụ : Bia Sài Gòn đem đến cho bạn
niềm tự hào của Bia Việt Nam).
5.1.3. Phân tích người tiêu dùng.
Hình ảnh của người tiêu dùng mục tiêu phải được làm rõ nét trong phần này.
Đây là đối tượng mà quảng cáo của chúng ta sẽ tập trung để đối thoại và thuyết phục.
Do đóyếu tố mấu chốt là phải hiểu được nhóm người này thật sâu sắc từ sự việc họ
bao nhiêu tuổi, giới tính nào, học vấn ra sao, sinh trưởng miền nào, nghề nghiệp gì,
của khách hàng đối với một thông điệp hoặc các chiến dịch quảng bá của đối thủ để
điều chỉnh kịp thời cho chính mình.
5.2 Quảng cáo.
Ngày nay, trong một bối cảnh ngày càng nhiều thông tin và quảng cáo tranh dành
sự chú ý rất hạn chế của mỗi người chúng ta, để xây dựng một chương trình quảng
cáo đối thoại hiệu quả là một công việc không dễ và cần phải được chuẩn bị hết sức
kỹ lưỡng với một sự đầu tư hợp lý về thời gian, con người và tiền bạc. Để xây dựng
một chiến dịch quảng cáo cho một thương hiệu, việc đầu tiên cần phải thực hiện là
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xác định được mục tiêu của quảng cáo này. Một quảng cáo có thể được thực hiện với
những chủ đích khác nhau như để tăng doanh số bán hàng, để tạo uy tín cho thương
hiệu, để tạo chú ý cho thương hiệu luôn ‘có mặt” hoặc để nhắc nhở thươnghiệu trong
lòng người tiêu dùng. Xây dựng một chiến lược đối thoại tổng thể là sử dụng tất cả
mọi công cụ trên nhiều kênh khác nhau để cùng tiếp cận khách hàng để tăng độ nhận
biết và độ thuyết phục của thông điệp. Trong đó phải kể đến các kênh truyền hình,
các loại báo chí, , các loại tờ rơi, áp phich, băng rôn, rồi đến các công cụ đối thoại
mới nhất như email, internet, điện thoại di động. Hệ thống này còn được gọi là IMC
(Intergrated Marketing Communication), có nghĩa là “đối thoại marketing tổng lực”.
Sau khi đả có một định hướng và chiến lược thương hiệu, và xây dựng được một
kế hoạch merketingcũng như chương trình hành động với những thước đo, việc tiếp
theo là thiết kế một kế hoạch đối thoại với khách hàng qua các kênh truyền thông đại
chúng, nói cách khác là xây dựng một kế hoạch quảng cáo qua chiến dịch phát động
các chương trình đối thoại với khách hàng trên các kênh khác nhau. Mục tiêu của một
quảng cáo có thể để thuyết phục một hành động nào đó như khuyến khích mọi người
tiết kiệm điện, bảo vệ thú rừng, hoặc để tạo nhận biết cho một thương hiệu mới ra đời
như quảng cáo giới thiệu Công ty ICC, hoặc để nhắc nhở về thương hiệu trong tâm
thức của người tiêu dùng như quảng cáo tạo lòng tin của Prudential hoặc AIA, và
cũng có thể quảng cáo đó thuần cho việc tăng doanh số bán hàng với hàng loạt
khuyến mãi như các quảng cáo mở nắp chai của các loại bia trên thị trường hiện nay.
Mục têu của một quảng cáo là đối thoại một cách sáng tạo, đầy đủ và hiệu quả để có
dùng, nhà làm quảng cáo cần hiểu rõ thói quen sử dụng các phương tiện truyền thông
trong ngày của khách hàng từ lúc bắt đầu khởi sự của một ngày làm việc cho đến lúc
nghỉ ngơi trong ngày, mỗi lúc họ xem gì, đọc gì và nghe gìđều cho người soạn thảo
kế hoạch truyền thông những chìa khoá về cách tiếp cận đối tượng một cách hiệu
quả nhất. Ngân sách truyền thông:Để tạo hiệu quả tối đa cho ngân sách truyền thông