Bài giảng kỹ thuật đo ghi điện sinh vật ứng dụng trong chuẩn đoán, điều trị - Pdf 14

KỸ THUẬT ĐO GHI ĐIỆN SINH VẬT
ỨNG DỤNG TRONG CHẨN ĐOÁN,
ĐIỀU TRỊ
Những kiến thức bổ trợ:
Kiến thức Vật lí:
- Điện tích, điện trường, điện thế,
hiệu điện thế
- Ion, dòng điên trong chất điện
phân
Hướng dẫn:
- Xem Giáo trình Lí sinh (Phần 1.
Chương 3).
- Bài giảng dạng slide
- Tham khảo: Giáo trình Vật lí
đại cương; SGK lớp 10 và
lớp11 phần điện từ trường
Kiến thức lí sinh y học:
- Điện thế nghỉ, điện thế hoạt
động
- Thuyết ion màng của Bestanh
Hướng dẫn:
-Xem: “ Giáo trình&sách tham
khảo”, chọn “giáo trình vật lí lí
sinh (Chương 1, phần III)
- Bài giảng dạng Slide, phần 2,
“Các loại điện thế sinh vật cơ bản”
-Tham khảo : Giáo trình lí sinh y
học ( Phan sĩ An-NXB Y học), Li
sinh học ( Nguyễn Kim Ngân,
NXB ĐH Tổng hợp).
CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG ĐIỆN CỦA TIM,

ngắn, trục dài nằm ngang, trục dài đứng dọc.
1.2. Chức năng phát sinh và dẫn truyền xung động
.
Người ta đặc biệt chú trọng đến vai trò của một số nút, bao gồm:
+ Nút xoang nhĩ (nút keze và flak):
nằm ở mặt trước nhĩ phải gần gốc TMC,
dài khoảng 15mm, rộng 5mm, là nơi phát
sinh các xung động của tim (nút dẫn nhịp
cho sự co bóp của tim).
+ Nút nhĩ thất (nút Tawara): Hình trái xoan,
nằm giữa lỗ xoang vành và chỗ gắn van 3
lá, dài 6mm, rộng 3mm, dầy 2mm.
+ Bó His: dày 10mm, rộng 2mm, chia 2
nhánh his phải và nhánh his trái
+ Mạng lưới Purkinzer.
1.3. Sự hình thành đồ thị điện tim.
- Tim hoạt động được là nhờ một xung động truyền qua hệ thống thần kinh tự động
của tim.
- Xung động đi từ nút xoang toả ra cơ nhĩ làm cho cơ nhĩ khử cực trước: nhĩ bóp
trước đẩy máu xuống thất. Sau đó nút nhĩ thất (Tawara) tiếp nhận xung động
truyền qua bó His xuống tâm thất làm tâm thất khử cực (lúc này tâm thất đã đầy
máu sẽ bóp mạnh đẩy máu ra ngoại biên).  duy trì quá trình huyết động bình
thường của hệ thống tuần hoàn.
- Điều đó làm cho điện tim đồ gồm 2 phần:
+ Nhĩ đồ: ghi lại dòng điện hoạt động của nhĩ đi trước.
+ Thất đồ: ghi lại dòng điện hoạt động của tâm thất đi sau
.
Chủ đề 2:
2.1. Cơ chế ph¸t sinh vµ dÉn truyÒn điện tim:
.

-Xem: “ Giáo trình”:
Chương … trang … và
Chương … trang … và
Giáo trình vật lí - lí sinh y
học
(hoặc bấm vào đây)
- Tham khảo : Giáo trình
lí sinh y học ( Phan sĩ
An-NXB Y học),
(hoặc
bấm vào đây)
Chủ đề 3: Kĩ thuật đo ghi điện tim
Tam giác
Einthoven
Hướng dẫn:
-Xem: Giáo trình vật lí - lí sinh y học
(hoặc bấm
vào đây)
- Xem: Bài giảng dạng Clip
(hoặc bấm vào đây)
Bài giảng
video clip
Thảo luận - chia sẻ
Kiểm tra - trắc nghiệm
• 3.1. Nguyên tắc ghi điện tim

