Đề cương ôn tập kinh tế các nước châu á thái bình dương - Pdf 10

CHƯƠNG 1: Khái quát chung về Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Nhật Bản:
1.1. Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Nhật Bản:
1.1.1. Bối cảnh ra đời của Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Nhật Bản (AJCEP)
Từ những năm đầu của thập niên 1990, song song với quá trình toàn cầu hoá, chủ nghĩa
khu vực (regionalism) đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về lượng và về chất. Trước đó, chủ
nghĩa khu vực thường mang hình thái khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area) nhưng
kể từ thập niên 1990, hình thái FTA (Free Trade Agreement) song phương hoặc nhiều bên
trở nên phổ biến hơn, với phạm vi hợp tác rộng hơn, không chỉ giới hạn trong việc thực
hiện tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ mà còn cả xúc tiến và tự do hoá đầu tư, hợp
tác chuyển giao công nghệ, thuận lợi hóa thủ tục hải quan, xây dựng năng lực và nhiều
nội dung mới khác như lao động, môi trường.
Chủ nghĩa khu vực đang tồn tại một cách khách quan bên cạnh hệ thống thương mại đa
phương của WTO. Theo thống kê của Ban Thư ký WTO, tính đến tháng 3 năm 2008 đã
có 209 hiệp định thương mại khu vực (RTAs) được thông báo cho WTO, trong đó có 119
hiệp định thương mại tự do (FTAs). Trong số 119 FTAs được thông báo cho WTO, có tới
96 FTAs (chiếm 81%) được ký kết và có hiệu lực trong giai đoạn 1995-2007. Đáng chú ý
là 69 FTAs (chiếm 72%) được hình thành trong giai đoạn 2001-2007, tức là trong thời
gian diễn ra Vòng đàm phán Đô-ha.
Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã tỏ ra khá tích cực trong việc ký kết và tham gia các
FTA. Ngay cả những nước trước đây tỏ ra thờ ơ với FTA mà dành nhiều quan tâm cho
WTO và hệ thống thương mại đa phương như Mỹ, Nhật và EU cũng đã có sự thay đổi.
Đối với Mỹ, sau nhiều năm chỉ có Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và FTA
song phương với Israel, gần đây Mỹ đã có thêm FTA song phương với Singapore và Chi-
lê (năm 2003) và đang đàm phán với một số đối tác khác ở Châu Á, Trung Mỹ… Nhật
Bản lần đầu tiên ký một FTA đầy đủ với Singapore vào năm 2002, sau đó là với một loạt
các nước ASEAN khác và hiện đang đàm phán FTA song phương với Việt Nam và Thụy
Sỹ.
Khuôn khổ hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Nhật Bản đã được ký kết bởi các
nhà lãnh đạo tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN - Nhật Bản trên 08 Tháng 10 năm 2003
tại Bali, Indonesia , và nhằm mục đích thiết lập một thỏa thuận đối tác kinh tế toàn diện
giữa ASEAN và Nhật Bản.

