Đề cương ôn tập quản lý nhà nước về kinh tế xã hội - Pdf 28

MR AN.NOOD/3B 1
ĐỀ CƯƠNG ÔN TÂP:
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TÉ-XÃ HỘI
MỤC LỤC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TÉ-XÃ HỘI 1
Câu 2: Phân tích đặc trung nền kinh tế thị trường? So sánh nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung vói nền kinh tế thị trường? 2
BÀĨ LÀM 2
Liên hê: 8
Câu 3: Phân tích nội dung QLNN về kinh tế? Liên hệ trong quản lý kinh tế hiện nay? 9
B, Liên hê thuc hiên nghỉ quyết ciía Đàng về xây dưng phát triển văn hỏa Viêt Nam, tiên
tiến đâm đà bán sắc dân tôc, hiên nay và tưong lai: 22
2.Yêu cầu thị trường lao động, nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay đưọc xác định phát trỉến
là: 29
Câu 9: Nêu các quan điếm phát triến nguồn nhân lực Việt Nam? Nội dung quản lý nhà
nước về lao động và nguồn nhân lực? 29
B, Nôi dung quán lý nhà nước về lao đông và nguồn nhân lưc 30
Câu lĩ Khái niệm kinh tế thị trường? Các đặc trưng của nền kinh tế thị trường?
• Khái niệm KTTT:
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với
nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên
thị trường.
- Kinh tế thị trường là nền kinh tế lấy khu vục kinh tế tư nhân làm chủ đạo. Những
quyết định kinh tế được thực hiện một cách phi tập trung bởi các cá nhân người tiêu dùng
và công ty. Việc định giá hàng hóa và phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế được cơ bản
tiến hành theo quy luật cung - cầu. Trái với kinh tế thị trường là kinh tế kế hoạch hóa tập
trung.
*) Các đặc trưng của nền kinh tế thị trường:
Có 9 đặc trưng cơ bản là:
• Quá trình lưu thông những sản phẩm vật chất và phi vật chất tù' sản xuất đến tiêu
MR AN.NOOD/3B 2

- Kinh tế thị trường là nền kinh tế lấy khu vục kinh tế tư nhân làm chủ đạo. Những
quyết định kinh tế được thực hiện một cách phi tập trung bởi các cá nhân người tiêu dùng
và công ty. Việc định giá hàng hóa và phân bố các nguồn lực của nền kinh tế được cơ bản
tiến hành theo quy luật cung - cầu. Trái với kinh tế thị trường là kinh tế kế hoạch hóa tập
trung.
B, Phân tích cu thể các đăc trung của nền kinh tế thi trưòng:
Một là, ❖ quá trình lưu thông những sản phẩm vật chất, và phi vật chất từ sản xuất
đến tiêu dùng phải được thực hiện chủ yếu bằng phương thức mua - bán.
Bởi vì, có sự luân chuyển vật chất trong nền kinh tế là do có sự phân công chuyên
môn hóa trong việc sản xuất sản phẩm xã hội ngày càng cao, cho nên sản phẩm trước khi
trở thành hữu ích trong đời sống xã hội cần được gia công qua nhiều khâu chuyển tiếp
nhau. Bên cạnh đó, có những người, những doanh nghiệp, những ngành, những vùng sản
MR AN.NOOD/3B 3
xuất dư thừa sản phẩm mà mình sản xuất nhưng lại thiếu những sản phẩm khác, do đó giữa
các chủ thể cần có sự trao đổi cho nhau.
Một nền kinh tế được gọi là nền kinh tế thị trường khi tống lượng mua - bán vượt
quá nửa tổng lượng vật chất của xã hội.
v' Liên hệ :
Trước đây, khi chưa chuyển sang cơ chế thị trường, nền kinh tế Việt Nam là nền
kinh tế tự cấp tự túc, mọi mặt hàng nằm trong tay Nhà nước, Nhà nước trục tiếp quản lý và
phân phối hầu hết mọi mặt hàng (vật liệu xây dựng, lương thực thực phẩm, nhu yếu
phẩm ), việc mua-bán diễn ra rất hạn chế, chỉ bao gồm một số mặt hàng phục vụ cuộc
sống hàng ngày.
Tuy nhiên, hiện nay phương thức đó gần như đã được thay thế bằng phương thức
mua - bán, việc trao đối hàng đổi hàng hoặc việc phân phối hàng hóa của nhà Nước không
còn là phương thức chính nữa. Bởi lẽ, sự phân công chuyên môn hóa trong việc sản xuất
sản phấm xã hội ngày càng cao, mỗi đơn vị chỉ sản xuất một hoặc một số mặt hàng. Cá
nhân hoặc đơn vị có nhu cầu về một mặt hàng nào đó, sẽ tiến hành mua - bán với một cá
nhân hoặc đơn vị khác và sẽ bán mặt hàng mà mình sản xuất.
Thị trường mua - bán hiện nay ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng, đủ mọi mặt

