QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ XÃ HỘI - Pdf 12

MR AN.NOOD/3B
1 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ-
XÃ HỘI


đậm đà bản sắc dân tộc, hiện nay và tương lai? 22
Câu 7: Phân tích yêu cầu về nguồn nhân lực? Liên hệ với yêu cầu nguồn nhân
lực Việt Nam hiện nay? 27
Câu 8: Phân tích đặc điểm nguồn lao động Việt Nam hiện nay? Liên hệ với yêu
cầu thị trường lao động, nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay được xác định phát
triển như thế nào? 30
Câu 9: Nêu các quan điểm phát triển nguồn nhân lực Việt Nam? Nội dung quản
lý nhà nước về lao động và nguồn nhân lực? 31 MR AN.NOOD/3B
3
Câu 1: Khái niệm kinh tế thị trường? Các đặc trưng của nền kinh tế thị
trường?
 Khái niệm KTTT:
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác
động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng
hoá, dịch vụ trên thị trường.
- Kinh tế thị trường là nền kinh tế lấy khu vực kinh tế tư nhân làm chủ đạo.
Những quyết định kinh tế được thực hiện một cách phi tập trung bởi các cá nhân
người tiêu dùng và công ty. Việc định giá hàng hóa và phân bổ các nguồn lực của nền
kinh tế được cơ bản tiến hành theo quy luật cung - cầu. Trái với kinh tế thị trường là
kinh tế kế hoạch hóa tập trung.
*) Các đặc trưng của nền kinh tế thị trường:
Có 9 đặc trưng cơ bản là:
 Quá trình lưu thông những sản phẩm vật chất và phi vật chất từ sản xuất đến
tiêu dùng phải được thực hiện bằng phương thức mua – bán.
 Người trao đổi hàng hóa phải có quyền tự do nhất định khi tham gia trao đổi
trên thị trường ở 3 mặt sau đây:
+ Tự do lựa chọn nội dung trao đổi

hoá, dịch vụ trên thị trường.
- Kinh tế thị trường là nền kinh tế lấy khu vực kinh tế tư nhân làm chủ đạo.
Những quyết định kinh tế được thực hiện một cách phi tập trung bởi các cá nhân
người tiêu dùng và công ty. Việc định giá hàng hóa và phân bổ các nguồn lực của nền
kinh tế được cơ bản tiến hành theo quy luật cung - cầu. Trái với kinh tế thị trường là
kinh tế kế hoạch hóa tập trung.
B, Phân tích cụ thể các đặc trưng của nền kinh tế thị trường:

 Một là, quá trình lưu thông những sản phẩm vật chất, và phi vật chất từ
sản xuất đến tiêu dùng phải được thực hiện chủ yếu bằng phương thức mua - bán.
Bởi vì, có sự luân chuyển vật chất trong nền kinh tế là do có sự phân công
chuyên môn hóa trong việc sản xuất sản phẩm xã hội ngày càng cao, cho nên sản
phẩm trước khi trở thành hữu ích trong đời sống xã hội cần được gia công qua nhiều
khâu chuyển tiếp nhau. Bên cạnh đó, có những người, những doanh nghiệp, những
ngành, những vùng sản xuất dư thừa sản phẩm mà mình sản xuất nhưng lại thiếu
những sản phẩm khác, do đó giữa các chủ thể cần có sự trao đổi cho nhau.
Một nền kinh tế được gọi là nền kinh tế thị trường khi tổng lượng mua - bán
vượt quá nửa tổng lượng vật chất của xã hội .
Tuy nhiên, hiện nay phương thức đó gần như đã được thay thế bằng phương
thức mua – bán, việc trao đổi hàng đổi hàng hoặc việc phân phối hàng hóa của nhà
Nước không còn là phương thức chính nữa. Bởi lẽ, sự phân công chuyên môn hóa
trong việc sản xuất sản phẩm xã hội ngày càng cao, mỗi đơn vị chỉ sản xuất một hoặc
một số mặt hàng. Cá nhân hoặc đơn vị có nhu cầu về một mặt hàng nào đó, sẽ tiến
hành mua – bán với một cá nhân hoặc đơn vị khác và sẽ bán mặt hàng mà mình sản
xuất.