(trong đó có Việt Nam) vào ngày 01/12/2008. Là hiệp định toàn diện, chứa đựng các quy
tắc căn bản về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và các hoạt động hợp tác
kinh tế khác. Trong đó, quan trọng nhất là cam kết về lộ trình giảm thuế nhập khẩu giữa
các nước ASEAN và Nhật Bản. Đến năm 2018, ASEAN và Nhật Bản cơ bản trở thành
một khu vực thương mại tự do về hàng hóa.
Theo hiệp định, Nhật Bản sẽ bãi bỏ các biểu thuế đánh vào 93% danh mục hàng hóa nhập
khẩu từ ASEAN trong vòng 10 năm kể từ khi FTA có hiệu lực.
Đổi lại, 6 nước ASEAN có tiềm lực kinh tế mạnh hơn là Brunei, Indonesia, Malaysia,
Philippines, Singapore và Thái Lan cũng sẽ bãi bỏ thuế trong vòng 10 năm đối với 90%
hàng hóa nhập khẩu từ Nhật Bản, trong khi 4 thành viên còn lại là Việt Nam, Lào,
Campuchia và Myanmar sẽ bãi bỏ thuế theo một lộ trình chậm hơn.
Hiệp định AJCEP không chỉ là hiệp định về hàng hóa, mà còn bao gồm cả các hoạt động
dịch vụ và đầu tư. Với hiệp định này, các công ty Nhật Bản đang mở rộng thị trường ở
Đông Nam Á có thể sẽ giảm được các chi phí kinh doanh. Đặc biệt, các nhà chế tạo điện
tử và ô tô Nhật Bản sẽ được hưởng lợi nhiều do các phụ tùng xuất khẩu sang nhiều nước
trong khu vực ASEAN để lắp ráp không bị đánh thuế.
2
1.2. So sánh mức cam kết của Hiệp định AJCEP với các Hiệp định thế giới và khu vực
khác Việt Nam tham gia.
Như ta đã biết, tham gia WTO, AFTA, khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc,
ASEAN- Hàn Quốc, ASEAN- Nhật Bản…., Việt Nam cam kết cắt giảm thuế quan ở các
mức độ khác nhau. Đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản có cách
tiếp cận hoàn toàn khác so với đàm với trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN-Trung Quốc, ASEAN-Hàn Quốc, đó là được kết hợp giữa đàm phán song
phương và đàm phán đa phương. Việt Nam cùng với các nước ASEAN 6 đã tiến hành
đàm phán với Nhật Bản trong cả hai khuôn khổ: Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện
ASEAN-Nhật Bản (AJCEP) và Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản
(VJEPA).Với Việt Nam, do Lộ trình cắt giảm thuế quan theo AJCEP chậm hơn lộ trình
cắt giảm thuế quan theo CEPT/AFTA trong ASEAN nên về cơ bản AJCEP không làm
thay đổi nghĩa vụ của Việt Nam với các nước ASEAN. Theo CEPT/AFTA, Việt Nam sẽ

88,6% số dòng thuế trong toàn Biểu cam kết.
- Danh mục nhạy cảm thường (SL) chiếm 0,6% số dòng thuế, được duy trì ở mức thuế
suất cơ sở và xuống 5% vào năm 2025.
- Danh mục nhạy cảm cao (HSL) chiếm 0,8% số dòng thuế, được duy trì mức thuế suất
cao (giảm xuống 50% vào năm 2023).
- Danh mục không xoá bỏ thuế quan, thuế suất duy trì ở mức thuế suất cơ sở trong cả lộ
trình (C) chiếm 3,3% số dòng thuế.
- Danh mục loại trừ chiếm 6,0% số dòng thuế.
Phân loại Tỷ lệ dòng
thuế (%)
Tỷ lệ kim
ngạch (%)
Danh mục xóa bỏ
thuế quan
Trong vòng 10 năm 62,2 65,1
Trong vòng 15 năm 25,7 13,8
Trong vòng 16 năm 0,7 0,3
Tổng 88,6 79,2
Danh mục nhạy
cảm-không xóa bỏ
thuế quan
Thuế giảm xuống 5% vào năm 2025 0,6 2,1
Thuế giảm xuống 50% vào năm 2023 0,8 0,2
X giữ nguyên mức thuế suất cơ sở 3,3 5,3
Tổng 4,8 7,6
Danh mục loại trừ Không cam kết 6,0 13,3
Danh mục CKD ô

Không cam kết 0,6 0,0
Tổng 100 100

9. Thiết bị vận tải 85 186 235
10. Máy móc cơ khí 220 553 725
11. Máy và thiết bị điện 709 1.075 1.261
12. Khoáng sản 48 262 350
13. Hàng chế tạo khác 233 370 601
Tổng 2.468 5.846 8.321