kết cấu hạ tầng tối thiểu, đủ để việc mua - bán diễn ra thuận lợi, an toàn.
Đây là đặc điểm của riêng nền kinh tế thị trường mà những nền kinh tế khác không
có được. Như vậy là đã có sự quan tâm tới điều kiện trao đối trên thị trường, nó chứng tỏ
kinh tế đã thoát khỏi tình trạng trao đối đơn thuần những sản phấm dư thừa nhằm thởa
mãn nhu cầu hàng ngày mà vấn đề lợi ích và lợi nhuận đã được quan tâm.
V Liên hệ :
Nen kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, nguồn đầu tư cho kinh tế
đế hoạt động mua bán được thực hiện thường xuyên, ổn định, trên cơ sở một kết cấu hạ
tầng tối thiếu, đủ đế việc mua bán diễn ra thuận lợi, an toàn là tất yếu. Trong đó có thể kể
tới:
> Hệ thống chợ, siêu thị, đại lý .phân bố khắp cả nước.
> Hệ thống giao thông không ngừng được hoàn thiện, nâng cấp.
> Tiềm năng điện quốc gia khá dồi dào.
VD: siêu thị fivimart - một trong những hệ siêu thị lớn nhất tại Việt Nam, siêu thị
này đáp ứng đầy đủ nhu cầu thiết yếu của người dân trên địa bàn.
Song song với những thuận lợi trên, ta cũng phải kể đến những hạn chế về cơ sở hạ
tầng của nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay:
• Nhiều nơi vẫn tồn tại chợ cóc, chợ tạm gây cản trở giao thông.
• Nhiều dự án xây dựng chưa được hoàn thành, gây thiệt hại kinh phí lớn.
MR AN.NOOD/3B 4
MR AN.NOOD/3B 5
❖ Bốn là, các đối tác hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều theo đuối lợi
ích của mình. Lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp của sự phát triến kinh tế. Tuy nhiên, lợi
ích cá nhân là động lực trực tiếp của sự phát triển kinh tế nhưng lợi ích cá nhân không được
xâm phạm đến lợi ích của người khác và của cộng đồng.
V Liên hệ '
Đặc điểm này nếu phát huy tốt, được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật thì sẽ góp
phần thúc đấy sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên quá chú ý tới lợi ích cá nhân thì việc
xâm hại tới lợi ích của chủ thể khác là điều tất yếu.
Điều này có thể thấy rõ trong nền kinh tế thị trường Việt Nam ở ví dụ của công ty

■ Song, bên cạnh những nét tích cực trên, nếu quản lý không tốt tất yếu sẽ xảy ra
cạnh tranh không công bằng giữa các chủ thế. Vì vậy, việc cạnh tranh phải được thực hiện
trong khuôn khổ pháp luật và sự quản lý của Nhà nước.
❖ Sáu là, sự vận động của các quy luật khách quan của thị trường dẫn dắt hành
vi, thái độ ứng xử của các chủ thể tham gia thị trường.
Các quy luật khách quan của thị truờng có thê kê tới nhu quy luật cạnh tranh, quy
luật cung cầu, quy luật giá trị những quy luật điều tiết thị truờng thông qua việc dẫn dắt
MR AN.NOOD/3B 6
hành vi, thái độ ứng xử của các chủ thế tham gia thị trường.
Các quy luật khách quan của thị trường có thế kể tới như quy luật cạnh tranh, quy
luật cung cầu, quy luật giá trị những quy luật điều tiết thị trường thông qua việc dẫn dắt
hành vi, thái độ ứng xử của các chủ thể tham gia thị trường.
S Liên hệ:
■ Nen kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì vậy ngoài sự vận động của những quy luật khách quan
thì hành vi, thái độ ứng xử của các chủ thể tham gia thị trường còn bị điều chỉnh thông qua
sự quản lý của Nhà Nước.
VD: Trong thời gian gần đây, giá vàng liên tục tăng do nhu cầu trong nước chưa đáp
ứng, cầu vượt cung, giá vàng tăng từng giờ (hiện tại xấp xỉ ngưỡng 3,8 triệu đồng/chỉ vàng),
thêm vào đó do tâm lý người dân đổ xô đi mua vàng khiến thị trường vàng trong nước sôi
động hơn bao giờ hết. Trước tình hình đó Nhà nước đã cho phép các doanh nghiệp tiếp tục
nhập khẩu vàng nhằm làm giảm cơn sốt vàng trong nước.
■ Đơn cử theo quy luật cung cầu trong nền kinh tế thị trường, khi cung vượt cầu
lập tức các nhà cung cấp sẽ hạ giá thành sản phẩm, tiếp tục cải tiến nhằm nâng cao chất
lượng sản phẩm, áp dụng các chương trình khuyến mãi, còn khi cầu vượt cung các nhà sản
xuất sẽ tìm cách tăng giá sản phẩm, người tiêu dùng sẽ đố xô đi mua sản phẩm, dễ xảy ra
tình trạng đầu cơ trên thị trường tiêu dùng.
VD: Vào dịp ngày lễ tình nhân thì nhu cầu về các mặt hàng như socola, hoa tươi tăng
cao vì vậy các doanh nghiệp cũng tăng lượng cung trên thị trường.
♦> Bảy là, sự thống nhất về mục tiêu kinh tế với các mục tiêu chính trị - xã hội nhân