Thị trường mua – bán hiện nay ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng, đủ mọi
mặt hàng thuộc tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống trong cuộc sống từ đơn giản đến
tinh xảo, mẫu mã và giá cả phù hợp với người tiêu dùng.
VD: Ở nước ta không trực tiếp sản xuất được dầu tinh mà thay vào đó nước ta

và lợi ích người tiêu dùng. ( Ví dụ như hiện tượng mua thần bán thánh, việc cấp phép
cho doanh nghiệp nhập rùa tai đỏ - một trong 100 loài xâm hại nguy hiểm nhất thế
giới vào nước ta, vụ việc nhập đồ chơi nguy hại cho trẻ em và sữa nhiễm melamine từ
Trung Quốc…).
2, Đối với việc tự do lựa chọn đối tác trao đổi và tự do thỏa thuận giá cả, hiện
nay đối với một số mặt hàng chủ thể trao đổi không thể thực hiện được quyền này của
mình, đó là những mặt hàng như điện, xăng dầu…thuộc độc quyền của Nhà Nước.
 Ba là, hoạt động mua bán được thực hiện thường xuyên, ổn định, trên
cơ sở một kết cấu hạ tầng tối thiểu, đủ để việc mua - bán diễn ra thuận lợi, an toàn.
Đây là đặc điểm của riêng nền kinh tế thị trường mà những nền kinh tế khác
không có được. Như vậy là đã có sự quan tâm tới điều kiện trao đổi trên thị trường,
nó chứng tỏ kinh tế đã thoát khỏi tình trạng trao đổi đơn thuần những sản phẩm dư
thừa nhằm thỏa mãn nhu cầu hàng ngày mà vấn đề lợi ích và lợi nhuận đã được quan
tâm.
 Liên hệ :
Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, nguồn đầu tư cho kinh
tế để hoạt động mua bán được thực hiện thường xuyên, ổn định, trên cơ sở một kết
cấu hạ tầng tối thiểu, đủ để việc mua bán diễn ra thuận lợi, an toàn là tất yếu. Trong
đó có thể kể tới:
 Hệ thống chợ, siêu thị, đại lý…phân bố khắp cả nước.
 Hệ thống giao thông không ngừng được hoàn thiện, nâng cấp.
 Tiềm năng điện quốc gia khá dồi dào.
VD: siêu thị fivimart – một trong những hệ siêu thị lớn nhất tại Việt Nam, siêu
thị này đáp ứng đầy đủ nhu cầu thiết yếu của người dân trên địa bàn.
Song song với những thuận lợi trên, ta cũng phải kể đến những hạn chế về cơ
sở hạ tầng của nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay:
 Nhiều nơi vẫn tồn tại chợ cóc, chợ tạm gây cản trở giao thông.
 Nhiều dự án xây dựng chưa được hoàn thành, gây thiệt hại kinh phí lớn.
MR AN.NOOD/3B
6



Năm là, cạnh tranh là linh hồn của nền kinh tế thị trường, là động lực
thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế và xã hội, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa và
dịch vụ có lợi cho người tiêu dùng.
Tuy nhiên, việc cạnh tranh phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật nà
sự quản lý của Nhà nước.
 Liên hệ:
 Ở nước ta hiện nay, sự cạnh tranh xuất hiện trong mọi lĩnh vực, trong đó
nổi bật nhất là trong lĩnh vực kinh tế.
VD: Ta có thể thấy rõ trong một ví dụ cụ thể: trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ
viễn thông ở Việt Nam, giữa các nhà mạng có sự chạy đua cạnh tranh, kết quả là các
cột phát sóng được lắp đặt nhiều hơn trên toàn quốc, chất lượng dịch vụ tăng lên,
việc du nhập và phát triển mạng 3G, công cuộc quảng bá được đẩy mạnh tới gần hơn
với mọi người, các chương trình khuyến mãi, ưu đãi tri ân khách hàng được tiến hành
thường xuyên…đem lại lợi ích lớn hơn cho người tiêu dùng.
MR AN.NOOD/3B
7
Các quy luật khách quan của thị trường có thể kể tới như quy luật cạnh tranh,
quy luật cung cầu, quy luật giá trị… những quy luật điều tiết thị trường thông qua
việc dẫn dắt hành vi, thái độ ứng xử của các chủ thể tham gia thị trường.
Các quy luật khách quan của thị trường có thể kể tới như quy luật cạnh tranh,
quy luật cung cầu, quy luật giá trị… những quy luật điều tiết thị trường thông qua
việc dẫn dắt hành vi, thái độ ứng xử của các chủ thể tham gia thị trường.
VD: Trong thời gian gần đây, giá vàng liên tục tăng do nhu cầu trong nước
chưa đáp ứng, cầu vượt cung, giá vàng tăng từng giờ (hiện tại xấp xỉ ngưỡng 3,8 triệu
đồng/chỉ vàng), thêm vào đó do tâm lý người dân đổ xô đi mua vàng khiến thị trường
vàng trong nước sôi động hơn bao giờ hết. Trước tình hình đó Nhà nước đã cho phép
các doanh nghiệp tiếp tục nhập khẩu vàng nhằm làm giảm cơn sốt vàng trong nước.
 Đơn cử theo quy luật cung cầu trong nền kinh tế thị trường, khi cung vượt