Thuế suất áp dụng cho từng giai đoạn trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ASEAN-
Nhật Bản (Biểu AJCEP) hầu hết được cắt giảm theo mô hình cắt giảm dần đều từ thuế
suất cơ sở hoặc có mô hình cắt giảm riêng đối với những dòng thuế thuộc danh mục nhạy
cảm (áp dụng thuế suất cơ sở trong cả lộ trình, giảm từ thuế suất cơ sở xuống 5%/50%
vào năm 2025/2023…). Chính vì vậy, mức thuế suất bình quân áp dụng cho cả Biểu
AJFTA theo từng năm trong Lộ trình có chiều hướng giảm dần.
5
1.4. Tác động của Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Nhật Bản đến hoạt động xuất
khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản:
Những năm gần đây, quan hệ Việt Nam – Nhật Bản đang ngày càng trở nên mật thiết trên
nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục … Đầu tư trực tiếp (FDI) của Nhật Bản vào Việt
Nam hiện đứng thứ 3 sau Singapore, Đài Loan và là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt
Nam.
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 9 THÁNG NĂM 2013 THEO
VÙNG (Tính từ 1/1/2013 đến 29/9/2013)
Quan hệ hai nước đã đi đến quan hệ hợp tác kinh tế toàn diện. Việc tìm hiểu, nâng cao sự
hiểu biết về lộ trình cam kết thuế quan của Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Nhật
Bản, qua đó tận dụng các ưu đãi trong Hiệp định là thật sự cần thiết đối với doanh nghiệp
hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.
Nhật Bản là nước nhập siêu lớn về nông sản và các mặt hàng công nghiệp tiêu dùng như
dệt may, giày da, thực phẩm chế biến từ Việt Nam, và Việt nam lại là nước có nhiều lợi
thế xuất khẩu các sản phẩm này. Cơ hội lớn nhất của Việt Nam là khả năng khai thác tối
đa ưu thế xuất khẩu đối với những mặt hàng nông thủy sản như tôm, cá, cua đông lạnh và

nhập khẩu của Nhật Bản hàng năm. Về góc độ khai thác thị trường thì hàng hóa Việt
Nam vẫn chưa tiếp cận hết nhu cầu, tiềm năng của thị trường Nhật Bản. Nhìn chung,
chủng loại hàng hóa xuất vào Nhật có hàm lượng chất xám cao còn nhiều hạn chế khiến
hàng hóa Việt Nam không khai thác hết các cơ hội thị trường. Trong hoạt động hợp tác
dầu tư, nhiều lĩnh vực 2 nước có khả năng hợp tác cũng chưa được khai thác.
7
Kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản trong các năm 2008-2012 tăng dầu đều
qua từng năm. Kết quả xuất nhập khẩu song phương giữa 2 nước tăng cao hơn so với
giao thương của Nhật Bản với các nước khác trong khu vực ASEAN. Cán cân thương
mại giữa Việt Nam – Nhật Bản những năm qua luôn cân bằng, đặc biệt Việt Nam luôn
xuất siêu sang thị trường này, trừ năm 2009 và 2010. Các mặt hàng xuất nhập khẩu của 2
nước có tính chất bổ sung cho nhau. Việt Nam chủ yếu xuất sang Nhật các mặt hàng thế
mạnh như sản phẩm nông, lâm, thủy sản, dệt may, đồ gỗ, sản phẩm chất dẻo, gốm sứ…
Các mặt hàng chính xuất khẩu sang thị trường này trong thời gian này là hàng dệt may,
dầu thô, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, hàng thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ, giày
dép các loại…. trong đó hàng dệt may chiếm tỷ trọng lớn. Kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam sang Nhật Bản được thống kê trong bảng:

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản.
Các doanh nghiệp Nhật Bản cho hay, họ sẵn sàng hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam
để cải thiện vấn đề chất lượng sản phẩm xuất khẩu vào Nhật Bản. Đồng thời, bản thân
mỗi doanh nghiệp cần nỗ lực, cố gắng nâng cao chất lượng hàng hóa và tận dụng lộ trình
giảm thuế để tăng tính cạnh tranh. Theo lộ trình giảm thuế, có 2.350 dòng thuế hàng hóa
8
của Việt Nam xuất sang Nhật sẽ giảm về 0% và đã có 847 dòng thuế về 0% kể từ năm
2009 nhờ hưởng ưu đãi từ hiệp định thương mại. Đến năm 2016, mức thuế về 0% sẽ áp
dụng đối với các mặt hàng như hồ tiêu, rau chân vịt, ngô. Tiếp đó 14 dòng thuế của các
mặt hàng nông, lâm sản khác sẽ về 0% như gừng, chuối, xoài, đậu tương.
2.1.2. Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu giữa hai nước.
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật bản nói chung gồm hàng may