Cụ thể, trong mỗi quốc gia, Nhà nước với vai trò lãnh đạo và quản lí trên mọi lTnh
vực cuộc sống trong mồi, trong đó có kinh tế, hơn thế, những chủ thể tham gia kinh tế cần
có một chủ thể “ trung gian “ là nhà nước đế quản lý, điều hòa khi cần thiết. Vì vậy, sự quản
lí của nhà nước là vô cùng cần thiết nhằm tạo ra môi trường kinh doanh ổn định, công bằng,
thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, nhất là đối với nền kinh tế thị trường.
VD: Chính sách của Nhà nước Hoa Kỳ trong việc kéo nền kinh tế tránh khỏi suy
thoái:
Đầu năm 2008, khi những dấu hiệu của khủng hoảng kinh tế ngày càng rõ rệt, ngay
lập tức Nhà Trắng có khoản tiêm kích cầu trị giá 1% GDP vào nền kinh tế.
Đồng thời, FED (Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ ) đã quyết định cắt giảm thêm
0,5% lãi suất các khoản cho vay ngắn hạn tù' 3,5% xuống còn 3% giữa các ngân hàng
thương mại. Đây là quyết định cắt giảm lãi suất thứ hai liên tiếp của FED chỉ trong vòng 8
ngày để giúp nền kinh tế Mỹ tránh rơi vào suy thoái.
V Liên hệ:
Với những công cụ quản lý vĩ mô như hiến pháp, luật, chính sách từng giai đoạn,
tùng năm Nhà nước thực hiện sự quản lý của mình trên mọi kĩnh vực thuộc kinh tế và bên
cạnh những hạn chế thì đã đạt được những thành tựu to lớn. cụ thể nhà nước đã ban hành
các luật như luật thương mại, luật môi trường, luật doanh nghiệp, luật lao động
Ví dụ, năm 2009, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng tâm hiệp lực của cả hệ thống
chính trị và của các tầng lớp nhân dân, đất nước ta đã vượt qua khó khăn, thách thức gay gắt
trong bối cảnh suy thoái, khủng hoảng kinh tế trầm trọng trên phạm vi toàn cầu.
Trong đó, gói kích cầu của Chính phủ đã góp phần thực hiện được mục tiêu ngăn
chặn suy giảm kinh tế, on định kinh tế vĩ mô; các cân đối thu chi ngân sách Nhà nước, tiền
tệ, cán cân thanh toán quốc tế được đảm bảo; lạm phát được kiềm chế ở mức thấp nhất;
tốc độ tăng trưởng được duy trì hợp lý và bền vững.
Tuy nhiên nếu khắc phục được những hạn chế sau thì sẽ tạo nên sự toàn vẹn trong
quản lý kinh tế của nhà nước : tăng trưởng được dẫn dắt hởi đầu tư đã khiến hội chi và
thâm hụt ngân sách tăng cao. Thêm vào đó, mức tăng cung tiên lớn cỏ thê đây rủi ro lạm
phát sang năm tới.
♦> Chín là, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giữa các quốc gia đang diễn ra với

doanh và hợp tác

Có nhiều thành phần sở hữu
TLSX: sở hữu nhà nước, sở hữu
tập thế, sở hữu cá thể, sở hữu tư
nhân,
KHÁC
NHAU
Cơ chế quản lý
của nhà nước
Thông qua kế hoạch hóa là khâu
trung tâm
Thông qua các kế hoạch, hoạch
định trong từng thời gian và thay
đổi linh hoạt cho phù họp với
hoàn cảnh
Động lực cơ
bản của sự vận
động kinh tế
Sự giác ngộ cách mạng của cán
bộ,công nhân viên và kỷ luật
hành chính, được tạo ra bởi công
tác chính tri,công tác tưởng,
công tác động viên tinh thần
Sự tự giác và cạnh tranh giữa các
chủ thể kinh tế với nhau
Vai trò của
nhà nước
Đóng vai trò chủ đạo, quyết định
mọi vấn đề

- Thứ nhất, Nhà nước phải tạo được môi trường và điều kiện cho hoạt động sản xuất
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Bảo đảm sự ôn định về chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội cho sự phát triển của nền kinh tế. Duy trì pháp luật trật tụ’ an toàn xã hội, thi hành
nhất quán các chính sách & thế chế theo hướng đối mới, ốn định môi trường kinh tế vĩ mô,
khống chế lạm phát, điều tiết các quan hệ thị trường.
Tạo môi trường tâm lý, trong quá trình nhận thức của cán bộ đảng viên và nhân dân
phải hiếu cơ chế thị trường, nhận thức được tính hai mặt của cơ chế.
- Thứ hai, phải dẫn dắt & hỗ trợ những nổ lực phát triển thông qua chiến lược, kế
hoạch, các chính sách kinh tế, sử dụng có trọng điểm các nguồn lực kinh tế quốc doanh, tạo
nguồn lực đế phát triển kinh tế Nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như:
kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, BHXH, những cơ sở sản xuất
và thương mại dịch vụ quan trọng, một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan
hệ đến quốc phòng - an ninh, khai thông các quan hệ kinh tế.
MR AN.NOOD/3B 10
- Thứ ba, Nhà nước phải hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội. Tăng trưởng
kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, ngay trong từng bước và trong suốt
quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối tư liệu sản xuất lẫn ở
khâu kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có co hội phát triển và sử
dụng tốt năng lực của mình.
Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo; thu hẹp
khoảng cách và trình độ phát triển về mức sống giữa các vùng, các tầng lớp dân cư, giải
quyết việc làm cho người lao động.
Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn, đáp
nghĩa”, nhân hậu. vv
-Thư tư, Nhà nước phải tăng cường kiếm tra, giám sát các hoạt động trong nền kinh tế
trên lĩnh vực sử dụng tài nguyên, tài sản quốc gia, bảo vệ môi trường, trật tự kỹ cương của
nền kinh tế.
Nhà nước ta vận hành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường -
hội nhập kinh tế quốc tế, mọi hoạt động diễn ra rất đa dạng, phức tạp, các thành phần kinh tế
vừa hỗ trợ hợp tác, vừa đấu tranh, mâu thuẩn lẫn nhau trong quan hệ kinh tế thị trường

