Tiểu luận Quan hệ Kinh tế Quốc tế
MỤC LỤC
Lời giới thiệu 3
Nội dung chính 4
I. Khái quát về khu vực châu Á- Thái Bình Dương 4
II. Tình hình tăng trưởng kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình
Dương 6
1. Toàn cảnh thế giới 6
1.1 Cuộc đại khủng hoảng tài chính thế giới 2008 và những
hậu quả nghiêm trọng để lại 6
1.2 Kinh tế toàn cầu đang phục hồi 6
1.3 Thiên tai và hậu quả 7
2. Tình hình tăng trưởng kinh tế khu vực châu Á-Thái
Bình Dương 7
2.1 Tốc độ tăng trưởng cao 7
2.2 Khó khăn và thách thức 14
I. Tác động của sự tăng trưởng kinh tế khu vực châu Á- Thái
Bình Dương với thế giới 15
Kết luận 17
Tài liệu tham khảo 18
2
Tiểu luận Quan hệ Kinh tế Quốc tế
LỜI GIỚI THIỆU
Khái niệm “ khu vực Châu Á-Thái Bình Dương” đã được các học giả và
chính khách đề cập đến từ đầu thế kỷ XX, nhưng phải đến cuối thập niên 1980
với sự hình thành của Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương
(APEC), khái niệm này mới được sử dụng rộng rãi. Cùng thời gian này đã trùng
hợp với sự nổi lên của các nền kinh tế thần kỳ Đông Á mà dẫn đầu là “con rồng”
Nhật Bản, tiếp theo là NIEs ( Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapo) và sự
tăng trưởng nhanh liên tục của nhiều quốc gia ASEAN. Chính vì thế, “ khu vực
Châu Á-Thái Bình Dương” còn được hiểu theo nghĩa hẹp coi đó chính là “khu
Canada, Chile, Nga, Mexico, Peru và Hoa Kỳ.
Châu Á-Thái Bình Dương bao gồm các quốc gia chính:
• Australia
• Brunei
• Campuchia
• Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa
○ Hồng Kông
○ Ma Cao
• Đài Loan
• Đông Timor
• Fiji
• Indonesia
• Kiribati
• Lào
• Nepal
• Nhật Bản
• Malaysia
• Liên bang
Micronesia
• Nauru
• New
Zealand
• Palau
• Papua
New Guinea
• Philippine
s
• Quần đảo
Marshall
-Về điều kện tự nhiên:Khu vực Châu Á Thái Bình Dương có vị diện tích
rộng lớn gồm toàn bộ châu đại dương và phần lớn Châu Á. Đây cũng là vị trí địa
lí chiến lược kinh tế, chính trị, thuận tiện giao lưu với cả Châu Âu và Châu Mĩ .
Ngoài ra, khu vực còn có trữ lượng dầu mỏ, khí đốt lớn.
2
Tiểu luận Quan hệ Kinh tế Quốc tế
-Về xã hội: khu vực Châu Á Thái Bình Dương chiếm khoảng 1/2 dân số
thế giới và cũng có nhiều nền kinh tế đang trỗi dậy mạnh mẽ như Trung Quốc,
Ấn Độ.
Những điều kiện này tạo điều kiện phát triền nền kinh tế khu vực, đồng
thời khẳng định vị thế chính trị lớn trong việc giải quyết các vấn đề cấp thiết của
cộng đồng quốc tế.
II) Tình hình tăng trưởng kinh tế khu vực Châu Á -Thái Bình Dương
1.Toàn cảnh thế giới
Nền kinh tế toàn cầu đang ở trong giai đoạn hậu khủng hoảng. Đang phục
hồi từ từ nhưng gặp nhiều bất lợi từ thiên nhiên.
1.1. Cuộc đại khủng hoảng tài chính thế giới 2008 đã để lại hậu quả
khá nghiêm trọng:
- Đến năm 2009 IMF ước tính tổng thiệt hại lên đên 4 nghìn tỷ USD, gấp
gần 3 lần dự đoán trước đó 1 năm là vào khoảng 1-1,1 nghìn tỷ USD.
- Phá sản hàng loạt tập đoàn lớn cũng như những công ty có quy mô vừa
và nhỏ, nhiều tổ chức tài chính của các nước phát triển, nhất là các nước ở châu
Âu đã tham gia vào thị trường tín dụng nhà ở thứ cấp ở Hoa Kỳ: Năm 2008,
Lehman Bothers tuyên bố phá sản, đây là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử nước
Mĩ. Washington Mutual phá sản,General Motors cũng trong hoàn cảnh tương tự.