chiếm tỷ trọng 19% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sang nước này; tiếp đến là mặt
hàng dệt may đạt kim ngạch 1,97 tỷ USD, tăng 16,82%; phương tiện vận tải tăng 35,93%,
đạt 1,69 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cũng tăng 10,14%, đạt 1,23 tỷ
USD; kế đến xuất khẩu thủy sản đạt 1,08 tỷ USD, tăng nhẹ 6,8%.
(Nguồn: Bộ Công thương;website: />thuong-mai-viet-nam.gplist.1.gpopen.35088.gpside.1.asmx)
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu đã cải thiện, duy trì ở mức tăng trưởng khá cao ở hầu hết
các mặt hàng. Đàng chú ý ở đây là mặt hàng xăng dầu tăng trưởng 824, 27% so với năm
2011.
2.1.3. Các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam – Nhật Bản
2.1.3.1. Các nhân tố vĩ mô
a. Môi trường chính trị - pháp luật:
Các yếu tố thuộc lĩnh vực chính trị và luật pháp chi phối mạnh mẽ sự hình thành cơ hội
thương mại và khả năng thực hiện mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào. Sự ổn định của
môi trường chính trị đã được xác định là một trong những điều kiện tiền đề quan trọng
cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chính Phủ tạo cơ hội, thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản. Hỗ
trợ các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Nhật.
10
- Việt Nam có nền chính trị ổn định, được bạn bè quốc tế khen ngợi và được xem là điểm
đến đầu tư ổn định, an toàn trong khu vực và trên thế giới, khoa học công nghệ và chất
lượng sản phẩm ngày càng tăng cao, điều đó giúp các doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn
với thị trường Nhật Bản mở rộng thị trường.
- Việc nghiên cứu và tuân thủ pháp luật của cả Nhật Bản lẫn Việt Nam giúp các doanh
nghiệp giảm thiểu được rủi ro trong kinh doanh, vượt qua được các rào cản thương mại.
- Việc vượt qua các rào cản kỹ thuật , các tiêu chuẩn môi trường, chất lượng sản phẩm cản
trở doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường tiềm năng này, điều này đòi hỏi các
doanh nghiệp phải tuân thủ đúng các tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường này.
b. Môi trường kinh tế:
Các yếu tố thuộc môi trường này quy định cách thức doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế
trong việc sử dụng tiềm năng của mình và qua đó cũng tạo ra cơ hội kinh doanh cho từng

mặt hàng với chi phí nhân công rẻ. Mỗi quốc gia sẽ tập trung sản xuất những mặt hàng
lợi thế của mình. Và Nhật Bản sẽ nhập khẩu những mặt hàng nông, lâm, thủy sản, nguyên
nhiên liệu.
Khoảng cách địa lý giữa các nước sẽ ảnh hưởng đến chi phí vận tải, tới thới gian thực
hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng do vậy, nó ảnh hưởng tới việc lựa chọn nguồn
hàng, lựa chọn thị trường, mặt hàng xuất khẩu… Vận tải đường biển có thể bị trì trệ thời
gian bởi Biển Đông Việt Nam phải gánh chịu rất nhiều những cơn bão. Các sản phẩm khó
bảo quản vận tải xa thì mắc phải các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng khi xuất khẩu đi
Nhật Bản, do đó ảnh hưởng tới việc tăng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản.
e. Yếu tố khoa học, công nghệ:
- Sự phát triển của khoa hóc công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin cho phép các nhà
kinh doanh nắm bắt một cách chính xác và nhanh chóng thông tin, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc theo dõi, điều khiển hàng hoá xuất khẩu, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả
hoạt động xuất khẩu. Đồng thời yếu tố công nghệ còn tác động đến quá trình sản xuất, gia
công chế biến hàng xuất khẩu, các lĩnh vực khác có liên quan như vận tải, ngân hàng.
- Sự hạn chế yếu kém về công nghệ sản xuất do thiếu vốn đầu tư đổi mới máy móc ít
nhiều cũng làm khó khăn trong việc tạo ra sản phẩm có chất lượng và có độ bền cao làm
hạn chế khả năng cạnh tranh với các mặt hàng cùng loại của đối thủ cạnh tranh như
Trung Quốc, Đài Loan Trong khi đó, thị trường Nhật Bản nổi tiếng với các tiêu chuẩn
khắt khe về chất lượng, yêu cầu mẫu mã sản phẩm đa dạng. Điều này ảnh hưởng lớn tới
việc tăng xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản
2.1.3.2. Các nhân tố bên trong:
Bên cạnh những nhân tố bên ngoài thì nhân tố bên trong cũng ảnh hưởng không nhỏ tới
hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản. Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp
tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cũng như tới hoạt động xuất
khẩu của doanh nghiệp sang thị trường ngoài.
a. Tiềm lực tài chính: Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông
qua khối lượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng
phân phối (đầu tư) có hiệu quả các nguồn vốn, khả năng quản lý có hiệu quả các nguồn
vốn trong kinh doanh.