mô nhạy bén và phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường, ngân
sách nhà nước có vai trò quan trọng đối với việc quản lý vĩ mô trên mọi lĩnh vực: điều tiết
thị trường, bình ổn giá cả, chống lạm phát, định hướng phát triển sản xuất, hoạt động đầu tư.
- Tiếp tục đối mới chính sách thuế theo hướng vừa bảo đảm nguốn thu ngân sách nhà
nước, vừa khuyến khích sản xuất kinh doanh và thúc đẩy thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí trong sản xuất và tiêu dùng để tăng tích lũy.
Chính sách thuế là một bộ phận trọng yếu của nền tài chính quốc gia, có liên quan đến
nhiều mối quan hệ kinh tế, xã hội và đời sống của nhiều tầng lớp dân cư. Đối với hoạt động
quả lý của Nhà nước, thuế không chỉ giữ vai trò là nguồn thu chủ yếu của Nhà nước để thực
hiện các chức năng và nhiệm vụ trên mọi lĩnh vục của Nhà nước, mà còn giữ vai trò là công
cụ quản lý vĩ mô.
Kiên quyết thực hiện đạt yêu cầu các luật thuế mới hiện hành, đơn giản hóa hệ thống
thuế và biểu thuế suất, nâng tính ổn định của thuế. Bố sung thuế và phí sử dụng tài nguyên
không tái tạo. Xây dựng quy chế đảm bảo chi ngân sách tiết kiệm và có hiệu quả, nâng dần
tỷ lệ chi đầu tư và phát triển, kềm chế bội chi ngân sách.
Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, thuế là công cụ điều tiết áp lực
cạnh tranh, bảo hộ sản xuất trong nước, điều tiết quan hệ xuất nhập khẩu và thực hiện chính
sách kinh tế mở cửa.
- Chính sách giá cả (bao gồm giá cả hàng hóa và giá cả đồng tiền). Trong kinh tế thị
trường, là cơ sở đế bố trí tài nguyên và kinh doanh sản xuất nó nấy sinh thông qua thị trường
và phản ảnh nhanh nhạy cung - cầu của nền kinh tế. Sự giao động kinh tế của nền kinh tế
quốc dân, trước tiên biểu hiện ở sự giao động về giá cả, cho nên quản lý giá cả bằng chính
sách giá chính là một trong những nội dung chủ yếu về sự can thiệp của Nhà nước đối với
nền kinh tế thị trường như: điều tiết quan hệ cung - cầu, điều tiết hành vi, mối quan hệ giữa
các doanh nghiệp, các ngành kinh tế, điều tiết quan hệ cạnh tranh, môi trường kinh tế đế
chống đột biến xấu từ lạm phát, bảo hộ các hoạt động sản xuất kinh doanh.
*) Ba nội dung cơ bản của chính sách giá cả là:
+ Nhà nước trực tiếp đối với một số ít sản phẩm cơ bản có tính chất chiến lược phục
vụ cho xã hội như: Than, dầu mỏ, điện, hàng không, bưu điện Tuy nhiên, từng bước thu
hẹp tỷ trọng Nhà nước định giá và mở rộng tỷ trọng giá Nhà nước chỉ đạo và giá thị trường

cần thiết - khách quan, nhằm quản lý các thành phần kinh tế và thị trường hoạt động theo
định hướng XHCN, theo quan điểm: tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ, công
bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
Bằng những công cụ của mình, Nhà nước ta thực hiện được các chức năng quản lý
Nhà nước về kinh tế, đưa nề kinh tế xã hội phát triến, thực hiện mục tiêu làm cho dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh - vững bước tiến lên Chủ nghĩa xã hội -
con đường mà Đảng - Bác Hồ và Nhân dân ta hằng mong ước./.
Câu 4: Khái niệm văn hóa? Vai trò của văn hóa đối vói sự phát trien KT-
XH?
• Văn hóa là sản phâm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triên trong
quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo
nên con người, và duy trì sự bền vũng và trật tự' xã hội. Văn hóa được truyền tù' thế hệ này
sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong
quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của
con người và của xã hội được biếu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và
hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo
ra.
• Vai trò của văn hóa:
1. Văn hóa là mục tiêu phát triển KT-XH;
2. Văn hóa là nền tảng sự phát triển kinh tế- xã hội;
3. Văn hóa là động lực cho sự phát triển KT-XH;
4. Văn hóa là hệ điều tiết sự PT KT-XH;
Trong sự phát trien của xã hội, kinh tế và văn hoá luôn luôn có mối quan hệ hữu cơ
và tác động qua lại chặt chẽ. Tuy nhiên, tới các thập kỷ gần đây, vấn đề phát triển kinh tế
phải dựa trên nền tảng của phát triển văn hoá mới được đặt ra, được khẳng định là một quy
luật tất yếu khách quan của phát triển. Vì thế, sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc chỉ
có thế trở nên năng động, hiệu quả, bền vững chừng nào quốc gia đó đạt được sự kết hợp
hài hoà giữa kinh tế với văn hoá trong tiến trình phát triển.
Ngày nay, không ai có thế phủ nhận vai trò quan trọng của văn hoá với tư cách là
nhân tố trực tiếp tham gia vào quá trình phát trien kinh tế. Lịch sử phát trien của loài người