cần thiết nhằm tạo động lực cho đất nước phát triển.
Tình hình kinh tế-xã hội năm 2010 phát triển theo chiều hướng tích cực, nền
kinh tế phục hồi khá nhanh trong điều kiện kinh tế thế giới vẫn còn nhiều diễn biến
phức tạp; an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện;
chính trị, xã hội tiếp tục ổn định.
MR AN.NOOD/3B
8
xã hội năm 2010 là nỗ lực phấn đấu phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao
hơn năm 2009; tăng cường tính ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng tăng
trưởng; ngăn chặn lạm phát cao trở lại; tăng khả năng đảm bảo an sinh xã hội; chủ
động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính
trị và trật tự an toàn xã hội; bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; phấn đấu hoàn
thành cao nhất các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm 2006-2010 ).
Đồng thời, FED (Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ ) đã quyết định cắt giảm
thêm 0,5% lãi suất các khoản cho vay ngắn hạn từ 3,5% xuống còn 3% giữa các ngân
hàng thương mại. Đây là quyết định cắt giảm lãi suất thứ hai liên tiếp của FED chỉ
trong vòng 8 ngày để giúp nền kinh tế Mỹ tránh rơi vào suy thoái.
 Liên hệ:
Với những công cụ quản lý vĩ mô như hiến pháp, luật, chính sách từng giai
đoạn, từng năm…Nhà nước thực hiện sự quản lý của mình trên mọi kĩnh vực thuộc
kinh tế và bên cạnh những hạn chế thì đã đạt được những thành tựu to lớn. cụ thể nhà
nước đã ban hành các luật như luật thương mại, luật môi trường, luật doanh nghiệp,
luật lao động…
Ví dụ, năm 2009, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng tâm hiệp lực của cả hệ
thống chính trị và của các tầng lớp nhân dân, đất nước ta đã vượt qua khó khăn, thách
thức gay gắt trong bối cảnh suy thoái, khủng hoảng kinh tế trầm trọng trên phạm vi
toàn cầu.
Trong đó, gói kích cầu của Chính phủ đã góp phần thực hiện được mục tiêu
ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô; các cân đối thu chi ngân sách Nhà
nước, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế… được đảm bảo; lạm phát được kiềm chế ở

nước phát triển. C, so sánh nền KTKHHTT và nền KTTT
KTKHHTT KTTT
GIỐNG NHAU
- Là những nền kinh tế cơ bản của nền kinh tế nói chung.
- Đều có những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế như: được
thực hiện bằng phương thức mua-bán, có đối tác hoạt
động,…
- Vận động theo những quy luật nhất định của nền kinh tế
KHÁC
NHAU

Thời gian Diễn ra trước nền KTTT Diễn ra sau nền KTKHHTT
Thành phần
sở hữu về tư
liệu sản xuất

Chỉ có 2 thành phần: sở hữu
nhà nước và sở hữu tập thể
đươc thể hiện dưới dạng xí
nghiệp quốc doanh và hợp tác

Có nhiều thành phần sở hữu
TLSX: sở hữu nhà nước, sở
hữu tập thể, sở hữu cá thể, sở

Liên hệ:
Trong khi kinh tế thị trường ngày càng phát triển, vượt ra khỏi biên giới quốc
gia thì việc hội nhập kinh tế là một tất yếu, không một quốc gia hay vùng lãnh thổ
nào lại có thể đứng ngoài quá trình này, trong đó có Việt Nam.
Trong những năm qua, với những chính sách phát triển kinh tế, Việt Nam đang
cố gắng hết mình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và đã đạt được những kết quả khả
quan như là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế khu vực và thế giới : ASEAN,
APEC, ASEM… và nổi bật hơn cả là sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành
viên của tổ chức kinh tế thế giới WTO ngày 1/1/2007.
MR AN.NOOD/3B 10
Câu 3: Phân tích nội dung QLNN về kinh tế? Liên hệ trong quản lý kinh tế hiện
nay?

A, Nội dung quản lý nhà nước về kinh tế

*) Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước ta:
- Khẳng định trước hết bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân
và vì nhân dân. Để quản lý kinh tế, Nhà nước đóng vai trò chủ thể quản lý, làm cho
nền kinh tế tăng trưởng, đi đôi với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, tạo điều kiện để
nhân dân sống và làm ăn theo pháp luật;
- Về mặt Nhà nước, thì Nhà nước là cơ quan thực thi quyền lực của nhân dân,
bảo vệ lợi ích của quốc gia, chủ sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu; vận hành nền
kinh tế bằng cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN;
Nền kinh tế thị trường ở nước ta còn sơ khai, cho nên vai trò của Nhà nước rất
nặng nề và quan trọng:
+ Nhà nước phải tạo điều kiện thúc đẩy thị trường ra đời phù hợp với xu hướng
thời đại, đồng thời phải điều tiết thị trường để nền kinh tế ổn định & phát triển.
+ Nhà nước phải kiên quyết đấu tranh khắc phục, hạn chế tối đa những khuynh
hướng: phân hóa giàu nghèo quá mức và tâm lý sùng bái đồng tiền, vì đồng tiền mà
chà đạp lên nhân phẩm, đạo đức… đồng thời hạn chế và khắc phục khuyết điểm, yếu

trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, ngay trong từng bước và
trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối tư
liệu sản xuất lẫn ở khâu kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có
cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình.

Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo; thu
hẹp khoảng cách và trình độ phát triển về mức sống giữa các vùng, các tầng lớp dân
cư, giải quyết việc làm cho người lao động.
Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn,
đáp nghĩa”, nhân hậu. vv…
-Thư tư, Nhà nước phải tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động trong nền
kinh tế trên lĩnh vực sử dụng tài nguyên, tài sản quốc gia, bảo vệ môi trường, trật tự
kỹ cương của nền kinh tế.

Nhà nước ta vận hành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo cơ chế thị
trường - hội nhập kinh tế quốc tế, mọi hoạt động diễn ra rất đa dạng, phức tạp, các
thành phần kinh tế vừa hỗ trợ hợp tác, vừa đấu tranh, mâu thuẩn lẫn nhau trong quan
hệ kinh tế thị trường thường xuyên xảy ra. Hoạt động sản xuất kinh doanh trên các
ngành nghề có thể làm ô nhiễm môi trường, có thể có tác hại đến nguồn tài nguyên
thiên nhiên, nạn gian lận thương mại… đều có thể xảy ra. Vì vậy Nhà nước không thể
buông lỏng sự quản lý của Nhà nước trên tất cả các hoạt động của nền kinh tế phát
triển theo định hướng chứ không thể để nó tự phát được.

*) Nhà nước cần hoàn thiện công cụ quản lý vĩ mô:

Nội dung quản lý vĩ mô của Nhà nước được thực hiện bằng việc sử dụng hệ
thống các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô. Do đó, quá trình đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế phải gắn với quá trình đổi mới và hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô quan
trọng:
- Xây dựng chiến lược, kế hoạch, chương trình kinh tế - xã hội để định hướng

quan đến nhiều mối quan hệ kinh tế, xã hội và đời sống của nhiều tầng lớp dân cư.
Đối với hoạt động quả lý của Nhà nước, thuế không chỉ giữ vai trò là nguồn thu chủ
yếu của Nhà nước để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ trên mọi lĩnh vực của Nhà
nước, mà còn giữ vai trò là công cụ quản lý vĩ mô.
Kiên quyết thực hiện đạt yêu cầu các luật thuế mới hiện hành, đơn giản hóa hệ
thống thuế và biểu thuế suất, nâng tính ổn định của thuế. Bổ sung thuế và phí sử dụng
tài nguyên không tái tạo. Xây dựng quy chế đảm bảo chi ngân sách tiết kiệm và có
hiệu quả, nâng dần tỷ lệ chi đầu tư và phát triển, kềm chế bội chi ngân sách.
Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, thuế là công cụ điều tiết
áp lực cạnh tranh, bảo hộ sản xuất trong nước, điều tiết quan hệ xuất nhập khẩu và
thực hiện chính sách kinh tế mở cửa.
- Chính sách giá cả (bao gồm giá cả hàng hóa và giá cả đồng tiền). Trong kinh
tế thị trường, là cơ sở để bố trí tài nguyên và kinh doanh sản xuất nó nẩy sinh thông
qua thị trường và phản ảnh nhanh nhạy cung – cầu của nền kinh tế. Sự giao động kinh
tế của nền kinh tế quốc dân, trước tiên biểu hiện ở sự giao động về giá cả, cho nên
quản lý giá cả bằng chính sách giá chính là một trong những nội dung chủ yếu về sự
can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường như: điều tiết quan hệ cung –
cầu, điều tiết hành vi, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, các ngành kinh tế, điều tiết
quan hệ cạnh tranh, môi trường kinh tế để chống đột biến xấu từ lạm phát, bảo hộ các
hoạt động sản xuất kinh doanh.

*) Ba nội dung cơ bản của chính sách giá cả là:

+ Nhà nước trực tiếp đối với một số ít sản phẩm cơ bản có tính chất chiến lược
phục vụ cho xã hội như: Than, dầu mỏ, điện, hàng không, bưu điện… Tuy nhiên,
từng bước thu hẹp tỷ trọng Nhà nước định giá và mở rộng tỷ trọng giá Nhà nước chỉ
đạo và giá thị trường điều tiết.
MR AN.NOOD/3B 13
+Nhà nước chỉ đạo mức giá, quản lý gián tiếp là hình thức quản lý giá thông qua
việc xác định khung mức giá trong giá cả hàng hóa. Hình thức này, đòi hỏi phải điều

nước về kinh tế là một yêu cầu cần thiết - khách quan, nhằm quản lý các thành phần
kinh tế và thị trường hoạt động theo định hướng XHCN, theo quan điểm: tăng trưởng
kinh tế phải gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

Bằng những công cụ của mình, Nhà nước ta thực hiện được các chức năng quản
lý Nhà nước về kinh tế, đưa nề kinh tế xã hội phát triển, thực hiện mục tiêu làm cho
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – vững bước tiến lên Chủ
nghĩa xã hội – con đường mà Đảng – Bác Hồ và Nhân dân ta hằng mong ước./.