Khoảng 300 ngân hàng ở Mỹ phá sản tính trong 2 năm 2009, 2010.
- Kinh tế thế giới đạt tăng trưởng âm 2009: -2,2%. Suy thoái kinh tế ở
nhiều nước, đặc biệt là các nước phát triển như Nhật Bản và các nước châu Âu:
Anh, Hà Lan, Tây Ba Nha, Thổ Nhĩ Kì
1.2. Kinh tế toàn cầu đang phục hồi.
2) Tình hình tăng trưởng kinh tế của khu vực Châu Á Thái Bình
Dương
Nhận định chung: tốc độ phát triển cao so với thế giới nhưng tiềm ẩn
nhiều rủi ro, thách thức
2.1) Tốc độ tăng trưởng cao:
Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực kinh tế năng động của
thế giới, được các nhà kinh tế học nhận xét là điểm sáng nhất trong giai đoạn
khủng hoảng kinh tế.
Bảng: Nền kinh tế thuộc ESCAP (Eonomic and Social Commission of
Asia and the Pacific: Uỷ Ban Kinh tế xã hội khu vực châu Á Thái Bình Dương):
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát, 2007-2011 (%)
4
Tiểu luận Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Tăng trưởng GDP thực tế Lạm phát
a
2007 2008 2009 2010
b
2011
c
2007 2008 2009 2010
b
2011
c
Đông và Đông Bắc Á
d,e
6.7 2.8 -1.0 6.4 4.5 2.2 3.7 -0.2 1.2 2.4
Đông và Đông Bắc Á(cả Nhật Bản)
d,e
11.4 7.1 5.8 9.4 7.9 4.0 5.4 0.0 3.0 4.0
Trung Quốc 14.2 9.6 9.1 10.3 9.5 4.8 5.9 -0.7 3.3 4.5
Uzbekistan 9.5 9.0 8.1 8.5 8.5 12.3 12.7 14.1 9.3 10.0
Thái Bình Dương
d,e
4.5 2.3 1.2 2.6 2.4 2.3 4.4 1.9 2.7 3.4
Các nền kinh tế đang phát triển
d,e
5.0 4.3 2.2 4.3 5.5 2.7 10.3 6.7 4.7 6.1
Cook Islands 9.5 -1.2 -0.1 0.5 2.0 2.5 7.8 6.6 3.5 4.2
Fiji -0.5 -0.1 -3.0 0.1 1.3 4.8 7.7 6.8 4.0 3.0
Kiribati 0.4 -1.1 -0.7 0.5 1.8 4.2 11.0 8.4 0.8 6.7
Marshall Islands 3.3 -2.0 0.0 0.5 1.2 2.6 14.7 0.5 1.0 5.0
Micronesia (Liên bang) -0.1 -2.9 -1.0 0.5 1.0 3.6 6.8 7.4 3.5 4.0
Nauru -27.3 1.0 0.0 0.0 4.0 2.3 4.5 2.2 -0.5 2.4
Palau -0.5 -4.9 -2.1 2.0 2.0 3.2 11.3 5.2 3.8 4.0
Papua New Guinea 7.2 6.6 5.5 7.1 8.0 0.9 10.8 7.0 6.0 8.2
4
Tiểu luận Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Tăng trưởng GDP thực tế Lạm phát
a
2007 2008 2009 2010
b
2011
c
2007 2008 2009 2010
b
2011
c
Samoa 2.3 5.0 -4.9 0.0 2.5 4.5 11.5 6.6 1.0 3.0
Solomon Islands 10.3 7.3 -1.2 4.0 7.0 7.7 17.3 7.1 3.0 4.2
Tonga -1.2 2.0 -0.4 -1.2 0.8 5.1 9.8 5.0 2.0 3.0
Sri Lanka 6.8 6.0 3.5 8.0 8.0 15.8 22.6 3.4 5.9 7.5
Turkey 4.7 0.7 -4.7 8.1 5.0 8.8 10.4 6.3 8.6 6.0
Đông Nam Á
d
6.6 4.2 1.0 8.1 5.5 4.0 8.8 2.3 4.0 4.8
Brunei 0.2 -1.9 -1.8 2.0 1.7 0.3 2.7 1.8 1.8 2.1
Campuchia 10.2 6.7 -2.0 6.0 6.2 7.7 25.0 -0.7 4.1 6.0
Indonexia 6.3 6.0 4.5 6.1 6.5 6.3 10.1 4.8 5.1 6.2
Lào 7.8 7.2 7.6 8.0 8.3 4.5 7.6 0.0 5.4 6.1
Malaysia 6.5 4.7 -1.7 7.2 5.2 2.0 5.4 0.6 1.7 3.0
Miama 11.9 3.6 4.9 5.5 5.8 32.9 22.5 8.0 7.9 9.1
Philippin 7.1 3.7 1.1 7.3 5.2 2.8 9.3 3.2 3.8 4.5
Singapore 7.8 1.8 -0.8 14.5 5.0 2.1 6.6 0.6 2.8 3.3
Thái Lan 4.9 2.5 -2.2 7.8 4.5 2.2 5.5 -0.8 3.3 3.5
Đông Timo 9.1 11.0 11.6 7.9 8.2 10.3 9.1 0.7 6.5 7.5
6
Tiểu luận Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Tăng trưởng GDP thực tế Lạm phát
a