của mỗi dân tộc, là nói tới đặc trưng riêng, tới hệ thống giá trị văn hoá riêng của dân tộc
đó. Đây là di sản quý báu, đã được tích luỹ, trao truyền và bổ sung qua nhiều thế hệ, và
chính các đặc điểm riêng trong sự sinh tồn của dân tộc đã làm cho văn hoá mang bản sắc
riêng. Đồng thời với quá trình tích luỹ, trao truyền và bổ sung ấy, văn hoá của dân tộc còn
tiếp nhận một số tinh hoa văn hoá của các dân tộc khác thông qua quá trình tiếp biến văn
hoá, và động thái này đã làm cho văn hoá vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa có tính thời đại,
tính nhân loại, phù hợp với sự phát triển kinh tế. Điều đó có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ, trước xu thế toàn cầu hoá ngày càng
mạnh mẽ. Do vậy, sự phát triển đòi hỏi phải nâng cao vai trò, vị thế của văn hoá trong hoạt
động kinh tế, văn hoá khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo của con người, quyết định sự tăng
trưởng và phát triển bền vững. Và cũng do vậy, trong xã hội hiện đại, con người phải được
xã hội tạo điều kiện và phải tự mình xây dựng yếu tố nền tảng của văn hoá là sự hiểu biết,
là tri thức, kinh nghiệm, là phong cách ứng xử, là nhận thức về cống hiến và hưởng thụ ,
trong quá trình học tập, lao động để duy trì, phát triển cuộc sống. Các yếu tố này, nếu được
khai thác, phát huy sẽ trở thành một động lực to lớn đối với sự phát triển kinh tế.
Cùng với quan điểm khách quan, khoa học trong việc tiếp thu tinh hoa tốt đẹp của
văn hoá nhân loại, Đảng ta khẳng định, bản sắc văn hoá, tinh thần dân tộc là nguồn tài
nguyên của dân tộc, của đất nước. Có thể nói rằng, trong lịch sử hàng chục thế kỷ xây
dựng, bảo vệ Tố quốc của dân tộc ta, nguồn lực quan trọng nhất trong truyền thống văn
hoá là tinh thần yêu nước, chủ nghĩa yêu nước. Từ khi ra đời, Đảng ta đã động viên, bồi
dưỡng và cổ vũ toàn dân phát huy cao độ tinh thần yêu nước để giành lại, giữ vũng độc lập
dân tộc và xây dựng chủ nghTa xã hội. Thực tế cho thấy, những thành tựu to lớn mà toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đạt được trong hơn nửa thế kỷ qua có vai trò của bản lĩnh,
của bản sắc văn hoá Việt Nam, của sức mạnh của văn hoá Việt Nam.
Chúng ta đang trong quá trình hội nhập thế giới, và toàn cầu hoá là cơ hội để văn
hoá Việt Nam học hỏi và phát huy các giá trị của mình. Song chính lúc này, chúng ta phải
đối mặt với các thách thức của quá trình toàn cầu hoá khi nó trực tiếp tác động tới văn hoá
dân tộc. Cụ thể là, tác động của một số yếu tố tiêu cực tù' toàn cầu hoá có khả năng cổ suý
cho lối sống tiêu thụ thực dụng, làm tha hoá nhân cách, rối loạn một số giá trị xã hội, đặt
không ít hoạt động văn hoá và không ít quan hệ xã hội trước nguy cơ bị thương mại hoá

Trong vài thập kỷ trước đây, có một số nước cho rằng: chỉ cần tăng trưởng kinh tế
với việc sử dụng cơ chế kinh tế thị trường cùng với việc phát triển sử dụng khoa học công
nghệ cao là có sự phát triển. Sau một thời gian thực hiện kết quả cho thấy, các quốc gia đó
đạt được một số mục tiêu về tăng trưởng kinh tế nhưng đã vấp phải sự xung đột gay gắt
trong xã hội, sự suy thoái về đạo đức, văn hóa ngày càng tăng. Từ đó, kéo theo kinh tế phát
triển chậm lại, mất ổn định xã hội tăng lên và cuối cùng là sự phá sản của các kế hoạch
phát triến kinh tế, đất nước rơi vào tình trạng suy thoái, không phát triến được. Đây là
quan niệm phát triến nhanh bằng cách hi sinh các giá trị văn hóa - xã hội cho sự phát triển.
Trên thực tế đã bị phá sản.
Từ thực tế đó, một số nước đã lựa chọn mô hình: tăng trưởng kinh tế, cùng với việc
phát triển tài nguyên con người, bảo vệ môi trường sinh thái. Mô hình này, tuy tăng trưởng
kinh tế không nhanh, nhưng lại bền vững, xã hội ổn định. Đây là quan niệm phát triển kinh
tế gắn liền với phát triển văn hóa, được các nhà khoa học, các chính khách thừa nhận. Từ
đó, cho rằng: Phát triển là một quá trình nội sinh và tự' hướng tâm của sự tiến hóa toàn cục
đặc thù cho mồi xã hội. Vì vậy, cho nên ở đây có sự tương đồng về nghĩa và khả năng
chuyến hóa lẫn nhau giữa phát triến và văn hóa. Văn hóa bao trùm tất cả các phương diện
của hoạt động xã hội.
Vậy văn hóa là gì? Hiện nay vẫn đang còn có nhiều định nghĩa về văn hóa, bởi lẽ
văn hóa là sản phẩm do lao động của con người tạo ra mà hoạt động lao động của con
người rất đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ đó đi đến việc tạo ra những quan
niệm cụ thể khác nhau: văn hóa du lịch; văn hóa kinh doanh, văn hóa ẩm thực Ở đây
trong bài viết này trình bày khái niệm văn hóa theo nghTa rộng được nhiều nhà nghiên cứu
tán thành. Đó là: Văn hóa là hệ thong giá trị vật chất và tinh thân do /ao động của người
sáng tạo ra, được cộng đông khăng định tích lũy lại, tạo ra han sắc riềng của từng tộc
người, từng xã hội. Trong Nghị quyết Trung ương 5 ( Khóa VIII), Đảng ta khẳng định:
Văn hóa Việt Nam là tống thế những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc
Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước , là kết quả giao lưu và tiếp
thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới đế không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa
Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ
vang của dân tộc.

đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người hay không? Tiềm năng
sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa, nghTa là trong ý chí tự lực, tự cường
và khả năng hiếu biết, trong tâm hồn, đạo lý, lối sống, trình độ thấm mỹ của mỗi cá nhân
và của cả cộng đồng.
Một chính sách phát triển đúng đắn là chính sách làm cho các yếu tố cấu thành văn
hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người: văn hóa trong sản xuất, văn
hóa trong quản lý, văn hóa trong lối sống, văn hóa trong giao tiếp, văn hóa trong sinh hoạt
gia đình, ngoài xã hội, văn hóa trong giao lưu và hợp tác quốc tế Nói cách khác, hàm
lượng trí tuệ, hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống con người càng cao bao
nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội càng trở nên hiện thực bấy nhiêu.
MR AN.NOOD/3B
4. Văn hóa là hệ điều tiết của sự phát triển. Bởi lẽ, văn hóa phát huy mặt tích cực,
hạn chế mặt tiêu cực của các nhân tố khách quan và chủ quan, của các điều kiện bên trong
và bên ngoài, bảo đảm cho sự phát triển được hài hòa, cân đối, lâu bền.
Trong nền kinh tế thị trường, một mặt văn hóa dựa vào chuẩn mực của nó là chân,
thiện, mỹ (cái đúng, cái tốt, cái đẹp) để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không
ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề, sản xuất hàng hóa với số
lượng ngày càng nhiều với chất lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng
lên của xã hội; mặt khác, văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống, của đạo
lý, dân tộc đế hạn chế xu hướng sùng bái hàng hóa, sùng bái tiền tệ, nghĩa là hạn chế xu
hướng tiêu cực của hàng hóa và đồng tiền “xuất hiện với tính cách là lực lượng có khả
năng xuyên tạc bản chất con người, cũng như những mối liên hệ khác”. Hạn chế những
tiêu cực này chỉ có thế là văn hóa và chủ yếu bằng văn hóa.
Toàn cầu hóa kinh tế quốc tế là một xu thế, đòi hỏi chúng ta phải chủ động và tích
cực hội nhâp. Đây là cơ hội để chúng ta phát triển nhanh có hiệu quả, nhưng cũng là thách
thức rất lớn với nước ta trên nhiều mặt, trong đó có cả văn hóa. Sự thâm nhập của văn hóa
độc hại, của sự lai căng văn hóa, của lối sống thực dụng và những tiêu cực khác của kinh
tế thị trường , đã và đang ảnh hưởng, làm băng hoại những giá trị văn hóa truyền thống,
ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của đất nước
Cần phải hiểu rằng về mặt kinh tế, việc thực hiện chính sách hội nhập để tăng

* Tham khảo thêm :
Vai trò, vị trí của văn hoá trong phát triến kinh tế - xã hội
Phát triển văn hoá trong thời đại ngày nay để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội cần được nhìn nhận theo một quan điểm mới. Văn hoá đang đóng một vai trò quan
trọng chưa từng có trong lịch sử. Sự tiến bộ hay lạc hậu của một cá nhân, phát triển hay trì
trệ của dân tộc, thành công hay thất bại của chiến lược phát triển và sự hưng thịnh của
quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào vấn đề văn hoá đã được nhận thức và sử dụng như thế
nào trong phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước phát triển phương Tây, bắt
đầu nhận thức lại vai trò và vị trí của văn hoá trong sự phát triển chung của xã hội. Lịch sử
phát triển của phương thức công nghiệp hoá cổ điển đã làm nhiều nước phải quan tâm:
phương thức này đã dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng giữa kinh tế và văn hoá, giữa
con người với môi trường tự' nhiên. Trong giai đoạn này xuất hiện một sự phát triển mất
cân đối: hi sinh các giá trị tinh thần và văn hoá để phát triển các giá trị vật chất. Đặc biệt
xuất hiện những hậu quả, thảm hoạ do nền văn minh công nghiệp tạo ra như khủng hoảng
môi trường sinh thái, lãng phí cạn kiệt tài nguyên, bất bình đẳng xã hội và khoảng cách
giàu nghèo giữa các nước tăng lên đang đè nặng lên nhân loại. Những sản phẩm, thành
tựu của khoa học kT thuật hiện đại lại thù địch với con người; sản sinh ra chủ nghTa kinh
tế thuần tuý, chủ nghĩa kĩ trị, những học thuyết phi nhân hoá, đồ vật hoá con người. Một
hiện tượng đang thu hút sự quan tâm của thế giới là sự vươn lên của những nước công
nghiệp mới (NIC) được gọi là các "con rồng châu Á". Nhiều nhà kinh tế phương Tây cho
rằng được như vậy là nhờ các nước này đã kết họp thành công những thành lựu của khoa
học công nghệ phương Tây với truyền thống văn hoá của dân tộc mình để tạo ra sự cân đối
giữa vàn hoá, xã hội và kinh tế.
Vì thế, tù' kinh nghiệm của các dân tộc, các nước phát triển cho thấy chúng ta phải
xây dựng lại lí thuyết phát triến, thừa nhận “tính nhiều cạnh của sự phát triển” mà chiều
cạnh văn hoá là không thế xem nhẹ. Trong đó vấn đề “văn hoá và phát triển” thực chất là
nhìn nhận lại quan hệ biện chứng giữa kinh tế và văn hoá theo quan điếm phát triển hiện
đại: Hơn ba thập niên qua, trên 90% số nước trên thế giới sau khi giành được độc lập đã
thất bại trong chính sách mở cửa đế phát triển kinh tế, nguyên nhân là không giải quyết