MR AN.NOOD/3B 14
Câu 4: Khái niệm văn hóa? Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển KT-
XH?
 Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong
quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc
tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và
phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là
trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình
thức tổ chức đời sống và
hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con
người tạo ra.

 Vai trò của văn hóa:
1. Văn hóa là mục tiêu phát triển KT-XH;
2. Văn hóa là nền tảng sự phát triển kinh tế- xã hội;
3. Văn hóa là động lực cho sự phát triển KT-XH;
4. Văn hóa là hệ điều tiết sự PT KT-XH;
Trong sự phát triển của xã hội, kinh tế và văn hoá luôn luôn có mối quan hệ
hữu cơ và tác động qua lại chặt chẽ. Tuy nhiên, tới các thập kỷ gần đây, vấn đề phát
triển kinh tế phải dựa trên nền tảng của phát triển văn hoá mới được đặt ra, được

tạo của những dân tộc ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều.
Chúng ta xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, và điều Đảng ta khẳng định: văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là
mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội đã chỉ rõ vai trò cực
kỳ quan trọng của văn hoá đối với sự phát triển của đất nước. Vì vậy, cần nhận thức
sâu sắc về vị trí, vai trò của văn hoá trong sự nghiệp đổi mới.
Dù chứa đựng một số giá trị mang tính nhân loại phổ biến, thì khi nói đến văn
hoá của mỗi dân tộc, là nói tới đặc trưng riêng, tới hệ thống giá trị văn hoá riêng của
dân tộc đó. Đây là di sản quý báu, đã được tích luỹ, trao truyền và bổ sung qua nhiều
thế hệ, và chính các đặc điểm riêng trong sự sinh tồn của dân tộc đã làm cho văn hoá
mang bản sắc riêng. Đồng thời với quá trình tích luỹ, trao truyền và bổ sung ấy, văn
hoá của dân tộc còn tiếp nhận một số tinh hoa văn hoá của các dân tộc khác thông
qua quá trình tiếp biến văn hoá, và động thái này đã làm cho văn hoá vừa đậm đà bản
sắc dân tộc, vừa có tính thời đại, tính nhân loại, phù hợp với sự phát triển kinh tế.
Điều đó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong thời kỳ cách mạng khoa học và công
nghệ, trước xu thế toàn cầu hoá ngày càng mạnh mẽ. Do vậy, sự phát triển đòi hỏi
phải nâng cao vai trò, vị thế của văn hoá trong hoạt động kinh tế, văn hoá khơi dậy
mọi tiềm năng sáng tạo của con người, quyết định sự tăng trưởng và phát triển bền
vững. Và cũng do vậy, trong xã hội hiện đại, con người phải được xã hội tạo điều
kiện và phải tự mình xây dựng yếu tố nền tảng của văn hoá là sự hiểu biết, là tri thức,
kinh nghiệm, là phong cách ứng xử, là nhận thức về cống hiến và hưởng thụ , trong
quá trình học tập, lao động để duy trì, phát triển cuộc sống. Các yếu tố này, nếu được
khai thác, phát huy sẽ trở thành một động lực to lớn đối với sự phát triển kinh tế.
Cùng với quan điểm khách quan, khoa học trong việc tiếp thu tinh hoa tốt đẹp
của văn hoá nhân loại, Đảng ta khẳng định, bản sắc văn hoá, tinh thần dân tộc là
nguồn tài nguyên của dân tộc, của đất nước. Có thể nói rằng, trong lịch sử hàng chục
thế kỷ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta, nguồn lực quan trọng nhất trong
truyền thống văn hoá là tinh thần yêu nước, chủ nghĩa yêu nước. Từ khi ra đời, Đảng
ta đã động viên, bồi dưỡng và cổ vũ toàn dân phát huy cao độ tinh thần yêu nước để
giành lại, giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tế cho thấy,