2007 2008 2009 2010
b
2011
c
2007 2008 2009 2010
b
2011
c
Việt Nam 8.5 6.3 5.3 6.8 6.2 8.3 23.1 6.9 9.0 11.0
Tóm lược
Các nền kinh tế ESCAP đang phát triển 9.9 6.1 4.7 8.8 7.3 5.0 7.3 2.9 4.9 5.2
e
: Ước tính cho năm 2010 và dự báo cho năm 2011 có sẵn cho các nền kinh tế
được lựa chọn
f
: Ước lượng và dự báo cho các nước dựa trên năm tài khóa được xác định
như sau: Năm 2009
Từ 01/04/2009 đến 31/03/2010 ở Ấn Độ
Từ 21/03/2009 đến 20/03/2009 ở Cộng hòa hồi giáo Iran
Từ 01/07/2008 đến đến 30/06/2009 ở Bangladesh và Pakistan
Từ 16/07/2008 đến 15/07/2009 ở Nepal
g
: Các nền kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương đang phát phiểu gồm 37 nền
kinh tế không kể Bắc và Trung Á
h
: Các nền kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương phát phiểu gồm Úc, Nhật và
New Zealand
8
Tiểu luận Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Từ bảng số liệu, ta có biểu đồ sau:
Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ trên, ta thấy, các nước khu vực Châu Á -
Thái Bình Dương đang trên đà hồi phục kinh tế từ cuộc Đại suy thoái 2008 - 2009.
Các nước đang phát triển trong khu vực vẫn có tốc độ tăng trưởng GDP khá cao,
và ít bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính này.
Vào năm 2007, các nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế là
9,9%, mà dẫn đầu là khu vực Bắc và Trung Á, với tốc độ tăng trưởng 12,7%. Tới
năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, tốc độ tăng
trưởng này giảm xuống còn 6,1% và còn 4,7% vào năm 2009.
Trong các nước đang phát triển, các nước ở khu vực Bắc và Trung Á có tỷ lệ
tăng trưởng kinh tế cao nhất, 12,7% năm 2007, cao hơn khu vực Đông và Đông
Bắc Á 6,9% và khu vực Nam và Tây Nam Á 7%. Tới năm 2008, do ảnh hưởng của
những rủi ro tiêu cực, đặc biệt là sự trở lại của những cơn bão giá thực phẩm và
nhiên liệu, làm lạm phát của khu vực tăng cao. Ta có thể thấy rõ điều này qua biểu
đồ sau:
Nhìn vào đồ thị ta thấy, các nước đang phát triển tuy có tỷ lệ tăng trưởng
GDP cao nhưng các nước này cũng có tỷ lệ lạm phát khá cao, 5% năm 2007, tăng
lên 7,3% trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Nơi có tỷ lệ lạm phát lớn nhất là
Bắc và Trung Á và khu vực Nam và Tây Nam Á với lạm phát ở mức 2 con số
trong năm 2007 và 2008. Tỷ lệ lạm phát của các nước đang phát triển và phát triểu
ở khu vực châu Á Thái Bình Dương có xu hướng tăng vào năm 2008, giảm mạnh
vào năm 2009 và sau đó lại có xu hướng tăng vào năm 2010. Có 1 điều đáng lưu ý
ở đây là các nước phát triển trong khu vực có tỷ lệ lạm phát rất thấp và vào năm
2009 2010 các nước này có tỷ lệ lạm phát âm, hay giảm phát. Các nhà kinh tế học
đã chỉ ra rằng tuy lạm phát là có hại cho nên kinh tế, nhưng lạm phát ở mức độ vừa
phải lại có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế, đồng thời giảm phát luôn có hại
cho nền kinh tế. Như vậy các nước phát triển cần có chiến lược phù hợp để đưa
nền kinh tế của nước mình ngày càng phát triển.