bản sắc dân tộc, hiện nay và tuơng lai?
A, Nôi dung quàn lý nhà nước về văn hóa :
a. Xây dựng và ban hành hệ thông pháp luật vê văn hóa
Đây là nội dung quản lí quan trọng nhất, tốt nhất. Luật pháp phải thực sự là công cụ
quản lí nhà nước về văn hoá và công tác tư tưởng. Đe thực hiện quản lí nhà nước bằng
pháp luật thì nhà nước phải ban hành hệ thống các văn bản pháp luật đối với các loại hoạt
động và không ngừng hoàn thiện, bổ xung các văn bản pháp luật phù hợp với xu thế phát
triển đế phát huy tác dụng của văn hoá tới sự nghiệp xây dựng con người mới, tới sự hình
thành nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Trong Hiến pháp 1992 có
dành chương III với một số điều khoản đối với sự phát triển và vận hành các hoạt động văn
hoá. Tuy nhiên trong thời gian tới cán hoàn thiện các văn bản pháp luật:
+ Luật về tổ chức, bộ máy quản lí văn hoá như các Hội đồng, Uỷ ban, các Bộ, hoặc tùng
lTnh vực hoạt động văn hoá.
+ Luật về bảo hộ quyền tác giả, bảo vệ quyền lợi, bản sắc văn hoá dân tộc.
+ Luật về bảo vệ các di sản văn hoá.
+ Luật về tố chức quản lí các hoạt động văn hoá, văn nghệ
Việc quản lí nhà nước về văn hoá theo đúng luật sẽ góp phần tích cực vào việc lập lại trật
tự kỉ cương trong tình hình văn hoá - xã hội đang có nhiều lộn xộn, cần được khẩn trương
giải quyết.
b. Xây dựng và hoạch định các chỉnh sách phát trỉên văn hóa.
Các chính sách văn hoá nói riêng, chính sách xã hội nói chung chỉ có ý nghĩa trong điều
kiện kinh tế thị trường nhằm điều chỉnh những bất bình đẳng trong vãn hoá do thị trường
tạo ra, khích lệ, hỗ trợ cho xu hướng văn hoá có nhiều triển vọng, vì chúng tiêu biểu cho
MR AN.NOOD/3B 21
sức mạnh dân tộc, cho định hướng nhu cầu văn hoá của xã hội.
Chính sách văn hoá là tổng thể các nguyên tắc hoạt động, các cách làm thiết thực,
các phương pháp quản lí hành chính và phương pháp ngân sách của nhà nước dùng làm cơ
sở cho các hoạt động văn hoá.
Chính sách văn hoá được hình thành như một chỉnh thể trong một quá trình tác
động lẫn nhau của ba nhóm cộng đồng không thể đơn phương của một, hai nhóm:

- Nhà nước cần thực hiện cấp bách hiện nay là tổ chức tăng cường về đào tạo đội
ngũ cán bộ, đối mới phương thức hoạt động của các cơ quan quản lí nhà nước trong lĩnh
vực này như một biện pháp quan trọng để đổi mới, nâng cao trình độ quản lí trước yêu cẩu
phát triển của sự nghiệp văn hoá. Những hẫng hụt về trình độ của cán bộ quản lí văn hoá
hiện nay là khá xa, lại chưa có sự chuẩn bị cần thiết về kiến thức quản lí nên trong hoạt
động quản lí không trách khỏi khuynh hướng giản đơn máy móc, áp đặt Lí luận và thực
tiễn quản lí đòi hỏi sự cần thiết phải kết hợp tính ổn định và sự đối mới cán bộ quản lí ở tất
cả các cấp.
g. Tăng cường kiêm tra, kiêm soát và thanh tra.
Tăng cường kiểm tra, kiểm soát của nhà nước trong lTnh vục văn hóa là nhiệm vụ
MR AN.NOOD/3B 22
quan trọng của quản lí nhà nước. Đặc biệt là hoạt động của các cơ quan kiểm duyệt, thanh
tra, do văn hoá có mối quan hệ trực tiếp với chính tả, tác động trực tiếp tới sự hình thành
và phát triên nhân cách do xu hướng xã hội hoá văn hoá ngày một mở rộng. Quản lí nhà
nước về văn hoá trong bối cách kinh tế - xã hội hiện nay đòi hỏi sử dụng đồng bộ các
phương pháp kinh tế, giáo dục, hành chính thích hợp.
B, Liên hê thuc hiên nghỉ quyết ciía Đàng về xây dưng phát triển văn hỏa Viêt Nam,
tiên tiến đâm đà bán sắc dân tôc, hiên nay và tưong lai:
Những định hướng lớn về văn hóa trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng XI là sự
tiếp nối các quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa.
Tháng 7 năm 1998, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 (khoá VTTT) ra Nghị
quyết về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Toàn bộ tinh
thần của Nghị quyết đã làm sáng lên bức tranh của nền văn hoá đất nước trong tương lai.
Đó là nền văn hoá với vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực thúc
đấy kinh tế - xã hội phát triến, gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-
HĐH) đất nước, gắn với những vấn đề nảy sinh trong xu thế toàn cầu hoá và nền kinh tế
thị trường, cần khẳng định rằng, đó còn là một tầm nhìn rộng và xa của Đảng về sự phát
triến bền vững của đất nước, ít nhất là trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Đen Đại hội IX, những tư tưởng chủ yếu của Đảng về phát triển văn hoá tiếp tục
được thể hiện trên cơ sở thực tiễn thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VTTT); nhấn