Câu 5: Phân tích các vai trò của văn hóa đối với sự phát triển KT-XH?
Liên hệ vai trò của văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế nước ta hiện nay?
 Vai trò của văn hóa:
1. Văn hóa là mục tiêu phát triển KT-XH;
2. Văn hóa là nền tảng sự phát triển kinh tế- xã hội;
3. Văn hóa là động lực cho sự phát triển KT-XH;
4. Văn hóa là hệ điều tiết sự PT KT-XH;
Vai trò của văn hóa trong quá trình phát triển đất nước
- Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển bởi lẽ, văn hóa do con người sáng
tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người, là hoạt động sản xuất nhằm
cung cấp năng lượng tinh thần cho con người, làm cho con người ngày càng
hoàn thiện.
Trong vài thập kỷ trước đây, có một số nước cho rằng: chỉ cần tăng trưởng
kinh tế với việc sử dụng cơ chế kinh tế thị trường cùng với việc phát triển sử dụng
khoa học công nghệ cao là có sự phát triển. Sau một thời gian thực hiện kết quả cho
thấy, các quốc gia đó đạt được một số mục tiêu về tăng trưởng kinh tế nhưng đã vấp
phải sự xung đột gay gắt trong xã hội, sự suy thoái về đạo đức, văn hóa ngày càng
tăng. Từ đó, kéo theo kinh tế phát triển chậm lại, mất ổn định xã hội tăng lên và cuối
cùng là sự phá sản của các kế hoạch phát triển kinh tế, đất nước rơi vào tình trạng suy
thoái, không phát triển được. Đây là quan niệm phát triển nhanh bằng cách hi sinh
các giá trị văn hóa – xã hội cho sự phát triển. Trên thực tế đã bị phá sản.
Từ thực tế đó, một số nước đã lựa chọn mô hình: tăng trưởng kinh tế, cùng với
việc phát triển tài nguyên con người, bảo vệ môi trường sinh thái. Mô hình này, tuy
tăng trưởng kinh tế không nhanh, nhưng lại bền vững, xã hội ổn định. Đây là quan
niệm phát triển kinh tế gắn liền với phát triển văn hóa, được các nhà khoa học, các
chính khách thừa nhận. Từ đó, cho rằng: Phát triển là một quá trình nội sinh và tự
hướng tâm của sự tiến hóa toàn cục đặc thù cho mỗi xã hội. Vì vậy, cho nên ở đây có
sự tương đồng về nghĩa và khả năng chuyển hóa lẫn nhau giữa phát triển và văn hóa.
Văn hóa bao trùm tất cả các phương diện của hoạt động xã hội.
Vậy văn hóa là gì? Hiện nay vẫn đang còn có nhiều định nghĩa về văn hóa, bởi

nội dung quan trọng của Chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang xây dựng
Văn hóa là động lực của sự phát triển, bởi lẽ mọi sự phát triển đều do con
người quyết định chi phối. Văn hóa khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của
con người, huy động sức mạnh nội sinh to lớn trong con người đóng góp vào sự phát
triển xã hội.
Trước đây, để phát triển kinh tế, người ta thường nhấn mạnh và khai thác yếu
tố lao động của con người cho sự phát triển. Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại, yếu tố quyết định cho sự phát triển là trí tuệ, là
thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất và
tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của mỗi người cũng
như của toàn xã hội.
3.Văn hóa là động lực cho sự phát triển;
Trong thời đại ngày nay, một nước giàu hay nghèo không chỉ ở chỗ có nhiều
hay ít lao động, vốn, kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu ở chỗ có khả
năng phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người hay
không? Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa, nghĩa là
trong ý chí tự lực, tự cường và khả năng hiểu biết, trong tâm hồn, đạo lý, lối sống,
trình độ thẩm mỹ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng.
Một chính sách phát triển đúng đắn là chính sách làm cho các yếu tố cấu thành
văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người: văn hóa trong sản
xuất, văn hóa trong quản lý, văn hóa trong lối sống, văn hóa trong giao tiếp, văn hóa
trong sinh hoạt gia đình, ngoài xã hội, văn hóa trong giao lưu và hợp tác quốc tế…
Nói cách khác, hàm lượng trí tuệ, hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống
con người càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội càng trở nên
hiện thực bấy nhiêu.
MR AN.NOOD/3B 19
4. Văn hóa là hệ điều tiết của sự phát triển. Bởi lẽ, văn hóa phát huy mặt tích
cực, hạn chế mặt tiêu cực của các nhân tố khách quan và chủ quan, của các điều kiện
bên trong và bên ngoài, bảo đảm cho sự phát triển được hài hòa, cân đối, lâu bền.
Trong nền kinh tế thị trường, một mặt văn hóa dựa vào chuẩn mực của nó là