- Ghi điện tim là ghi lại sự thay đổi điện thế hoạt động
của tim khi nó làm việc, sự thay đổi đó được máy ghi lại
dưới dạng một đồ thị gọi là đồ thị điện tim (điện tim đồ
,

(0-0,3mV).
• Sóng R: là sóng dương lớn nhất, thường cao ở đạo trình trước tim trái.
• Sóng S: là sóng âm ngay tiếp theo sóng R. Sóng S nhỏ,hẹp.
• Khoảng S-T: là đoạn thẳng tính từ điểm cuối sóng S đến khởi điểm sóng T
(đẳng điện ST).
• Sóng T: biểu thị quá trình tái cực thất có biên độ khoảng từ 0,25mV đến
0,5mV và thời gian khoảng 0,25s.
• Khoảng QT: là thời gian tâm thu điện học. Bình thường: 0,36 - 0,4 s.
class="bi x0 y0 w1 h1"
2.4. Các chuyển đạo thông dụng
2.4.1. Chuyển đạo (Đạo trình)
- Khái niệm: Cơ thể con người là một môi trường dẫn
điện dòng điện do tim phát ra được truyền đi khắp cơ
thể, biến cơ thể thành một điện trường của tim. Nếu ta
đặt hai điện cực lên bất cứ hai điểm có điện thế khác
nhau của điện trường đó, ta sẽ có thể thu được một
dòng điện phản ánh điện thế hoạt động của tim. Mỗi
cách đặt cặp điện cực như vậy được gọi là một chuyển
đạo hay đạo trình.
* Theo quy ước quốc tế, các điện cực hoặc dây nối vào
các điện cực đó sẽ dùng:
- Màu đỏ khi đặt ở tay phải
- Màu vàng khi đặt ở tay trái.
- Màu lục (xanh lá cây) khi đặt ở chân trái.
* Ngoài ra người ta còn dùng màu đen cho điện cực
chống điện tạp (dây đất) đặt ở chân phải và các màu
xanh da trời, nâu, tím cho các điện cực lồng ngực.
2.4.2. Cách đặt các
chuyển đạo
- Đặt điện cực theo 12 cách, tức

đó là một chuyển đạo đơn cực (1 cực).
+ Cổ tay phải: ta được chuyển đạo VR (V: Voltage: điện thế,
R: right: (bên phải), nó thu được điện thế ở mé bên phải và đáy
tim (OR).
+ Cổ tay trái: ta được chuyển đao VL (L: Left: bên trái), nó
nghiên cứu điện thế về phía thất trái (OL).
+ Cổ chân trái: ta được chuyển đạo VF (F: Foot: chân), nó là
chuyển đạo độc nhất "nhìn" thấy được thành sau dưới đáy tim
(OF).
Cách đấu cực trung tâm CT và mắc một chuyển đạo đơn cực chi
- Năm 1947, Goldberger đem cải tiến ba chuyển đạo
trên bằng cách cắt bỏ cánh sao nối với chi có đặt điện
cực thăm dò  sóng điện tim của các chuyển đạo đó
tăng biên độ lên gấp rưỡi mà vẫn giữ được hình dạng
như cũ (chuyển đạo đơn cực các chi tăng thêm, ký hiệu
là aVR, aVL, aVF - a = augmented = tăng thêm) ngày
nay được thông dụng hơn các chuyển đạo VR, VL, VF.
=> Tất cả 6 chuyển đạo D1, D2, D3, aVR, aVL, aVF
được gọi chung là các chuyển đạo ngoại biên vì đều có
điện cực thăm dò đặt tại các chi.
S¬ ®å m¾c c¸c chuyÓn ®¹o ®¬n cùc c¸c chi t¨ng thªm
2.4.4. Các chuyển đạo
trước tim
- Thường ghi đồng loạt
cho bệnh nhân 6
chuyển đạo trước tim
thông dụng nhất, ký
hiệu bằng chữ V
(voltage) kèm theo các
chỉ số từ 1 đến 6.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status