2.2.1. Những tác động tích cực.
- Tham gia vào AJCEP, với những thỏa thuận về ưu đãi thuế quan và dỡ bỏ hàng rào
cản phi thuế quan là cơ hội để Việt Nam tăng cường xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản.
Đặc biệt trong điều kiện năng lực canh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp xuất khẩu
của Việt nam chưa cao, các ưu đãi này là điều kiện thuận lợi để Việt Nam tranh thủ thâm
nhập và tạo dựng vị trí của mình trên thị trường Nhật bản.
- Cắt giảm thuế quan đối với nhiều mặt hàng nhập khẩu theo các cam kết AJCEP đã
giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thể nhập khẩu nguyên phụ liệu, máy móc, thiết bị…
với chi phí thấp hơn để phát triển trong nước.
- Thực hiện các thỏa thuận theo AJCEP sẽ tạo ra cho các doanh nghiệp Việt Nam có
thể tiếp cận với các đối tác nhằm tăng cường trao đổi thương mại trong khu vực.
13
2.2.2. Những tác động tiêu cực
Ngoài những lợi ích rõ ràng mang lại thì nó cũng làm nảy sinh một số rủi ro.
- Khi tham gia ký kết AJCEP, Việt Nam và các nước đối tác phải cùng nhau thực
hiện cam kết giảm thuế đối với những hàng hóa nằm trong danh mục giảm thuế theo lộ
trình. Khi đó cơ hội xuất khẩu hàng hóa vào các nước thành viên của Việt Nam sẽ thuận
lợi hơn do được hưởng các ưu đãi thương mại, dẫn đến chi phí đầu vào thấp hơn so với
những nước khác không phải là thành viên của AJCEP. Tuy nhiên, một tác động ngược
lại của AJFTA là làm tăng nguy cơ nhập siêu do Việt Nam cũng phải thực hiện nghĩa vụ
giảm thuế theo lộ trình. Điều này sẽ khiến hàng hóa trong nước phải chịu nhiều áp lực
canh tranh hơn bởi hàng hóa nhập khẩu từ các nước thành viên trong AJFTA được hưởng
mức thuế ưu đãi thấp.
- Việc tham gia nhiều hiệp định khác nhau sẽ dẫn tới gánh nặng về thủ tục hải quan,
quy tắc xuất xứ, thành lập các nhóm công tác khác nhau, làm suy giảm nguồn lực và làm
tăng gánh nặng chi phí giao dịch.
Một vấn đề chính nảy sinh từ những khu vực thương mại tự do là cần đảm bảo hàng hóa
xuất khẩu từ khu vực này được sản xuất bởi một hoặc nhiều nước thành viên chứ không
phải được sản xuất và nhập khẩu từ một nước thứ 3 rồi kê khống rằng được sản xuất
trong khu vực. Để đề phòng trường hợp này, quy tắc về xuất xứ đã được xây dựng, trong