Vì sự phát triển bền vững, văn hóa phê phán lối sống thực dụng, chụp giật,
chạy theo ham muốn quá mức của “xã hội tiêu thụ”, dẫn đến chỗ làm cạn kiệt tài
nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái. Như vậy, văn hóa đã góp phần quan trọng vào
vấn đề bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững
Văn hóa truyền thống Việt Nam hướng dẫn và cổ vũ một lối sống hòa hợp, hài
hòa với thiên nhiên. Nó đưa ra mô hình ứng xử có văn hóa của con người đối với
thiên nhiên, vì sự phát triển bền vững của thế hệ hiện nay và các thế hệ con cháu mai
sau.
Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tha
hóa. Thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
MR AN.NOOD/3B 20
đất nước mà xa rời những giá trị văn hóa truyền thống sẽ làm mất đi bản sắc dân tộc,
đánh mất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của người khác, của dân tộc khác.
Nhận thức sâu sắc giá trị của văn hóa trong quá trình phát triển, Đảng ta xác
định tiến hành đồng bộ và gắn kết chặt chẽ ba lĩnh vực: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ
trọng tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt cùng với việc xây dựng
văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội nhằm tạo nên sự phát triển nhanh, hiệu quả và
bền vững của đất nước. Trong đó, nội dung xây dựng văn hóa được xác định: “Xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, một định hướng quan
trọng để đất nước phát triển bền vững.
* Tham khảo thêm :
Vai trò, vị trí của văn hoá trong phát triển kinh tế - xã hội
Phát triển văn hoá trong thời đại ngày nay để phục vụ chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội cần được nhìn nhận theo một quan điểm mới. Văn hoá đang đóng một
vai trò quan trọng chưa từng có trong lịch sử. Sự tiến bộ hay lạc hậu của một cá nhân,
phát triển hay trì trệ của dân tộc, thành công hay thất bại của chiến lược phát triển và
sự hưng thịnh của quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào vấn đề văn hoá đã được nhận
thức và sử dụng như thế nào trong phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước phát triển phương Tây,
bắt đầu nhận thức lại vai trò và vị trí của văn hoá trong sự phát triển chung của xã

quần chúng, biến thành sức mạnh vật chất đánh bại kẻ thù, giải phóng đất nước. Sau
Đại hội Đảng lần thứ VI. các nghị quyết và hệ thống chính sách về phát triển nền
kinh tế thị trường đã có tác động lớn trong việc giải phóng tiềm năng sáng tạo thúc
đẩy sản xuất phát triển. Mặt khác, phải giải quyết nhiệm vụ tăng cường khả năng
cạnh tranh kinh tế trên cơ sở bảo tồn và nâng cao các giá trị văn hoá để phát triển đất
nước. Văn hoá là yếu tố đồng hành chỉ dẫn chất lượng sống trong các quan hệ của
con người với thực tại.
Trong giai đoạn hiện nay văn hóa có các vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế
- xã hội:
- Văn hóa là nền tảng của sự phát triển.
- Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển.
- Văn hóa là động lực của sự phát triển.
- Văn hóa là sự điều tiết của sự phát triển.
Tóm lại, quan điểm hiện đại về sự phát triển đòi hỏi xem văn hoá như động lực quan
trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững
của đất nước. Thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng IX đã
đề ra, Đảng ta lại nhấn mạnh sự kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn
hóa, cùng với huy động mọi nguồn lực trong nước, nâng cao hiệu quả quốc tế để
công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển đúng hướng.

MR AN.NOOD/3B 22
Câu 6: Phân tích nội dung quản lý nhà nước về văn hóa? Liên hệ vào việc
thực hiện nghị quyết của Đảng về xây dựng phát triển văn hóa Việt Nam: tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc, hiện nay và tương lai?
A, Nội dung quản lý nhà nước về văn hóa :
a. Xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật về văn hóa
Đây là nội dung quản lí quan trọng nhất, tốt nhất. Luật pháp phải thực sự là
công cụ quản lí nhà nước về văn hoá và công tác tư tưởng. Để thực hiện quản lí nhà
nước bằng pháp luật thì nhà nước phải ban hành hệ thống các văn bản pháp luật đối
với các loại hoạt động và không ngừng hoàn thiện, bổ xung các văn bản pháp luật

đông, biết rõ các mục tiêu và điều chỉnh các hướng ưu tiên. Văn hoá phát triển hay trì
trệ là tuỳ thuộc vào sự tác động lẫn nhau của cả ba nhóm cộng đồng tuỳ thuộc vào
cách giải quyết những khác biệt giữa ba nhóm ấy.
c. Đầu tư tài Chính cho văn hoá:
Ở tất cả các nước trên thế giới, Chính phủ của các nước đều quan tâm thực hiện chế
độ cấp phát ngân sách nhà nước cho văn hoá. Lượng tài chính nhà nước cấp theo chu
MR AN.NOOD/3B 23
kì cấp thông thường năm sau tăng hơn năm trước theo mức tăng ngân sách. Tuy có sự
khác nhau giữa các nước: kiểu cách đầu tư cho văn hoá, đối tượng văn hoá được đầu
tư, cơ cấu và tỉ lệ đầu tư cho văn hoá.
Cơ cấu ngân sách nhà nước cho văn hoá thường gồm:
+ Phần ngân sách nhà nước chi cho GD-ĐT.
+ Phần ngân sách nhà nước chi cho nghệ thuật và những công việc văn hoá.
+ Phần ngân sách nhà nước chi cho thông tin, báo chí, phát thanh truyền hình.
+ Phần ngân sách nhà nước chi cho các lĩnh vực khác như tôn giáo, du lịch, thể dục,
thể thao.
Đầu tư cho hoạt động văn hoá với tư cách là một hoạt động sản xuất cần được lính
toán đến hiệu quả đầu tư. Cấp ngân sách cho văn hoá cần kèm theo những qui tắc như
bất kì hoạt động tài chính nào khác khi yêu cầu đặt ra là phải đạt tới mục tiêu quốc
gia mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
d. Củng cố hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý văn hóa từ trung ương đến địa
phương.
e. Tổ chức đào tạo bồi dưỡng để nâng cao trình độ cho đột ngũ cán bộ quản lý
văn hóa các cấp.
- Nhà nước cần thực hiện cấp bách hiện nay là tổ chức tăng cường về đào tạo
đội ngũ cán bộ, đổi mới phương thức hoạt động của các cơ quan quản lí nhà nước
trong lĩnh vực này như một biện pháp quan trọng để đổi mới, nâng cao trình độ quản
lí trước yêu cẩu phát triển của sự nghiệp văn hoá. Những hẫng hụt về trình độ của cán
bộ quản lí văn hoá hiện nay là khá xa, lại chưa có sự chuẩn bị cần thiết về kiến thức
quản lí nên trong hoạt động quản lí không trách khỏi khuynh hướng giản đơn máy