Theo nhận định của ấn phẩm hàng đầu “Báo cáo Khảo sát tình hình Kinh tế-
Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương năm 2011” của Uỷ Ban Kinh tế xã hội
khu vực châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) của Liên Hiệp Quốc, triển vọng tăng
trưởng của khu vực còn ảnh hưởng bởisự phục hồi chậm chạp ở những nước giàu
có, sự dồn dập chảy vào của các luồng vốn không ổn định và hậu quả của thiên tai,
mặc dù ảnh hưởng của trận động đất và sóng thần gần đây tại Nhật bản lên nền
10
Tiểu luận Quan hệ Kinh tế Quốc tế
kinh tế khu vực sẽ ít nghiêm trọng hơn những gì được dự kiến ban đầu. Do vậy,các
quốc gia cần có những biện pháp hợp lý để đưa nền kinh tế nước mình thoát khỏi
khủng hoảng và ngày càng phát triển, đưa thế kỉ 21 trở thành kỷ nguyên của khu
vực Châu Á – Thái Bình Dương.
III. Tác động của sự tăng trưởng kinh tế khu vực Châu Á Thái Bình
Dương với thế giới.
hiện ở độ tăng trưởng cao GNP mà khối lượng FDI và buôn bán nội bộ cũng ngày
càng tăng. Vì vậy, bất kể về lĩnh vực kinh tế, hay là an ninh, đối với Mỹ khu vực
châu Á - Thái Bình Dương ngày càng trở nên quan trọng.
12
Tiểu luận Quan hệ Kinh tế Quốc tế
KẾT LUẬN
Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, bao gồm phần lớn các quốc gia đang
phát triển, đang có những tăng trưởng dẫn đầu thế giới, có dấu hiệu của sự phát
triển nhanh. Hiện nay, xuất khẩu của khu vực châu Á-Thái Bình Dương chiếm
30% tổng lượng xuất khẩu của thế giới, kim ngạch thương mại mỗi năm giữa khu
vực châu Á-Thái Bình Dương và Mỹ vượt 1000 tỉ USD, dự trữ ngoại hối chiếm 2/3
tổng lượng của thế giới. Sự hồi phục kinh tế nhanh chóng của khu vực đưa châu Á
Thái Bình Dương trở thành khu vực có tốc độ tăng trưởng cao, là người điều khiển
cho quá trình hồi phục kinh tế của toàn thế giới sau đại khủng hoảng. Có thể coi
cuộc khủng hoảng 2008, 2009 là cơ hội để khu vực nâng cao vị thế của mình trên
trường quốc tế. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng đã gây tác động lớn đến kinh tế khu
vực, mặc dù ít hơn châu Mĩ và châu Âu nhưng ta không thế vì thế mà chủ quan bởi
cuộc khủng hoảng có thể quay trở lại và gây hậu quả lớn hơn. Trước mắt, khu vực
cần tập trung giải quyết vấn đề bão giá, lạm phát cao để đảm bảo sự phát triển lâu
dài. Ngoài ra đây cũng là khu vực chịu ảnh hưởng thiên tai: bão, lũ, sóng thần,
động đất lớn nhất thế giới, vì thế chính quyền cần chú ý hơn đến vấn đề dự báo
thảm họa, giảm thiểu tối đa sự tác động đến phát triển chung của khu vực.
13
Tiểu luận Quan hệ Kinh tế Quốc tế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình môn Quan hệ kinh tế quốc tế
2. nghiên cứu thống kê “11-StatisticalAnnex-Survey2011” của EScap
3. "Khủng hoảng toàn cầu: Bối cảnh Châu Á", báo cáo của IMF 5/5/2009
4. “Báo cáo Khảo sát tình hình Kinh tế- Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương năm 2011” của ESCAP