- Phía Nhật Bản dựa trên ưu thế về kinh nghiệm, công nghệ sẽ hỗ trợ các nước
ASEAN trong lĩnh vực hoàn thiện cơ sở hạ tầng, hoạch định chính sách.
- Nguồn vốn đầu tư ODA mà Nhật Bản dành cho Việt Nam ngày càng tăng, tính đến
cuối năm 2008, Nhật Bản vẫn là nhà đầu tư lớn thứ ba tại Việt Nam với 105 dự án và số
vốn đăng kí đạt trên 7,2 tỷ USD. Trong 6 tháng đầu năm 2009, NHật Bản đã đầu tư vào
Việt Nam 35 dự án và tổng số vốn đăng kí đầu tư gần 94 USD. Tính đến 2012, Nhật bản
có 1113 dự dán đầu tư với tổng số vốn đăng kí hơn 17ty USD, chiếm 10,675 trong tổng
số vốn đầu tư trự tiếp nước ngoài. Như trong đợt I tài khóa 2012, Chính phủ Nhật Bản đã
quyết định dành 1,2 tỷ USD vốn ODA cho Việt Nam. Như vậy, các doanh nghiệp VN
ngày càng được tiếp cận với nguồn vốn ODA một cách dễ dàng hơn, góp phần phát triển
kinh tế một cách bền vững và có hiệu quả.
- Việc tham gia AJCEP sẽ giúp Việt Nam tiếp cận được với các ngành công nghệ
cao để ứng dụng và phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu suất và
năng lực cạnh tranh của các mặt hàng nông sản trong thời gian tới. Về phía Việt Nam,
AJFTA cũng tạo ra một thị trường đáng kể cho một số mặt hàng công nghiệp, nhất là máy
móc nhỏ phục vụ nông nghiệp của thị trường của Nhật Bản.
- AJCEP cũng mở ra tiềm năng thu hút đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam dưới
nhiều hình thức, đặc biệt là thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp khai thác và chế
biến khoáng sản như đồng, niken, than, gang, bôxít, dầu, năng lượng và công nghiệp hoá
chất như nhựa, cao su, chất tẩy rửa nhằm tạo nguyên liệu đầu vào cho các ngành công
nghiệp của Trung Quốc.
3.1.2. Thách thức của Việt Nam trong quá trình thực hiện AJCEP
• Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) thì thuế suất hàng hóa
của những đối tác cạnh tranh của DN Việt Nam cũng sẽ được giảm mạnh. Như vậy, hàng
hóa Việt Nam sẽ phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn cả ở thị trường trong nước lẫn nước
ngoài dặc biệt là với cá nước trong cùng hiệp định. Ðó là chưa kể những sân chơi mới
15
mà Việt Nam đang chuẩn bị tham gia như Hiệp định thương mại tự do với EU, Hàn
Quốc; Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) "Liệu thời gian còn lại
có đủ để DN nâng cao năng lực cạnh tranh, sẵn sàng cho những cơ hội và thách thức mới

+ Việt Nam cần chủ động xây dựng chiến lược phát triển toàn diện dài hạn với Nhật,
trong đó đặc biệt coi trọng đến các quan hệ hợp tác kinh tế. Việt Nam cần tích cực tổ
chức các sự kiện giao lưu hay các chương trình hoạt động cụ thể để chào đón và khyến
khích các doanh nghiệp Nhật sang tìm hiểu cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp Việt
16
Nam. Qua đó, các doanh nghiệp Việt Nam hiểu rõ hơn các phong tục tập quán cũng như
thị hiếu của người Nhật. Trong thời buổi cạnh tranh cao việc chủ động tìm đến với thị
trường và tiếp xúc bạn hàng, người tiêu dùng sẽ mang lại cơ hội kinh doanh và thành
công cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam cần tạo mối quan hệ tốt với các nhà
xuất khẩu trung gian thông qua các hiệp hội, ngành hàng để có nhiều cơ hội xuất khẩu
hơn các nước khác.
+ Để được hưởng lợi tối đa từ Hiệp định AJCEP các doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ và
chặt chẽ các cơ chế cam kết của Hiệp định đồng thời nắm rõ các quy tắc xuất sứ hàng
hóa. Các doanh nghiệp cần sản xuất các hàng hóa đạt yều cầu về chất lượng, tiêu chuẩn
về quy trình sản xuất của Nhật bản. Doanh nghiệp Việt Nam tích cực đưa vào sử dụng
các công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, có thể nhập máy móc tiên tiến của
Nhật Bản. Như thế vừa nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu vừa thúc đẩy
trao đổi thương mại quốc tế Việt – Nhật. Bên cạnh đó, các DN Việt Nam cần tìm hiểu kỹ
thông tin về các hội chợ để thu được hiệu quả cao trong việc tìm bạn hàng và tìm hiểu
phong tục người Nhật và tìm hiểu đối thủ cạnh tranh. Việt Nam nên hợp tác với các nước
trong khu vực cũng xuất khẩu sang Nhật cùng mặt hàng giống nhau để tăng sức cạnh
tranh trên thị trường cũng như giảm đối thủ cạnh tranh.
+ Việc xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Nhật Bản gặp nhiều thách thức do yêu cầu
khắt khe về chất lượng, thời gian giao hàng, giá cả và thông tin nhất quan, trong đó chất
lượng là tiêu chuẩn số 1 và không thay đổi. Vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam cần tranh
thủ hợp tác với các doanh nghiệp Nhật Bản tham gia chuỗi cung ứng hàng hóa Nhật Bản,
nhất là các doanh nghiệp nhỏ có quy mô vốn phù hợp để hợp tác, nâng cấp sản phẩm, tiếp
cận thị trường và công nghệ, nâng cao quy trình sản xuất lẫn kỹ năng kinh doanh. Bên
cạnh đó, các DN cần hiểu đúng chế độ quản lý vệ sinh thực phẩm của Nhật Bản để nắm
rõ lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kháng sinh được sử dụng. Các thực phẩm tươi