phát triển của dân tộc, khẳng định và làm rõ vị trí của văn hoá trong đời sống dân tộc,
trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tại hội nghị Trung ương 10 (khoá IX), Ban Chấp
hành Trung ương đã tổ chức kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5
(khoá VIII) và ra kết luận tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá
làm nền tảng tinh thần xã hội, gắn kết và đồng bộ với phát triển kinh tế là trung tâm,
xây dựng Đảng là then chốt.
Đại hội X, Đảng xác định tiếp tục phát triển sâu rộng, nâng cao chất lượng nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Gắn kết chặt chẽ hơn với phát
triển kinh tế xã hội. Làm cho văn hoá thấm sâu và mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Xây
dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam. Bảo vệ và phát huy bản
sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế
quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, sinh viên, học sinh, đặc biệt
là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá Việt Nam.
Đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, di sản
văn hoá vật thể, phi vật thể. Kết hợp hài hoà giữa bảo tồn, phát huy với kế thừa và
phát triển, giữ gìn di tích với phát triển kinh tế du lịch, tinh thần tự nguyện, tính tự
quản của nhân dân trong xây dựng văn hoá. Đa dạng hoá các hoạt động của phong
trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Xây dựng và phát triển chương
trình giáo dục văn hoá, thẩm mỹ, nếp sống văn hoá hiện đại trong nhân dân. Phát huy
tiềm năng, khuyến khích sáng tạo văn học, nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm có giá
trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Đồng thời tăng cường quản lý nhà nước về văn hoá.
Xây dựng cơ chế chính sách, chế tài ổn định. Tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác
quốc tế về văn hoá. Chống sự xâm nhập văn hoá độc hại, lai căng, phản động. Xây
dựng, nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hoá. Tạo điều kiện cho các lĩnh vực
xuất bản, thông tin đại chúng phát triển. Nâng cao chất lượng tư tưởng văn hoá, hiện
đại về mô hình, cơ cấu, cơ sở vật chất kỹ thuật. Xây dựng cơ chế quản lý khoa học,
phù hợp. Đảm bảo tự do, dân chủ cho những hoạt động sáng tạo văn hoá, văn học,
nghệ thuật. Đi đôi với phát huy trách nhiệm công dân của văn nghệ sỹ. Đổi mới nội
dung, phương thức hoạt động, cơ cấu tổ chức của các hội văn học- nghệ thuật từ
trung ương đến địa phương.

công chúng nhất là thế hệ trẻ.
Như vậy, đến Đại hội XI, các quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam theo mục tiêu tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được
khẳng định. Nhưng từ thực tiễn đời sống văn hóa của đất nước những năm qua, đặc
biệt là trong xu thế hội nhập, có sự tác động nhiều chiều của quá trình toàn cầu hóa,
của nền kinh tế thị trường…, Đảng ta đã xác định bốn đầu việc cần được cấp ủy đảng,
chính quyền các cấp và nhất là ngành văn hóa coi trọng, tập trung chỉ đạo, tổ chức
thực hiện nhằm tiếp tục xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội. Trong đó, việc xây
dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng có ý nghĩa rất quan trọng,
chi phối và gắn bó hữu cơ với ba công việc sau. Cần nhận thức đầy đủ rằng, xây dựng
môi trường văn hoá lành mạnh cũng chính là góp phần tạo ra môi trường chính trị- xã
hội ổn định, an toàn và bền vững trên cơ sở đời sống kinh tế được đảm bảo.

Quá trình xây dựng môi trường văn hóa phải chú trọng xây dựng đời sống văn hoá, vì
đó là bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá. Xây dựng đời

Trích đoạn Các quan điểm phát triển nguồn nhân lực Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status