bảo tự do, dân chủ cho những hoạt động sáng tạo văn hoá, văn học, nghệ thuật. Đi đôi với
phát huy trách nhiệm công dân của văn nghệ sỹ. Đôi mới nội dung, phương thức hoạt
động, cơ cấu tổ chức của các hội văn học- nghệ thuật từ trung ương đến địa phương.
Đại hội XI, nhiệm vụ chăm lo phát triển văn hóa được đúc kết cô đọng hơn, cụ thể
hơn, tập trung vào 4 nội dung quan trọng:
Một là: Củng cô và tiêp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa
dạng; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội ;
triển khai cuộc vận động xây dựng gia đình Việt Nam góp phần giữ gìn và phát triển
những giá trị truyền thống của văn hóa, còn người Việt Nam, nuôi dưỡng giáo dục thế hệ
trẻ.
Hai là: Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sản
văn hóa truyền thống, cách mạng. Theo đó, tiếp tục phát triển nền văn học, nghệ thuật Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, vưon lên hiện đại,
phản ánh chân thật, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước; cổ vũ,
khẳng định cái đúng, cái đẹp, đồng thời lên án cái xấu, cái ác. Hoàn thiện và thực hiện
nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hũoi trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các di
sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc. Xây dựng và thực hiện các chính sách, chế
độ đào tạo, bồi dưỡng, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện đế đội ngũ những
người hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phấm có giá trị cao về tư
tưởng và nghệ thuật.
Ba là: Chú trọng phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục, tô chức và phản
biện xã hội của các phưong tiện thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước.
Tập trung đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ hoạt động báo chí, xuất bản vững vàng về
chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ và có năng lực đáp ứng tốt yêu cầu của thời kỳ mới.
Bốn là: Đối mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật,
đất nước, con người Việt Nam với thế giới. Xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam
ỏ' nước ngoài và trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài. Tiếp thu
những kinh nghiệm tốt về phát triển văn hóa của các nước, giới thiệu các tác phẩm văn
học, nghệ thuật đặc sắc của nước ngoài với công chúng Việt Nam. Ngăn chặn, đây lùi, vô
hiệu hóa sự xâm nhập và tác hại của các sản phâm đôi trụy, phản động từ nước ngoài vào

nước, con người Việt Nam với thế giới thực chất cũng là nhằm xây dựng môi trường văn
hóa lành mạnh, đa dạng, phong phú. Vì văn hóa Việt nam muốn phát triển không thể
không có lộ trình, kế hoạch cụ thể để quảng bá ra nước ngoài; muốn quảng bá phải có thiết
chế, phải có đầu tư về con người và cơ sở vật chất cho nhiệm vụ này (một vài trung tâm
văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài như hiện nay là không thể hoàn thành được). Đồng
thời chọn lọc, giới thiệu những giá trị văn hóa của bè bạn thế giới vào nước ta cũng là công
việc cần được quan tâm đế làm đẹp thêm bức tranh văn hóa nước nhà.
Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng theo quan điểm của
Đảng nêu trên, là sự kiên định (kế thừa, bổ sung, phát triển) quan điểm xây dựng và phát
triển văn hóa của Đảng trong hơn nửa thể kỷ qua, đưa quan điểm đó trở thành hiện thực
trong đời sống văn hóa của dân tộc sẽ tạo ra sức đề kháng khỏe mạnh trong cơ thể văn hóa
Việt Nam.
Câu 7 : Phân tích yêu cầu về nguồn nhân lực? Liên hệ yêu cầu nguồn nhân lực
Việt Nam hiện nay?
a) Yêu cầu về nguồn nhân lực:
+ Gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH.
+ Có đạo đức trong sáng
+ Có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH
đất nước.
+ Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc.
+ Phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam.
+ Có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân.
+ Có năng lực tiếp thu tinh hoa, văn hóa nhân loại.
+ Làm chủ tri thức khoa học công nghệ hiện đại.
+ Có tư duy sáng tạo
+ Có kỹ năng thực hành giỏi.
+ Có tác phong công nghiệp
+ Có tính tổ chức, kỷ luật.
+ Có sức khỏe.
• Liên hệ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status