Theo nội dung Hiệp định đối tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản, thuế suất bình quân
đối với hàng Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản sẽ giảm dần xuống 2,8% vào năm 2018.
Khi Hiệp định có hiệu lực, ít nhất 86% hàng nông - lâm - thủy sản và 97% hàng công
nghiệp Việt Nam xuất sang Nhật Bản được hưởng ưu đãi thuế. Đổi lại, thuế suất bình
quân đối với hàng nhập khẩu từ Nhật Bản vào Việt Nam sẽ giảm dần, xuống còn 7% vào
năm 2018. Các mặt hàng thủy sản, nông sản, dệt may, sắt thép, hóa chất, linh kiện điện tử
có mức cam kết tự do hóa mạnh mẽ nhất. Trong vòng 10 năm, theo thỏa thuận, Việt Nam
và Nhật Bản sẽ cơ bản hoàn tất lộ trình giảm thuế để xây dựng một khu vực thương mại
tự do song phương hoàn chỉnh. Theo đó, 94,5% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và
87,6% kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản sẽ được miễn thuế nhập khẩu. Với vai trò là
những người “nằm vùng”, đội ngũ tham tán cần chú trọng hơn đến các thông tin về hội
chợ, triển lãm lớn có uy tín tại địa bàn để định hướng cho các doanh nghiệp, hiệp hội
ngành hàng trong việc xây dựng các chương trình xúc tiến thương mại hiệu quả.
Tham tán Thương mại của Việt Nam tại Nhật Bản Vũ Văn Trung cho rằng, cần tăng
cường trao đổi thông tin về nhu cầu xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam và nước
ngoài cũng như tổ chức đoàn giao thương cho các doanh nghiệp nước ngoài có nhu cầu
tìm kiếm bạn hàng, đối tác, nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ của Nhật Bản khi tới Việt
Nam. Đồng thời, thông tin kịp thời cho các doanh nghiệp về những dòng thuế giảm theo
18
lộ trình để doanh nghiệp kịp thời ứng phó, xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh tại
thị trường Nhật Bản.
Theo Phó cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công thương Lê Hoàng Oanh, để
thâm nhập vào thị trường Nhật Bản, các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm bắt thông tin và
hiểu biết về tập quán kinh doanh của người Nhật. Các hiệp hội ngành hàng, các doanh
nghiệp cần tận dụng tốt các kênh hỗ trợ của Việt Nam và Nhật Bản, cũng như khai thác
triệt để những ưu đãi do các Hiệp định song phương và đa phương mang lại. Bên cạnh
đó, việc hiểu biết các quy định tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và thực tế kiểm dịch
tại Nhật Bản cũng sẽ giúp các doanh nghiệp cung cấp được sản phẩm ổn định chất lượng,
hạn chế bị trả lại hàng và rút ngắn thời gian kiểm dịch.
Theo Bộ Công thương, để tăng tốc vào thị trường Nhật Bản, doanh nghiệp Việt Nam sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status